buppou

Trung Bộ Kinh · bài 43/152

Đại Kinh Phương Quảng

Mahāvedalla Sutta — bài kinh bàn rộng, mở rộng và phân tích sâu các pháp

26 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đại Kinh Phương Quảng (Mahāvedalla Sutta) là bài kinh thứ 43 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Tên bài, vedalla, chỉ một loại kinh chuyên mở rộng và phân tích sâu các giáo lý nền; chữ Sanskrit tương ứng là vaipulya, "sự mở rộng", cũng chính là chữ được dịch thành "Phương Quảng". Bài này và bài kế tiếp, Tiểu Kinh Phương Quảng, là hai bài duy nhất trong bộ kinh mang nhãn ấy.

Bài kinh không có chuyện kể, cũng không có phép lạ. Bối cảnh chỉ là một buổi chiều ở Sāvatthī: Tôn giả Mahākoṭṭhita vừa ra khỏi chỗ tĩnh cư, đi sang chỗ Tôn giả Sāriputta, chào hỏi rồi ngồi xuống một bên. Từ đó đến cuối bài, Mahākoṭṭhita hỏi và Sāriputta trả lời. Mỗi câu trả lời lại mở ra một câu hỏi khác, và cứ thế cho đến khi hai vị đi hết một vòng lớn những vấn đề của tâm và của thiền định.

Nội dung chia được làm ba chặng. Chặng đầu bàn về những thứ gần gũi nhất: thế nào là người thiếu tuệ và người có tuệ, thức là gì, cảm thọ là gì, tưởng là gì, và tuệ khác thức ở chỗ nào. Chặng giữa đi vào thân và đời sống: năm căn, thọ mạng, hơi ấm, cái chết, và trạng thái nhập định sâu đến mức trông như đã chết. Chặng cuối bàn về các tầng thiền-na và bốn tâm giải thoát — vô lượng, vô sở hữu, không, vô tướng — rồi hỏi chúng khác nhau hay giống nhau.

Điều làm bài kinh đáng đọc là nó không bằng lòng với định nghĩa. Khi Sāriputta nói tuệ và thức hòa lẫn, không thể tách rời, Mahākoṭṭhita hỏi ngay: vậy khác nhau ở đâu? Câu trả lời ngắn — tuệ thì phải tu tập, thức thì phải hiểu trọn vẹn — là một trong những câu cô đọng nhất trong bộ kinh. Cùng lối ấy, bốn tâm giải thoát thoạt nghe như bốn tên gọi của một trạng thái, nhưng bài kinh chỉ ra cả chỗ chúng khác nhau lẫn chỗ chúng đồng nghĩa, và cách chúng gắn với tham, sân, si.

Với người mới, bài này hơi khó vì các khái niệm nối nhau khá nhanh; nhưng nó cũng cho thấy người ta học Pháp bằng cách hỏi nhau những câu rất cụ thể, và không ngại nói mình chưa hiểu. Bản dịch chia đoạn theo từng segment của SuttaCentral, nên có thể đối chiếu với bản Pali hoặc bản tiếng Anh ở bất cứ dòng nào; những chỗ Pali viết tắt đều được viết ra đầy đủ, và chú thích của người dịch được đánh dấu rõ.


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này và bài kế tiếp mang tên của một loại kinh gọi là vedalla, và là hai bài duy nhất được ghi nhãn ấy; nghĩa gốc là "tách ra", như một bông hoa nở. Các bài này không chỉ phân loại mà còn mở rộng những giáo lý nền — chữ Sanskrit tương ứng là vaipulya, "sự mở rộng", cũng chính là chữ được dịch thành "Phương Quảng". Chúng có chung một cách làm: một chuỗi hỏi đáp được sắp đặt kỹ lưỡng, không nói trước mục đích, nhưng cứ thế dẫn tới việc làm sáng tỏ những tầng định sâu nhất xuất hiện nơi Niết-bàn.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi vào lúc xế chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhita (Ma-ha Câu-hi-la) vừa ra khỏi chỗ tĩnh cư, bèn đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất); đến rồi, hai vị chào hỏi nhau thân thiện.

[Chú thích: Mahākoṭṭhita là một trong các đại đệ tử, và nhiều cuộc đàm thoại của ông với Sāriputta được ghi lại. Ông được nói là đệ nhất về phương pháp phân tích văn bản, tiêu biểu là những cuộc thảo luận như bài này; kệ của ông nằm trong Trưởng Lão Kệ 1.2.]

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và những câu chuyện xã giao, Mahākoṭṭhita ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:

"Thưa hiền giả, người ta nói 'kẻ thiếu tuệ', 'kẻ thiếu tuệ'.

Dựa vào đâu, thưa hiền giả, mà người ta nói là kẻ thiếu tuệ?"

"Này hiền giả, chính vì 'không hiểu biết, không hiểu biết' nên người ta nói là kẻ thiếu tuệ.

Không hiểu biết những gì?

Không hiểu biết: 'Đây là khổ'; không hiểu biết: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; không hiểu biết: 'Đây là sự chấm dứt khổ'; không hiểu biết: 'Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ'.

Này hiền giả, chính vì 'không hiểu biết, không hiểu biết' nên người ta nói là kẻ thiếu tuệ."

"Lành thay, thưa hiền giả," Tôn giả Mahākoṭṭhita hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta nói, rồi hỏi thêm một câu nữa:

"Thưa hiền giả, người ta nói 'người có tuệ', 'người có tuệ'.

Dựa vào đâu, thưa hiền giả, mà người ta nói là người có tuệ?"

"Này hiền giả, chính vì 'hiểu biết, hiểu biết' nên người ta nói là người có tuệ.

Hiểu biết những gì?

Hiểu biết: 'Đây là khổ'; hiểu biết: 'Đây là nguồn gốc của khổ'; hiểu biết: 'Đây là sự chấm dứt khổ'; hiểu biết: 'Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ'.

Này hiền giả, chính vì 'hiểu biết, hiểu biết' nên người ta nói là người có tuệ."

"Thưa hiền giả, người ta nói 'thức', 'thức'.

Dựa vào đâu, thưa hiền giả, mà người ta nói là thức?"

"Này hiền giả, chính vì 'nhận biết, nhận biết' nên người ta nói là thức.

[Chú thích: Khi định nghĩa một danh từ bằng động từ của nó, Sāriputta cho thấy thức không phải một thực thể mà là một chức năng: thức chính là hành vi nhận biết. Cách định nghĩa tương tự cũng được dùng cho cảm thọ và tưởng.]

Nhận biết những gì?

Nhận biết 'lạc', nhận biết 'khổ', nhận biết 'không khổ không lạc'.

[Chú thích: Định nghĩa này hơi khác định nghĩa về cảm thọ ở dưới: tiểu từ -ti sau động từ tạo một khoảng cách giữa cái nhận biết và điều được nhận biết. Bản Hán và bản Tây Tạng tương ứng định nghĩa thức theo cách thông thường hơn, là nhận biết các hiện tượng của giác quan. Định nghĩa trong Tương Ưng 22.79 cũng khác, vì ở đó bối cảnh là kinh nghiệm trong vòng tái sinh, chứ không phải sự phát triển của thiền định.]

Này hiền giả, chính vì 'nhận biết, nhận biết' nên người ta nói là thức."

"Thưa hiền giả, tuệ và thức —

hai pháp này hòa lẫn với nhau hay tách rời nhau?

Và có thể bóc tách hoàn toàn chúng ra để chỉ rõ sự khác biệt giữa chúng hay không?"

[Chú thích: Vinibbhujati, "bóc tách", được dùng cho việc mổ xẻ một tử thi hay việc bóc từng bẹ của một thân chuối cuộn lại.]

"Thưa hiền giả, tuệ và thức —

[Chú thích: Tuệ và thức là hai trong rất nhiều thuật ngữ bắt nguồn từ gốc ñā, "biết". Các tiền tố có tác dụng tăng cường nghĩa chứ không phân biệt dứt khoát, nên trong ngữ cảnh giáo lý chúng được dùng nhất quán, còn khi nói thoáng hơn thì có thể hoán đổi cho nhau.]

hai pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời nhau.

Và không thể bóc tách hoàn toàn chúng ra để chỉ rõ sự khác biệt giữa chúng.

Này hiền giả, vì hễ hiểu biết được gì thì nhận biết được cái ấy, hễ nhận biết được gì thì hiểu biết được cái ấy.

Vì vậy, hai pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời nhau.

Và không thể bóc tách hoàn toàn chúng ra để chỉ rõ sự khác biệt giữa chúng."

[Chú thích: Cuộc đối thoại này cảnh báo đừng đẩy phân tích đi quá xa.]

"Thưa hiền giả, tuệ và thức —

hai pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời nhau — vậy sự khác biệt giữa chúng là gì?"

"Thưa hiền giả, tuệ và thức —

hai pháp này hòa lẫn, không tách rời nhau; trong hai pháp ấy, tuệ phải được tu tập, còn thức phải được hiểu trọn vẹn.

[Chú thích: Điều này nhắc tới sự phân biệt nền tảng trong bài kinh đầu tiên: cái cần tu tập, tức tuệ, thuộc về sự thật cao quý thứ tư, còn cái cần hiểu trọn vẹn, tức thức, thuộc về sự thật cao quý thứ nhất. Ở đây sự phân biệt là về chức năng, không phải về bản thể.]

Đó là sự khác biệt giữa chúng."

"Thưa hiền giả, người ta nói 'cảm thọ', 'cảm thọ'.

Dựa vào đâu, thưa hiền giả, mà người ta nói là cảm thọ?"

"Này hiền giả, chính vì 'cảm nhận, cảm nhận' nên người ta nói là cảm thọ.

Cảm nhận những gì?

Cảm nhận lạc, cảm nhận khổ, cảm nhận không khổ không lạc.

[Chú thích: Định nghĩa này giống định nghĩa về thức, chỉ khác là không có tiểu từ -ti tạo khoảng cách. Cảm thọ là kinh nghiệm, còn thức là cái nhận biết kinh nghiệm ấy. Mạch văn tinh tế hơn vẻ ngoài: câu hỏi về cảm thọ và thức bắt đầu đặt nền cho những tầng định sâu sẽ bàn ở phần sau.]

Này hiền giả, chính vì 'cảm nhận, cảm nhận' nên người ta nói là cảm thọ."

"Thưa hiền giả, người ta nói 'tưởng', 'tưởng'.

Dựa vào đâu, thưa hiền giả, mà người ta nói là tưởng?"

"Này hiền giả, chính vì 'tưởng nhận, tưởng nhận' nên người ta nói là tưởng.

Tưởng nhận những gì?

Tưởng nhận xanh, tưởng nhận vàng, tưởng nhận đỏ, tưởng nhận trắng.

[Chú thích: Sắc màu là một khía cạnh nhận biết tinh tế hơn và ít phổ quát hơn cảm thọ, phản ánh việc tưởng gắn với các chức năng bậc cao như nhận ra và diễn giải, tức là góp phần tạo nên khái niệm. Việc tưởng nhận ánh sáng và màu sắc thường gắn với sự phát triển bốn tầng thiền-na có sắc, nên đây là bước chuẩn bị cho chỗ chuyển sang các tầng vô sắc ở dưới.]

Này hiền giả, chính vì 'tưởng nhận, tưởng nhận' nên người ta nói là tưởng."

Thưa hiền giả, cảm thọ, tưởng và thức —


"ba pháp này hòa lẫn với nhau hay tách rời nhau?

Và có thể bóc tách hoàn toàn chúng ra để chỉ rõ sự khác biệt giữa chúng hay không?"

"Thưa hiền giả, cảm thọ, tưởng và thức —

ba pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời nhau.

Và không thể bóc tách hoàn toàn chúng ra để chỉ rõ sự khác biệt giữa chúng.

Này hiền giả, vì hễ cảm nhận được gì thì tưởng nhận được cái ấy, hễ tưởng nhận được gì thì nhận biết được cái ấy.

Vì vậy, ba pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời nhau.

Và không thể bóc tách hoàn toàn chúng ra để chỉ rõ sự khác biệt giữa chúng."

"Thưa hiền giả, với ý thức đã thoát khỏi năm căn và đã thanh tịnh, thì có thể biết được gì?"

[Chú thích: Thuật ngữ then chốt ở đây là "thanh tịnh", chỉ tầng thiền-na thứ tư.]

"Thưa hiền giả, với ý thức đã thoát khỏi năm căn và đã thanh tịnh, có thể biết 'hư không là vô biên', tức xứ Không vô biên; có thể biết 'thức là vô biên', tức xứ Thức vô biên; có thể biết 'không có gì cả', tức xứ Vô sở hữu."

"Thưa hiền giả, vậy người ta hiểu biết pháp cần biết bằng gì?"

"Này hiền giả, người ta hiểu biết pháp cần biết bằng con mắt tuệ."

[Chú thích: Nói cách khác, là qua kinh nghiệm của chính mình, chứ không phải qua kinh điển hay truyền thống.]

"Thưa hiền giả, vậy tuệ có mục đích gì?"

"Này hiền giả, tuệ có mục đích là hiểu biết trực tiếp, hiểu trọn vẹn và đoạn trừ."

[Chú thích: Tuệ được giải thích bằng chức năng, qua kết quả mà nó tạo ra.]

"Thưa hiền giả, có bao nhiêu duyên cho sự sinh khởi của chánh kiến?"

[Chú thích: Tức là để chứng quả Dự lưu.]

"Này hiền giả, có hai duyên cho sự sinh khởi của chánh kiến:

tiếng nói của người khác và sự chú tâm đúng cách.

[Chú thích: "Tiếng nói của người khác" là những lời dạy Pháp, nhưng những lời ấy phải được thực sự tìm hiểu và áp dụng vào bên trong.]

Này hiền giả, đó là hai duyên cho sự sinh khởi của chánh kiến."

"Thưa hiền giả, khi chánh kiến được bao nhiêu chi nâng đỡ thì có quả và lợi ích là tâm giải thoát, có quả và lợi ích là tuệ giải thoát?"

[Chú thích: Tức là một vị Dự lưu tu tiếp lên quả A-la-hán như thế nào.]

"Này hiền giả, khi chánh kiến được năm chi nâng đỡ thì có quả và lợi ích là tâm giải thoát, có quả và lợi ích là tuệ giải thoát.

Này hiền giả, ở đây chánh kiến được giới nâng đỡ, được học hỏi nâng đỡ, được thảo luận nâng đỡ, được thiền chỉ nâng đỡ, được thiền quán nâng đỡ.

Này hiền giả, khi chánh kiến được năm chi này nâng đỡ thì có quả và lợi ích là tâm giải thoát, có quả và lợi ích là tuệ giải thoát."

"Thưa hiền giả, có bao nhiêu dạng tồn tại?"

"Này hiền giả, có ba dạng tồn tại:

[Chú thích: Ba câu hỏi này tóm tắt giáo lý duyên khởi.]

tồn tại trong cõi dục, tồn tại trong cõi sắc, tồn tại trong cõi vô sắc."

"Thưa hiền giả, vậy sự sinh ra một dạng tồn tại mới trong tương lai là thế nào?"

"Này hiền giả, chính vì chúng sinh bị vô minh che khuất, bị tham ái trói buộc, lại thích thú chỗ này chỗ kia —

[Chú thích: "Bị vô minh che khuất" gợi tới liên hệ giữa nīvaraṇa, thường dịch là "triền cái", và con rắn vũ trụ Vṛtra, kẻ siết chặt đã bọc thế giới trong bóng tối.]

nên mới có sự sinh ra một dạng tồn tại mới trong tương lai."

"Thưa hiền giả, vậy sự không sinh ra một dạng tồn tại mới trong tương lai là thế nào?"

"Này hiền giả, khi vô minh lìa xa, minh khởi lên, tham ái chấm dứt —

thì không có sự sinh ra một dạng tồn tại mới trong tương lai."

"Thưa hiền giả, vậy tầng thiền-na thứ nhất là gì?"

"Này hiền giả, ở đây một tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh ra —

này hiền giả, đây gọi là tầng thiền-na thứ nhất."

"Thưa hiền giả, tầng thiền-na thứ nhất có bao nhiêu chi?"

"Này hiền giả, tầng thiền-na thứ nhất có năm chi.

Này hiền giả, khi một tỳ-kheo đã chứng tầng thiền-na thứ nhất, thì tầm đang có mặt, tứ đang có mặt, hỷ đang có mặt, lạc đang có mặt và nhất tâm đang có mặt.

[Chú thích: Năm yếu tố này của tầng thiền-na thứ nhất có trong các bài kinh, và với vài yếu tố thêm vào thì có ở Trung Bộ Kinh 111. Danh sách này tóm lược công thức thông thường của tầng thiền-na thứ nhất, vì bốn yếu tố đầu đều thuộc công thức ấy, còn mọi tầng định đều có đặc điểm nhất tâm. Về sau, các văn bản muộn hơn trong tạng kinh lấy đây làm cách phân tích chuẩn cho tầng thiền-na thứ nhất.]

Này hiền giả, tầng thiền-na thứ nhất có năm chi như vậy."

"Thưa hiền giả, tầng thiền-na thứ nhất từ bỏ bao nhiêu chi và có bao nhiêu chi?"

"Này hiền giả, tầng thiền-na thứ nhất từ bỏ năm chi và có năm chi.

Này hiền giả, khi một tỳ-kheo đã chứng tầng thiền-na thứ nhất, thì dục tham đã được từ bỏ, sân hận đã được từ bỏ, hôn trầm và thụy miên đã được từ bỏ, trạo cử và hối hận đã được từ bỏ, hoài nghi đã được từ bỏ;

tầm đang có mặt, tứ đang có mặt, hỷ đang có mặt, lạc đang có mặt và nhất tâm đang có mặt.

[Chú thích: Tất cả các yếu tố này, trừ nhất tâm, đều có mặt ở mức nào đó trước khi nhập định, nhưng lúc này chúng hiện khởi trọn vẹn.]

Này hiền giả, tầng thiền-na thứ nhất từ bỏ năm chi và có năm chi như vậy."

"Thưa hiền giả, năm căn này có cảnh giới khác nhau, có phạm vi khác nhau, và không cảm nhận được cảnh giới và phạm vi của nhau; đó là:

[Chú thích: Một lần nữa, những câu hỏi có vẻ chung chung thực ra đang đặt nền cho cuộc bàn về các tầng định tinh tế.]

căn mắt, căn tai, căn mũi, căn lưỡi, căn thân.

Này hiền giả, năm căn này có cảnh giới khác nhau, có phạm vi khác nhau, không cảm nhận được cảnh giới và phạm vi của nhau — vậy chúng nương tựa vào gì, và cái gì cảm nhận được cảnh giới và phạm vi của chúng?"

"Thưa hiền giả, năm căn này có cảnh giới khác nhau, có phạm vi khác nhau, và không cảm nhận được cảnh giới và phạm vi của nhau; đó là:

căn mắt, căn tai, căn mũi, căn lưỡi, căn thân.

Này hiền giả, năm căn này có cảnh giới khác nhau, có phạm vi khác nhau, không cảm nhận được cảnh giới và phạm vi của nhau — chúng nương tựa vào ý, và chính ý cảm nhận được cảnh giới và phạm vi của chúng."

[Chú thích: Mỗi loại kinh nghiệm giác quan hoàn toàn riêng biệt và tách rời. Ý gom chúng lại và tạo ra một thế giới có nghĩa, trong đó một cái "tự ngã" có thể vận hành.]

Thưa hiền giả, năm căn này, đó là:


căn mắt, căn tai, căn mũi, căn lưỡi, căn thân.

"Thưa hiền giả, năm căn này nương vào gì mà tồn tại?"

Thưa hiền giả, năm căn này, đó là:

căn mắt, căn tai, căn mũi, căn lưỡi, căn thân.

"Này hiền giả, năm căn này nương vào thọ mạng mà tồn tại."

"Thưa hiền giả, vậy thọ mạng nương vào gì mà tồn tại?"

"Này hiền giả, thọ mạng nương vào hơi ấm mà tồn tại."

"Thưa hiền giả, vậy hơi ấm nương vào gì mà tồn tại?"

"Này hiền giả, hơi ấm nương vào thọ mạng mà tồn tại."

"Thưa hiền giả, vừa rồi tôi hiểu lời Tôn giả Sāriputta nói như vầy:

'Thọ mạng nương vào hơi ấm mà tồn tại.'

Nhưng rồi tôi cũng hiểu lời Tôn giả Sāriputta nói như vầy:

'Hơi ấm nương vào thọ mạng mà tồn tại.'

Vậy thưa hiền giả, ý nghĩa của lời ấy phải hiểu thế nào?"

"Vậy thì này hiền giả, tôi sẽ nói một ví dụ cho hiền giả;

nhờ ví dụ, một số người hiểu biết hiểu được ý nghĩa của lời nói.

Này hiền giả, ví như một ngọn đèn dầu đang cháy: ánh sáng hiện ra là nhờ ngọn lửa, và ngọn lửa hiện ra là nhờ ánh sáng;

cũng vậy, này hiền giả, thọ mạng nương vào hơi ấm mà tồn tại, và hơi ấm nương vào thọ mạng mà tồn tại."

"Thưa hiền giả, các hành thọ mạng và các pháp được cảm thọ có phải là một không? Hay các hành thọ mạng là một thứ, các pháp được cảm thọ là một thứ khác?"

[Chú thích: Hành thọ mạng là āyusaṅkhāra. Các bài kinh cũng dùng bhavasaṅkhāra và jīvitasaṅkhāra với nghĩa tương đương.]

"Này hiền giả, các hành thọ mạng và các pháp được cảm thọ không phải là một.

Này hiền giả, nếu các hành thọ mạng chính là các pháp được cảm thọ, thì người ta sẽ không thấy một tỳ-kheo đã chứng định diệt thọ tưởng xuất khỏi định ấy.

[Chú thích: Điều này giới thiệu tầng định tinh tế nhất trong mọi tầng định, chỉ những vị Bất hoàn và A-la-hán đã thành thục mọi tầng thiền mới vào được.]

Nhưng này hiền giả, vì các hành thọ mạng là một thứ và các pháp được cảm thọ là một thứ khác, nên người ta thấy một tỳ-kheo đã chứng định diệt thọ tưởng xuất khỏi định ấy."

"Thưa hiền giả, khi nào có bao nhiêu pháp rời bỏ thân này, thì thân này nằm đó, bị quăng bỏ, bị vất đi, như một khúc gỗ vô tri?"

"Này hiền giả, khi ba pháp rời bỏ thân này — thọ mạng, hơi ấm và thức — thì thân này nằm đó, bị quăng bỏ, bị vất đi, như một khúc gỗ vô tri."

[Chú thích: Đoạn này giả định có một lực sống riêng biệt, là một trong ba yếu tố cần cho sự sống, nên āyu ở đây được dịch là "thọ mạng" chứ không phải "mạng sống". Sách Śatapatha Brāhmaṇa có câu tương tự: ai sẽ sống thì còn biết và còn ấm, ai sẽ chết thì lạnh.]

"Thưa hiền giả, giữa người đã chết, đã qua đời, và một tỳ-kheo đã chứng định diệt thọ tưởng — sự khác biệt giữa họ là gì?"

[Chú thích: Sự phân biệt này rất quan trọng, vì đôi khi người nhập định sâu trông như đã chết. Điều này từng làm cả Ānanda bối rối bên giường bệnh của Đức Thế Tôn.]

"Này hiền giả, đối với người đã chết, đã qua đời, thì thân hành đã chấm dứt và lắng dịu, khẩu hành đã chấm dứt và lắng dịu, tâm hành đã chấm dứt và lắng dịu; thọ mạng đã hết, hơi ấm đã tắt, các căn đã tan rã.

[Chú thích: Các hành này được định nghĩa trong bài kinh kế tiếp.]

Còn đối với tỳ-kheo đã chứng định diệt thọ tưởng, thì thân hành đã chấm dứt và lắng dịu, khẩu hành đã chấm dứt và lắng dịu, tâm hành đã chấm dứt và lắng dịu, nhưng thọ mạng chưa hết, hơi ấm chưa tắt, các căn lại rất trong sáng.

Này hiền giả, giữa người đã chết, đã qua đời, và tỳ-kheo đã chứng định diệt thọ tưởng — đó là sự khác biệt giữa họ."

"Thưa hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng đạt tâm giải thoát không khổ không lạc?"

"Này hiền giả, có bốn duyên để chứng đạt tâm giải thoát không khổ không lạc.

Này hiền giả, ở đây một tỳ-kheo do từ bỏ lạc, do từ bỏ khổ, và do sự chấm dứt của hỷ và ưu có từ trước, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.

Này hiền giả, đó là bốn duyên để chứng đạt tâm giải thoát không khổ không lạc."

"Thưa hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng đạt tâm giải thoát vô tướng?"

"Này hiền giả, có hai duyên để chứng đạt tâm giải thoát vô tướng:

không chú tâm đến mọi tướng, và chú tâm đến giới vô tướng.

Này hiền giả, đó là hai duyên để chứng đạt tâm giải thoát vô tướng."

"Thưa hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú trong tâm giải thoát vô tướng?"

"Này hiền giả, có ba duyên để an trú trong tâm giải thoát vô tướng:

không chú tâm đến mọi tướng, chú tâm đến giới vô tướng, và sự chuẩn bị từ trước."

[Chú thích: Trước khi nhập định, hành giả tự quyết trong tâm sẽ trụ lại đó trong một khoảng thời gian nhất định.]

Này hiền giả, đó là ba duyên để an trú trong tâm giải thoát vô tướng."

"Thưa hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khỏi tâm giải thoát vô tướng?"

"Này hiền giả, có hai duyên để xuất khỏi tâm giải thoát vô tướng:

chú tâm đến mọi tướng, và không chú tâm đến giới vô tướng.

Này hiền giả, đó là hai duyên để xuất khỏi tâm giải thoát vô tướng."

"Thưa hiền giả, tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát vô sở hữu, tâm giải thoát không, và tâm giải thoát vô tướng — bốn pháp này khác nhau cả về nghĩa lẫn cách diễn đạt, hay cùng một nghĩa mà chỉ khác cách diễn đạt?"

[Chú thích: Câu hỏi này cũng được Pañcakaṅga hỏi Anuruddha, và được Godatta hỏi Citta. Đáng chú ý là các cuộc thảo luận ấy đều diễn ra giữa các đệ tử. Việc học trò tìm cách hiểu quan hệ giữa các giáo lý khác nhau, để dung hòa hay phân biệt, là dấu hiệu đặc trưng của Luận tạng, và ở đây ta thấy nó bắt đầu.]

"Này hiền giả, tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát vô sở hữu, tâm giải thoát không, và tâm giải thoát vô tướng — có một phương diện mà theo đó bốn pháp này khác nhau cả về nghĩa lẫn cách diễn đạt;

và cũng có một phương diện mà theo đó bốn pháp này cùng một nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt."

[Chú thích: Những thuật ngữ này có thể dùng cho các tầng định khác nhau như mô tả dưới đây, nhưng cũng đều có thể dùng cho quả A-la-hán.]

"Thưa hiền giả, phương diện nào mà theo đó bốn pháp này khác nhau cả về nghĩa lẫn cách diễn đạt?

"Này hiền giả, ở đây một tỳ-kheo an trú, rải tâm câu hữu với từ khắp một phương; phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, trong mọi cách, vị ấy rải tâm câu hữu với từ khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không thù địch, không oán hại — và an trú.

Này hiền giả, với tâm câu hữu với bi, vị ấy an trú, rải khắp một phương; phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, trong mọi cách, vị ấy rải tâm câu hữu với bi khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không thù địch, không oán hại — và an trú."


"Này hiền giả, với tâm câu hữu với hỷ, vị ấy an trú, rải khắp một phương; phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, trong mọi cách, vị ấy rải tâm câu hữu với hỷ khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không thù địch, không oán hại — và an trú.

Này hiền giả, với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú, rải khắp một phương; phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, trong mọi cách, vị ấy rải tâm câu hữu với xả khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không thù địch, không oán hại — và an trú.

Này hiền giả, đây gọi là tâm giải thoát vô lượng."

"Thưa hiền giả, tâm giải thoát vô sở hữu là gì?"

"Này hiền giả, ở đây một tỳ-kheo vượt qua hoàn toàn xứ Thức vô biên, biết 'không có gì cả', chứng đạt và an trú xứ Vô sở hữu.

Này hiền giả, đây gọi là tâm giải thoát vô sở hữu."

"Thưa hiền giả, tâm giải thoát không là gì?"

"Này hiền giả, ở đây một tỳ-kheo đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc đến một căn nhà trống, rồi suy xét như vầy:

'Cái này là trống không, không có tự ngã và không có gì thuộc về tự ngã.'

Này hiền giả, đây gọi là tâm giải thoát không."

"Thưa hiền giả, tâm giải thoát vô tướng là gì?"

"Này hiền giả, ở đây một tỳ-kheo, do không tác ý đến mọi tướng, chứng đạt và an trú định vô tướng của tâm.

Này hiền giả, đây gọi là tâm giải thoát vô tướng.

Này hiền giả, đó là phương diện mà theo đó bốn pháp này khác nhau cả về nghĩa lẫn cách diễn đạt."

"Thưa hiền giả, phương diện nào mà theo đó bốn pháp này cùng một nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt?"

"Này hiền giả, tham là thứ tạo ra giới hạn, sân là thứ tạo ra giới hạn, si là thứ tạo ra giới hạn.

Đối với một tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ ấy đã được từ bỏ, đã bị chặt tận gốc, đã thành như gốc cây thốt nốt, đã không còn, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai.

Này hiền giả, trong tất cả các tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát bất động được gọi là tối thượng.

Tâm giải thoát bất động ấy thì trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.

Này hiền giả, tham là một cái gì đó, sân là một cái gì đó, si là một cái gì đó.

[Chú thích của người dịch: Pali dùng chữ kiñcana, "một cái gì đó", để chỉ tham sân si như những thứ vướng mắc; và ākiñcañña, "không có gì", là tên của tầng định vô sở hữu. Cách chơi chữ này nối hai đoạn lại với nhau.]

Đối với một tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ ấy đã được từ bỏ, đã bị chặt tận gốc, đã thành như gốc cây thốt nốt, đã không còn, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai.

Này hiền giả, trong tất cả các tâm giải thoát vô sở hữu, tâm giải thoát bất động được gọi là tối thượng.

Tâm giải thoát bất động ấy thì trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.

Này hiền giả, tham là thứ tạo ra tướng, sân là thứ tạo ra tướng, si là thứ tạo ra tướng.

Đối với một tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ ấy đã được từ bỏ, đã bị chặt tận gốc, đã thành như gốc cây thốt nốt, đã không còn, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai.

Này hiền giả, trong tất cả các tâm giải thoát vô tướng, tâm giải thoát bất động được gọi là tối thượng.

Tâm giải thoát bất động ấy thì trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.

Này hiền giả, đó là phương diện mà theo đó bốn pháp này cùng một nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt."

Tôn giả Sāriputta nói như vậy.

Tôn giả Mahākoṭṭhita hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta nói.

Kinh Đại Phương Quảng, bài thứ ba, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →