Trung Bộ Kinh · bài 93/152
Kinh Assalāyana
Assalāyana Sutta — bài kinh về cuộc tranh luận giữa Đức Thế Tôn và thanh niên bà-la-môn Assalāyana về bốn giai cấp
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Assalāyana (Assalāyana Sutta) là bài kinh thứ 93 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Nếu đọc lần đầu, người ta dễ tưởng đây là một cuộc tranh luận trừu tượng về triết học, nhưng thật ra đó là một cuộc đối chất rất cụ thể về một chuyện ai cũng thấy hằng ngày: người ta sinh ra trong gia đình nào thì có quyền coi mình cao hơn người khác hay không. Bối cảnh là thành Sāvatthī, nơi khoảng năm trăm bà-la-môn từ các nước khác đến vì một việc nào đó. Họ nghe nói vị sa-môn Gotama chủ trương rằng bốn giai cấp đều có thể được thanh tịnh như nhau, và họ thấy điều ấy không thể chấp nhận.
Muốn hiểu cuộc tranh luận này, cần biết xã hội Ấn Độ thời ấy chia người ta thành bốn giai cấp: vua chúa và chiến binh, bà-la-môn tức giới tế lễ và học kinh, thương nhân, và nô lệ. Giới bà-la-môn tự nhận mình là hạng trên hết, và họ có sẵn một câu lý lẽ để nói ra điều ấy: chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, là giai cấp sáng, là những người được thanh tịnh; và hơn thế nữa, họ là con của Phạm Thiên, sinh ra từ miệng Phạm Thiên, là những người thừa kế của Phạm Thiên. Câu ấy không phải chuyện riêng của một người, mà là một định kiến đã ăn sâu, được truyền lại và được nhắc đi nhắc lại như một chân lý hiển nhiên.
Năm trăm bà-la-môn ấy không tự mình đi tranh luận. Họ chọn một người trẻ tuổi xuất sắc: Assalāyana, mới mười sáu tuổi, đã thuộc lòng ba bộ Vệ-đà, tinh thông ngữ pháp, giỏi cả vũ trụ luận và tướng học. Ông được coi là người có thể đối đáp lại vị sa-môn kia. Điều đáng chú ý là Assalāyana từ chối ba lần. Ông nói rằng sa-môn Gotama là người nói đúng Pháp, mà người nói đúng Pháp thì khó đối đáp, và ông không đủ sức. Mãi đến lần thứ ba, bị thúc ép và bị nhắc rằng mình đã từng sống đời du sĩ, ông mới nhận lời, nhưng nói rõ là mình đi theo lời các vị ấy chứ không phải vì tin mình sẽ thắng. Ngay từ đầu, ông đã biết cuộc tranh luận này sẽ kết thúc thế nào.
Phần lớn bài kinh là lời Đức Thế Tôn hỏi và Assalāyana trả lời. Ngài không đưa ra một học thuyết mới, mà lần lượt chỉ ra những chỗ câu chuyện về dòng máu tự nó sụp đổ. Thứ nhất, chính những người đàn bà bà-la-môn cũng có kinh nguyệt, có thai, sinh nở và cho con bú như mọi người đàn bà khác, vậy mà con của họ vẫn nói mình sinh ra từ miệng Phạm Thiên. Thứ hai, ở xứ Yona và Kamboja cùng các miền biên địa, người ta chỉ biết có hai hạng là chủ và tôi tớ, và chủ có thể trở thành tôi tớ, tôi tớ có thể trở thành chủ. Thứ ba, nếu giết hại, trộm cắp, nói dối, tham lam và có tà kiến thì cả bốn giai cấp đều đi vào cõi khổ như nhau; nếu sống ngược lại thì cả bốn giai cấp đều đi vào cõi lành như nhau. Thứ tư, tu tập tâm từ, đi tắm rửa ở sông, nhóm lửa lên, không việc nào trong đó là đặc quyền của riêng ai, vì lửa nào cũng có ngọn, có màu, có ánh sáng như lửa nào.
Hai câu chuyện sau đó mới là chỗ siết lại lập luận. Khi Đức Thế Tôn hỏi về con của một thanh niên vua chúa với một thiếu nữ bà-la-môn, Assalāyana đáp rằng đứa con ấy gọi là vua chúa cũng được, gọi là bà-la-môn cũng được. Nhưng khi được hỏi về con của một con ngựa cái với một con lừa, ông đáp ngay: nó là con la, một giống lai, không thể gọi là ngựa mà cũng không thể gọi là lừa. Chính ở chỗ ấy, ông thừa nhận mình thấy có sự khác biệt, còn ở những trường hợp trước thì không. Rồi đến hai thanh niên cùng một mẹ sinh ra: một người học kinh, một người không; một người phá giới, một người giữ giới. Assalāyana buộc phải nói rằng chính người giữ giới mới đáng được thỉnh trước, chứ không phải người thuộc lòng kinh điển mà sống ác. Đến đây thì ông đã tự mình bỏ xuất thân, bỏ học vấn, và cuối cùng quay về đúng điều Đức Thế Tôn chủ trương: thanh tịnh cho cả bốn giai cấp.
Bài kinh khép lại bằng một câu chuyện kể về thuở xưa. Bảy vị tiên nhân bà-la-môn sống trong rừng cũng đã từng tin như vậy, và một vị ẩn sĩ tên Asita Devala đã đến hỏi họ những câu không thể trả lời: các vị có biết mẹ mình chỉ giao hợp với bà-la-môn không, biết đến bảy đời hay không, và vị gandhabba sắp nhập thai là hạng người nào. Bảy vị ấy đều phải nói là không biết, và vì thế cũng không biết chính mình là ai. Đức Thế Tôn kết luận: đến bảy vị tiên nhân ấy còn không gỡ nổi khi bị hỏi về chính lý lẽ xuất thân của mình, thì Assalāyana làm sao gỡ nổi. Assalāyana nghe xong bèn xin quy y làm người cư sĩ. Với người đọc hôm nay, bài kinh vẫn còn việc để làm, vì câu hỏi của nó không hề cũ: khi ta tự hào về chỗ mình sinh ra, ta có thật biết điều mình đang tự hào hay không.
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh ghi lại việc thanh niên bà-la-môn Assalāyana đối chất với Đức Thế Tôn về vấn đề bốn giai cấp, một việc mà chính Assalāyana đã biết trước là không thể thắng. Giống những cuộc tranh luận tương tự trong Kinh Ambattha (Trường Bộ Kinh 3), bài kinh này chứa nhiều dữ kiện lịch sử.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm bà-la-môn từ nhiều nước khác nhau trú tại Sāvatthī vì một việc nào đó.
[Chú thích: Những cuộc tụ họp tương tự cũng được ghi nhận ở Campā (Chiêm-bà) trong Trường Bộ Kinh 4 và ở Opāsāda trong Trung Bộ Kinh 95.]
Rồi các bà-la-môn ấy nghĩ:
"Vị sa-môn Gotama này chủ trương thanh tịnh cho cả bốn giai cấp.
Ai có thể đối đáp với sa-môn Gotama về chuyện này?"
Lúc bấy giờ, có thanh niên tên Assalāyana trú tại Sāvatthī. Ông còn trẻ, đầu cạo trọc chỉ chừa một chỏm, mới mười sáu tuổi, đã thông suốt ba bộ Vệ-đà cùng với từ vựng và nghi lễ tế tự, với ngữ âm và phân loại từ ngữ, cùng với sử ký là bộ thứ năm. Ông thuộc lòng từng chữ và tinh thông ngữ pháp, không thiếu hiểu biết về vũ trụ luận cũng như về các tướng của bậc đại nhân.
[Chú thích: Cách mô tả này giống mô tả về các thanh niên bà-la-môn như Ambattha, nhưng chi tiết đầu cạo trọc và mười sáu tuổi chỉ có ở đây và ở Trung Bộ Kinh 95. Theo Luật Manu, lễ cắt tóc được làm cho người bà-la-môn vào năm mười sáu tuổi. Chữ vuttasira, nghĩa đen là đầu có vòng, chỉ lối cạo hết tóc chỉ chừa một chỏm, khác với chữ muṇḍaka mà người bà-la-môn dùng để chê người khác là đầu trọc.]
Rồi các bà-la-môn ấy nghĩ:
"Thanh niên Assalāyana này trú tại Sāvatthī, còn trẻ, đầu cạo trọc chỉ chừa một chỏm, mười sáu tuổi, đã thông suốt ba bộ Vệ-đà cùng với từ vựng và nghi lễ tế tự, với ngữ âm và phân loại từ ngữ, cùng với sử ký là bộ thứ năm. Ông thuộc lòng từng chữ và tinh thông ngữ pháp, không thiếu hiểu biết về vũ trụ luận cũng như về các tướng của bậc đại nhân.
Ông ấy có thể đối đáp với sa-môn Gotama về chuyện này."
[Chú thích: Có thể đồng nhất Assalāyana với Kauśalyaṣcāśvalāyana, tức Assalāyana người Kosala, người đã hỏi hiền giả Pippalāda về bản chất của prāṇa trong Praśna Upaniṣad 3. Ông có lẽ là cháu hoặc hậu duệ xa của vị Aśvala xứ Videha đã tranh luận với Yājñavalkya.]
Rồi các bà-la-môn ấy đi đến chỗ thanh niên Assalāyana; đến rồi, họ nói với thanh niên Assalāyana:
"Thưa ngài Assalāyana, vị sa-môn Gotama này chủ trương thanh tịnh cho cả bốn giai cấp.
Xin ngài Assalāyana hãy đối đáp với sa-môn Gotama về chuyện này."
Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalāyana nói với các bà-la-môn ấy:
"Thưa các ngài, quả thật sa-môn Gotama là người nói đúng Pháp.
Nhưng người nói đúng Pháp thì khó đối đáp.
Tôi không thể đối đáp với sa-môn Gotama về chuyện này."
[Chú thích: Đoạn đối thoại này mô phỏng cuộc tranh luận giữa Yājñavalkya và Aśvala trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 3.1. Các bà-la-môn ngoại quốc đã đến Videha từ Kuru và Pañcāla, những miền đất bà-la-môn cổ và có uy tín hơn. Vua Janaka treo giải thưởng một nghìn con bò với sừng bọc vàng cho vị bà-la-môn giỏi nhất, không ai dám nhận, Yājñavalkya bèn lùa bò về, và Aśvala, vị tế sư phụ trách tụng niệm của vua, đã thách ông tranh luận rồi cuối cùng phải im lặng.]
Lần thứ hai, các bà-la-môn ấy nói với thanh niên Assalāyana:
"Thưa ngài Assalāyana, vị sa-môn Gotama này chủ trương thanh tịnh cho cả bốn giai cấp.
Xin ngài Assalāyana hãy đối đáp với sa-môn Gotama về chuyện này.
Vả lại, ngài Assalāyana đã sống đời du sĩ rồi."
[Chú thích: Điều này khớp với Praśna Upaniṣad 1.2, nơi Assalāyana cùng các bạn đồng tu được yêu cầu sống thêm một năm trong nhiệt tâm, phạm hạnh và lòng tin.]
Lần thứ hai, thanh niên Assalāyana nói với các bà-la-môn ấy:
"Thưa các ngài, quả thật sa-môn Gotama là người nói đúng Pháp.
Nhưng người nói đúng Pháp thì khó đối đáp.
Tôi không thể đối đáp với sa-môn Gotama về chuyện này."
Lần thứ ba, các bà-la-môn ấy nói với thanh niên Assalāyana:
"Thưa ngài Assalāyana, vị sa-môn Gotama này chủ trương thanh tịnh cho cả bốn giai cấp.
Xin ngài Assalāyana hãy đối đáp với sa-môn Gotama về chuyện này.
Vả lại, ngài Assalāyana đã sống đời du sĩ rồi.
Xin ngài Assalāyana chớ nhận thua khi chưa giao chiến."
Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalāyana nói với các bà-la-môn ấy:
"Thưa các ngài, rõ ràng tôi nói thế nào các ngài cũng không chịu:
'Sa-môn Gotama là người nói đúng Pháp,
nhưng người nói đúng Pháp thì khó đối đáp.
Tôi không thể đối đáp với sa-môn Gotama về chuyện này.'
Nhưng dù sao tôi cũng sẽ đi theo lời các ngài."
Rồi thanh niên Assalāyana cùng với một đoàn bà-la-môn đông đảo đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, ông chào hỏi Đức Thế Tôn.
Sau khi chào hỏi và nói với nhau những lời thân thiện, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Assalāyana nói với Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn nói như vầy:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém;
[Chú thích: Câu này cũng có ở Trường Bộ Kinh 27 và Trung Bộ Kinh 84.]
chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối;
chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'
Ngài Gotama nói gì về điều ấy?"
"Nhưng này Assalāyana, người ta thấy những người đàn bà bà-la-môn có kinh nguyệt, có thai, sinh nở và cho con bú.
Thế mà họ, vốn sinh ra từ lòng mẹ bà-la-môn, lại nói rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém;
chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối;
chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'"
"Dù ngài Gotama nói như vậy, nhưng ở đây các bà-la-môn vẫn nghĩ rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'"
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
ngài có nghe nói rằng ở xứ Yona và Kamboja, cùng những miền biên địa khác, chỉ có hai giai cấp là chủ và tôi tớ; chủ trở thành tôi tớ, tôi tớ trở thành chủ không?"
[Chú thích: Yona, gốc từ Ionia, và Kamboja là những tên gọi lỏng lẻo chỉ các vùng chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp và Iran. Đây là chỗ duy nhất trong kinh điển Phật giáo sơ kỳ nhắc đến Hy Lạp, còn Kamboja nằm trong mười sáu quốc gia lớn và là quê hương của ngựa, ở phía tây Gandhāra. Sự khác biệt về chế độ nô lệ ở đây cũng khớp với lời của Megasthenes, sứ giả Hy Lạp, người viết hơn một thế kỷ sau rằng ở Ấn Độ không có nô lệ.]
"Thưa Ngài, đúng vậy, tôi có nghe như thế: 'Ở xứ Yona và Kamboja, cùng những miền biên địa khác, chỉ có hai giai cấp là chủ và tôi tớ; chủ trở thành tôi tớ, tôi tớ trở thành chủ.'"
"Vậy thì này Assalāyana, ở đây các bà-la-môn có sức mạnh gì, có chỗ dựa nào, khi họ nói rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên'?"
"Dù ngài Gotama nói như vậy, nhưng ở đây các bà-la-môn vẫn nghĩ rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'"
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
có phải chỉ một người thuộc giai cấp vua chúa, khi sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, mới sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào nơi đọa lạc, vào địa ngục; còn người bà-la-môn thì không?
Hay chỉ một người thuộc giai cấp thương nhân, khi sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, mới sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào nơi đọa lạc, vào địa ngục; còn người bà-la-môn thì không?
Hay chỉ một người thuộc giai cấp nô lệ, khi sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, mới sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào nơi đọa lạc, vào địa ngục; còn người bà-la-môn thì không?"
"Thưa Ngài, không phải vậy.
Vì này Ngài, một người thuộc giai cấp vua chúa, khi sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, tà kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, cũng sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào nơi đọa lạc, vào địa ngục.
Một người thuộc giai cấp bà-la-môn, khi sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, tà kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, cũng sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào nơi đọa lạc, vào địa ngục.
Một người thuộc giai cấp thương nhân, khi sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, tà kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, cũng sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào nơi đọa lạc, vào địa ngục.
Một người thuộc giai cấp nô lệ, khi sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, tà kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, cũng sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào nơi đọa lạc, vào địa ngục.
Vì này Ngài, cả bốn giai cấp, ai sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, tà kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, đều sinh vào cõi khổ, vào ác thú, vào nơi đọa lạc, vào địa ngục."
"Vậy thì này Assalāyana, ở đây các bà-la-môn có sức mạnh gì, có chỗ dựa nào, khi họ nói rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên'?"
"Dù ngài Gotama nói như vậy, nhưng ở đây các bà-la-môn vẫn nghĩ rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'"
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
có phải chỉ một người thuộc giai cấp bà-la-môn, khi từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, mới sinh vào cõi lành, vào cõi trời; còn người vua chúa, người thương nhân, người nô lệ thì không?"
"Thưa Ngài, không phải vậy.
Vì này Ngài, một người thuộc giai cấp vua chúa, khi từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, cũng sinh vào cõi lành, vào cõi trời.
Một người thuộc giai cấp bà-la-môn, khi từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, cũng sinh vào cõi lành, vào cõi trời.
Một người thuộc giai cấp thương nhân, khi từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, cũng sinh vào cõi lành, vào cõi trời.
Một người thuộc giai cấp nô lệ, khi từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, cũng sinh vào cõi lành, vào cõi trời.
Vì này Ngài, cả bốn giai cấp, ai từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, đều sinh vào cõi lành, vào cõi trời."
"Vậy thì này Assalāyana, ở đây các bà-la-môn có sức mạnh gì, có chỗ dựa nào, khi họ nói rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên'?"
"Dù ngài Gotama nói như vậy, nhưng ở đây các bà-la-môn vẫn nghĩ rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'"
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
có phải chỉ một người bà-la-môn mới có thể tu tập tâm từ, không thù oán, không não hại, ở cõi này; còn người vua chúa, người thương nhân, người nô lệ thì không?"
[Chú thích: Ba ví dụ tiếp theo là tu tập tâm từ, tắm rửa và nhóm lửa, đều là những việc tiêu biểu của người bà-la-môn. Tu tập tâm từ bắt nguồn từ lối quán niệm về các phẩm tính của thần linh, tắm rửa là nghi lễ rửa sạch tội, còn nhóm lửa là thờ thần Agni trên bàn thờ lửa.]
"Thưa Ngài, không phải vậy.
Vì này Ngài, một người thuộc giai cấp vua chúa cũng có thể tu tập tâm từ, không thù oán, không não hại, ở cõi này;
một người thuộc giai cấp bà-la-môn cũng có thể tu tập tâm từ, không thù oán, không não hại, ở cõi này;
một người thuộc giai cấp thương nhân cũng có thể tu tập tâm từ, không thù oán, không não hại, ở cõi này;
một người thuộc giai cấp nô lệ cũng có thể tu tập tâm từ, không thù oán, không não hại, ở cõi này;
vì này Ngài, cả bốn giai cấp đều có thể tu tập tâm từ, không thù oán, không não hại, ở cõi này."
"Vậy thì này Assalāyana, ở đây các bà-la-môn có sức mạnh gì, có chỗ dựa nào, khi họ nói rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên'?"
"Dù ngài Gotama nói như vậy, nhưng ở đây các bà-la-môn vẫn nghĩ rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'"
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
có phải chỉ một người bà-la-môn mới có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn; còn người vua chúa, người thương nhân, người nô lệ thì không?"
"Thưa Ngài, không phải vậy.
Vì này Ngài, một người thuộc giai cấp vua chúa cũng có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn; một người thuộc giai cấp bà-la-môn cũng có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn;
một người thuộc giai cấp thương nhân cũng có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn;
một người thuộc giai cấp nô lệ cũng có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn;
vì này Ngài, cả bốn giai cấp đều có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn."
"Vậy thì này Assalāyana, ở đây các bà-la-môn có sức mạnh gì, có chỗ dựa nào, khi họ nói rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên'?"
"Dù ngài Gotama nói như vậy, nhưng ở đây các bà-la-môn vẫn nghĩ rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'"
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
ở đây, một vị vua thuộc dòng dõi vua chúa, đã được làm lễ quán đỉnh, tập hợp một trăm người đàn ông thuộc đủ các dòng dõi, rồi bảo họ:
[Chú thích: Šatapatha Brāhmaṇa 11.5 kể chuyện Purūravas, vì muốn sum họp với hoàng hậu Urvaśī của mình, được các Gandharva yêu cầu nhóm một ngọn lửa đặc biệt. Ngọn lửa ấy phải được tạo ra từ thứ gỗ mọc lên từ tro của lửa trời do chính họ ban cho, với que cọ trên bằng gỗ aśvattha và que dưới bằng gỗ śamī. Trong truyền thuyết ấy, bản chất của lửa do nguồn gốc thần linh của nó quyết định, còn Đức Thế Tôn ở đây đưa ra một cách giải thích theo tự nhiên.]
'Xin mời các ngài ở đây, ai sinh ra trong gia đình vua chúa, gia đình bà-la-môn hay gia đình quý tộc, hãy lấy que cọ lửa làm bằng gỗ sāka, gỗ sāla, gỗ salaḷa, gỗ chiên đàn hay gỗ padumaka, nhóm lên ngọn lửa và làm cho hơi nóng hiện ra.
[Chú thích: Đây dường như là chỗ duy nhất trong kinh Pali nhắc đến cây padumaka, có thể là padmaka trong tiếng Phạn, mà một cách xác định có thể là loài anh đào dại của vùng Himalaya. Ở đây có cả sāka và sāla, nên sāka là gỗ teak, còn sāla là gỗ sal.]
Và xin mời các ngài ở đây, ai sinh ra trong gia đình cùng đinh, gia đình thợ săn, gia đình thợ đan tre, gia đình thợ đóng xe hay gia đình người hốt rác, hãy lấy que cọ lửa làm bằng máng ăn của chó, máng ăn của heo, máng giặt của thợ giặt hay gỗ cây thầu dầu, nhóm lên ngọn lửa và làm cho hơi nóng hiện ra.'
[Chú thích: Caṇḍāla thường được mô tả là hạng cùng đinh thấp nhất theo cách nhìn của người bà-la-môn, nhưng mọi nhóm ở đây đều được xác định bằng nghề nghiệp của mình, và một số nhóm như người hốt rác cũng bị coi là không thể chạm tới. Chú giải Pali đồng nhất caṇḍāla với chavaka, tức người lo việc chôn cất, nổi tiếng với lễ rửa xương. Theo Mahāvaṁsa, vua Paṇḍukābhaya dùng caṇḍāla để quét đường, dọn nhà vệ sinh, khiêng người chết và trông coi nghĩa địa, với làng của họ nằm sát nghĩa địa.]
Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
có phải chỉ ngọn lửa do những người sinh ra trong gia đình vua chúa, gia đình bà-la-môn hay gia đình quý tộc nhóm lên bằng que cọ lửa làm bằng gỗ sāka, gỗ sāla, gỗ salaḷa, gỗ chiên đàn hay gỗ padumaka mới có ngọn, có màu, có ánh sáng, và dùng được như một ngọn lửa;
còn ngọn lửa do những người sinh ra trong gia đình cùng đinh, gia đình thợ săn, gia đình thợ đan tre, gia đình thợ đóng xe hay gia đình người hốt rác nhóm lên bằng que cọ lửa làm bằng máng ăn của chó, máng ăn của heo, máng giặt của thợ giặt hay gỗ cây thầu dầu thì lại không có ngọn, không có màu, không có ánh sáng, và không dùng được như một ngọn lửa?"
"Thưa Ngài, không phải vậy.
Ngọn lửa do những người sinh ra trong gia đình vua chúa, gia đình bà-la-môn hay gia đình quý tộc nhóm lên bằng que cọ lửa làm bằng gỗ sāka, gỗ sāla, gỗ salaḷa, gỗ chiên đàn hay gỗ padumaka thì có ngọn, có màu, có ánh sáng, và dùng được như một ngọn lửa;
ngọn lửa do những người sinh ra trong gia đình cùng đinh, gia đình thợ săn, gia đình thợ đan tre, gia đình thợ đóng xe hay gia đình người hốt rác nhóm lên bằng que cọ lửa làm bằng máng ăn của chó, máng ăn của heo, máng giặt của thợ giặt hay gỗ cây thầu dầu cũng có ngọn, có màu, có ánh sáng, và cũng dùng được như một ngọn lửa.
Vì này Ngài, ngọn lửa nào cũng có ngọn, có màu, có ánh sáng, và đều dùng được như một ngọn lửa."
[Chú thích: Một lập luận tương tự cũng được nêu về thức ở đoạn 11.5 của bài kinh này.]
"Vậy thì này Assalāyana, ở đây các bà-la-môn có sức mạnh gì, có chỗ dựa nào, khi họ nói rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém;
chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối;
chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên'?"
"Dù ngài Gotama nói như vậy, nhưng ở đây các bà-la-môn vẫn nghĩ rằng:
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'"
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
[Chú thích: Vấn đề con cái sinh ra giữa các giai cấp thường được giải thích theo giả định rằng người cha cung cấp hạt giống còn người mẹ chỉ ấp ủ. Kauṭilya lại ghi nhiều ý kiến khác nhau về điểm này trong Arthaśāstra 3.7.1–3.]
ở đây, nếu một thanh niên vua chúa chung sống như vợ chồng với một thiếu nữ bà-la-môn, và do sự chung sống ấy họ sinh được một người con trai;
[Chú thích: Vì người bà-la-môn tự nhận giai cấp mình là cao nhất, cuộc hôn phối như vậy bị coi là pratiloma, tức trái với trật tự tự nhiên. Theo Arthaśāstra và Luật Manu, đứa con ấy thuộc loại sūta, và nghề sống của họ là đánh xe.]
đứa con do thanh niên vua chúa và thiếu nữ bà-la-môn sinh ra ấy, nó giống mẹ hay giống cha, nên gọi là vua chúa hay nên gọi là bà-la-môn?"
"Thưa Ngài, đứa con do thanh niên vua chúa và thiếu nữ bà-la-môn sinh ra ấy giống mẹ cũng được, giống cha cũng được, gọi là vua chúa cũng được, gọi là bà-la-môn cũng được."
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
ở đây, nếu một thanh niên bà-la-môn chung sống như vợ chồng với một thiếu nữ vua chúa, và do sự chung sống ấy họ sinh được một người con trai;
[Chú thích: Baudhāyana Dharmasūtra 1.9.17 nói con của cha bà-la-môn và mẹ vua chúa là bà-la-môn. Luật Manu 10.6 cũng nhận như vậy, nhưng vì khiếm khuyết nơi người mẹ nên đứa con ấy chỉ được coi là giống bà-la-môn.]
đứa con do thanh niên bà-la-môn và thiếu nữ vua chúa sinh ra ấy, nó giống mẹ hay giống cha, nên gọi là vua chúa hay nên gọi là bà-la-môn?"
"Thưa Ngài, đứa con do thanh niên bà-la-môn và thiếu nữ vua chúa sinh ra ấy giống mẹ cũng được, giống cha cũng được, gọi là vua chúa cũng được, gọi là bà-la-môn cũng được."
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
ở đây, nếu người ta cho một con ngựa cái phối giống với một con lừa, và do sự phối giống ấy sinh ra một con la;
con la do ngựa cái và lừa sinh ra ấy, nó giống mẹ hay giống cha, nên gọi là ngựa hay nên gọi là lừa?"
"Thưa Ngài, vì nó là con la, một giống lai."
"Ở chỗ này thì tôi thấy có sự khác biệt,
còn ở những trường hợp trước thì tôi không thấy khác biệt gì."
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
ở đây, giả sử có hai thanh niên là anh em cùng một mẹ sinh ra, một người đã học và thuộc kinh, một người không học và không thuộc kinh.
[Chú thích: Chữ sodariya, nghĩa là cùng một bụng mẹ, chỉ xuất hiện một lần trong kinh Pali sơ kỳ. Thí nghiệm tưởng tượng này đi trước cách nghiên cứu cặp sinh đôi ngày nay, vốn nhằm loại bỏ các biến số trong quá trình phát triển.]
Trong trường hợp ấy, các bà-la-môn sẽ thỉnh ai dùng bữa trước — trong lễ cúng tổ tiên, trong lễ dâng cơm sữa, trong tế lễ, hay trong bữa đãi khách?"
"Thưa Ngài, thanh niên nào đã học và thuộc kinh, các bà-la-môn sẽ thỉnh người ấy dùng bữa trước — trong lễ cúng tổ tiên, trong lễ dâng cơm sữa, trong tế lễ, hay trong bữa đãi khách.
Vì này Ngài, bố thí cho người không học, không thuộc kinh thì làm sao có quả lớn?"
"Ngài nghĩ sao, Assalāyana,
ở đây, giả sử có hai thanh niên là anh em cùng một mẹ sinh ra, một người đã học và thuộc kinh nhưng phá giới, có ác pháp; một người không học, không thuộc kinh nhưng giữ giới, có thiện pháp.
Trong trường hợp ấy, các bà-la-môn sẽ thỉnh ai dùng bữa trước — trong lễ cúng tổ tiên, trong lễ dâng cơm sữa, trong tế lễ, hay trong bữa đãi khách?"
"Thưa Ngài, thanh niên nào không học, không thuộc kinh nhưng giữ giới, có thiện pháp, các bà-la-môn sẽ thỉnh người ấy dùng bữa trước — trong lễ cúng tổ tiên, trong lễ dâng cơm sữa, trong tế lễ, hay trong bữa đãi khách.
Vì này Ngài, bố thí cho người phá giới, có ác pháp thì làm sao có quả lớn?"
"Trước hết, này Assalāyana, ông đã dựa vào xuất thân;
dựa vào xuất thân rồi, ông chuyển sang kinh điển;
dựa vào kinh điển rồi, ông chuyển sang hạnh khổ hạnh;
[Chú thích: Chữ tape, tức hạnh nhiệt khổ, ở đây đứng thay cho giới hạnh, nên được dịch là hạnh khổ hạnh. Một số bản chép tay bỏ chữ này, nhưng theo mạch nghĩa thì phải có.]
dựa vào hạnh khổ hạnh rồi, ông lại quay về chỗ thanh tịnh cho cả bốn giai cấp, đúng như điều ta chủ trương."
Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalāyana ngồi im, bối rối, vai sụp xuống, cúi gầm mặt, suy nghĩ, không nói được lời nào.
Rồi Đức Thế Tôn, sau khi biết thanh niên Assalāyana đang ngồi im, bối rối, vai sụp xuống, cúi gầm mặt, suy nghĩ, không nói được lời nào, bèn nói với thanh niên Assalāyana:
Thuở xưa, này Assalāyana, bảy vị tiên nhân bà-la-môn sống trong những chòi lá ở một khu rừng vắng, và khi họ ngồi bàn bạc với nhau, một kiến giải xấu ác như vầy đã khởi lên:
[Chú thích: Bảy vị tiên nhân bà-la-môn, tiếng Phạn là saptarṣi, là những hiền giả nổi tiếng mà các dòng dõi Vệ-đà được gán cho. Như kết luận của bài kinh sẽ cho thấy, họ được đưa vào đây để chứng minh rằng lối ngụy biện về dòng máu đã có từ thuở ban đầu. Lối sống trong rừng vắng như vậy cũng được mô tả ở Trung Bộ Kinh 25, Trường Bộ Kinh 3 và Trường Bộ Kinh 27.]
'Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém.
Chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối. Chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn.
[Chú thích: Mahābhārata 12.181.5 nói bà-la-môn là giai cấp trắng, vua chúa là đỏ, thương nhân là vàng, nô lệ là đen.]
Chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'
Vị tiên nhân Asita Devala (A-tư-đà Đề-bà-la) nghe được chuyện ấy.
[Chú thích: Asita Devala có lẽ là vị hiền giả huyền thoại được biết với tên Asita, hoặc Devala con của Kāśyapa, người soạn Rig Veda 9.5–24, dù hai vị dường như chỉ chung một cái tên. Ông là một mẫu hình ẩn sĩ da sẫm, nổi lên ngay trong truyền thống bà-la-môn để lật lại truyền thống ấy từ bên trong, nhờ một năng lực khác thường và bí ẩn. Những cuộc gặp như thế cho thấy sự cọ xát giữa nghi lễ Vệ-đà và các nhà quán tưởng bản địa đã thách thức và nâng cao cả hai truyền thống.]
'Nghe nói bảy vị tiên nhân bà-la-môn, khi sống trong những chòi lá ở một khu rừng vắng và ngồi bàn bạc với nhau, đã khởi lên một kiến giải xấu ác như vầy:
Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém; chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối; chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'
Rồi này Assalāyana, vị tiên nhân Asita Devala chải chuốt tóc và râu, mặc áo màu đỏ thắm, mang dép có lót, cầm gậy bằng vàng, và hiện ra ở sân trước của bảy vị tiên nhân bà-la-môn.
[Chú thích: Cách hành xử này là bất kính, giống Vepacitti và khác với Sakka trong Tương Ưng Bộ Kinh 11.9. Nhưng bối cảnh ở đây khác, vì ở đó các vị tiên nhân có giới hạnh và đáng được kính trọng, còn ở đây họ đang nắm giữ tà kiến.]
Rồi này Assalāyana, vị tiên nhân Asita Devala vừa đi kinh hành trong sân trước của bảy vị tiên nhân bà-la-môn vừa nói như vầy:
'Các vị tiên nhân bà-la-môn ấy đã đi đâu mất rồi, hỡi các ngài?
Các vị tiên nhân bà-la-môn ấy đã đi đâu mất rồi, hỡi các ngài?'
Rồi này Assalāyana, bảy vị tiên nhân bà-la-môn nghĩ rằng:
'Kẻ nào đây, trông như một gã nhà quê, lại đi kinh hành trong sân trước của bảy vị tiên nhân bà-la-môn và nói rằng:
Các vị tiên nhân bà-la-môn ấy đã đi đâu mất rồi, hỡi các ngài?
Các vị tiên nhân bà-la-môn ấy đã đi đâu mất rồi, hỡi các ngài?
Nào, chúng ta hãy nguyền rủa nó.'
Rồi này Assalāyana, bảy vị tiên nhân bà-la-môn nguyền rủa vị tiên nhân Asita Devala:
'Hãy thành tro đi, kẻ hạ tiện!
[Chú thích: Xem Śatapatha Brāhmaṇa 6.6.3.10.]
Hãy thành tro đi, kẻ hạ tiện!'
Nhưng này Assalāyana, bảy vị tiên nhân bà-la-môn càng nguyền rủa vị tiên nhân Asita Devala bao nhiêu thì vị tiên nhân Asita Devala lại càng đẹp đẽ hơn, càng dễ nhìn hơn, càng khả ái hơn bấy nhiêu.
[Chú thích: So sánh Tương Ưng Bộ Kinh 11.22.]
Rồi này Assalāyana, bảy vị tiên nhân bà-la-môn nghĩ rằng:
'Thật vậy, hạnh khổ hạnh của chúng ta là uổng công, đời phạm hạnh của chúng ta là không có quả.
Xưa nay, khi chúng ta nguyền rủa ai:
Hãy thành tro đi, kẻ hạ tiện!
thì kẻ ấy thành tro ngay.
Nhưng kẻ này, chúng ta càng nguyền rủa bao nhiêu thì nó lại càng đẹp đẽ hơn, càng dễ nhìn hơn, càng khả ái hơn bấy nhiêu.'
'Thưa các ngài, hạnh khổ hạnh của các ngài không uổng công, đời phạm hạnh của các ngài không phải không có quả.
Xin các ngài hãy từ bỏ ác ý trong tâm đối với tôi.'
'Chúng tôi từ bỏ ác ý trong tâm đối với ngài.
Nhưng ngài là ai vậy?'
'Các ngài có nghe nói đến
vị tiên nhân Asita Devala chưa?'
'Thưa Ngài, đúng vậy.'
'Thưa các ngài, chính tôi là người ấy.'
Rồi này Assalāyana, bảy vị tiên nhân bà-la-môn bắt đầu đảnh lễ vị tiên nhân Asita Devala.
Rồi này Assalāyana, vị tiên nhân Asita Devala nói với bảy vị tiên nhân bà-la-môn:
'Thưa các ngài, tôi có nghe nói rằng bảy vị tiên nhân bà-la-môn, khi sống trong những chòi lá ở một khu rừng vắng và ngồi bàn bạc với nhau, đã khởi lên một kiến giải xấu ác như vầy:
[Chú thích: Đoạn này cho thấy giai cấp không chỉ bị Phật giáo phê phán, mà còn bị tranh cãi ngay trong giới bà-la-môn. Chẳng hạn Yudhiṣṭhira nói rằng người ta không cao quý vì dòng dõi, vì học vấn hay vì hiểu biết, mà chỉ vì hạnh kiểm, trong Mahābhārata 3.297.61.]
Chỉ bà-la-môn là giai cấp cao nhất, các giai cấp khác là thấp kém;
chỉ bà-la-môn là giai cấp sáng, các giai cấp khác là tối;
chỉ bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải bà-la-môn;
chỉ bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh từ ngực Ngài, sinh từ miệng Ngài, do Phạm Thiên sinh ra, do Phạm Thiên tạo ra, là những người thừa kế của Phạm Thiên.'
'Thưa Ngài, đúng vậy.'
'Nhưng thưa các ngài, các ngài có biết
người mẹ đã sinh ra các ngài có phải chỉ giao hợp với bà-la-môn, chứ không giao hợp với người không phải bà-la-môn hay không?'
'Thưa Ngài, chúng tôi không biết.'
'Nhưng thưa các ngài, các ngài có biết
mẹ của người mẹ đã sinh ra các ngài, cho đến bảy đời mẹ và bà mẹ, có phải chỉ giao hợp với bà-la-môn, chứ không giao hợp với người không phải bà-la-môn hay không?'
'Thưa Ngài, chúng tôi không biết.'
'Nhưng thưa các ngài, các ngài có biết
người cha đã sinh ra các ngài có phải chỉ giao hợp với nữ bà-la-môn, chứ không giao hợp với người không phải bà-la-môn hay không?'
'Thưa Ngài, chúng tôi không biết.'
'Nhưng thưa các ngài, các ngài có biết
cha của người cha đã sinh ra các ngài, cho đến bảy đời cha và ông cha, có phải chỉ giao hợp với nữ bà-la-môn, chứ không giao hợp với người không phải bà-la-môn hay không?'
'Thưa Ngài, chúng tôi không biết.'
'Nhưng thưa các ngài, các ngài có biết
thai nhi nhập vào bào thai như thế nào không?'
'Thưa Ngài, chúng tôi biết.
Chúng tôi biết thai nhi nhập vào bào thai như thế nào.
Ở đây, cha và mẹ cùng đến với nhau, người mẹ đang trong kỳ có thể thụ thai, và một gandhabba đã có mặt; do ba thứ ấy tụ họp lại, thai nhi nhập vào bào thai.'
[Chú thích: Gandhabba, thường được dịch là nhạc thần, ở đây theo chú giải là chúng sinh sắp tái sinh, đại diện cho yếu tố dục tính của người nam trong việc sinh sản. Trong các văn bản bà-la-môn, vị này được cầu xin hãy rời khỏi người đàn bà để người chồng có thể sinh con, còn ở đây ông ta đã sẵn sàng cho sự thụ thai, nghĩa là một chúng sinh bị nghiệp dẫn đến chỗ ấy để được sinh ra.]
'Nhưng thưa các ngài, các ngài có biết
chắc chắn gandhabba ấy là vua chúa, là bà-la-môn, là thương nhân, hay là nô lệ không?'
[Chú thích: Chāndogya Upaniṣad 5.10.3–7 trình bày con đường của những người cha sau khi chết: họ đi đến mặt trăng, trở lại thành mưa, mọc lên thành cây, bị ăn, rồi cuối cùng được thải ra thành tinh dịch, và chính điều ấy quyết định giai cấp của đứa con. Nhưng đoạn này cho thấy học thuyết ấy, dù có vẻ thuyết phục, không đủ để trấn an nỗi lo của người nam về huyết thống.]
'Thưa Ngài, chúng tôi không biết
chắc chắn gandhabba ấy là vua chúa, là bà-la-môn, là thương nhân, hay là nô lệ.'
'Nếu vậy thì, thưa các ngài, các ngài có biết
các ngài là ai không?'
'Nếu vậy thì, thưa Ngài, chúng tôi không biết
chúng tôi là ai.'
Này Assalāyana, chính bảy vị tiên nhân bà-la-môn ấy, khi bị vị tiên nhân Asita Devala truy vấn, gạn hỏi và chất vấn về chính lý lẽ xuất thân của mình, mà còn không gỡ nổi;
[Chú thích: Cách đặt câu này theo đúng khuôn của Tăng Chi Bộ Kinh 6.18 và Luật tạng Kd 16, nơi chữ te hi nāma mở ra một đoạn nói về việc trong quá khứ nhưng kết quả lại được diễn tả ở thì tương lai, theo cách nhìn từ quá khứ ấy.]
thì nay ông đang bị ta truy vấn, gạn hỏi và chất vấn về chính lý lẽ xuất thân của mình, làm sao ông gỡ nổi, khi mà ông cùng các vị thầy của mình còn chưa được một thìa đầy?
[Chú thích: Puṇṇo dabbigāho là một chi tiết rất cụ thể của lễ Sākamedha, đánh dấu đầu mùa đông: từ lễ dâng cơm ngày đầu, người ta để riêng một nồi đến sáng hôm sau và vét lấy chiếc thìa đầy cuối cùng, với lời khấn xin thìa đầy bay đi rồi bay về đầy ắp. Việc ấy bảo đảm sự sung túc hiện tại sẽ được nối tiếp sau mùa lạnh cằn cỗi, cũng như sự sống được nối tiếp sau cái chết. Hàm ý là những người bà-la-môn đương thời còn không làm tròn nghi lễ nối tiếp của chính truyền thống mình, thì làm sao họ khẳng định được sự nối tiếp của giai cấp qua các đời.]
Khi Ngài nói như vậy, thanh niên Assalāyana nói với Đức Thế Tôn:
"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời! Ví như có người dựng lại vật bị lật ngửa, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, ngài Gotama đã dùng nhiều cách để làm sáng tỏ Pháp.
Từ hôm nay, xin ngài Gotama nhận tôi làm người cư sĩ, đã đi đến nơi nương tựa cho đến trọn đời."
Kinh Assalāyana, bài thứ ba, đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.