Trung Bộ Kinh · bài 12/152
Đại Kinh Sư Tử Hống
Mahāsīhanāda Sutta — bài kinh về tiếng rống sư tử của bậc Đại sư
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Đại Kinh Sư Tử Hống (Mahāsīhanāda Sutta) là bài kinh thứ mười hai trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Tên bài có nghĩa là "tiếng rống lớn của sư tử": trong kinh điển, tiếng rống sư tử là hình ảnh chỉ lời tuyên bố dõng dạc, không chút sợ hãi của một bậc đã tự mình giác ngộ, nói trước đám đông về những gì mình đã chứng được. Bài kinh này là một trong những lần tuyên bố ấy được ghi lại đầy đủ nhất.
Chuyện bắt đầu bằng một chuyện nhỏ. Một người tên là Sunakkhatta, xuất thân dòng Licchavi, vừa mới rời bỏ đời sống tu tập của Tăng đoàn. Ông ta đi khắp Vesālī nói xấu vị thầy cũ: rằng sa-môn Gotama chẳng có gì siêu việt hơn người thường, rằng những gì ông ấy dạy chỉ là do suy luận mà ra. Tỳ-kheo Sāriputta tình cờ nghe được, bèn đem chuyện về thưa lại. Đức Thế Tôn nghe xong không giận; Ngài chỉ nói rằng Sunakkhatta đang nói trong cơn giận, và rằng những lời ấy, dù ông ta muốn chê bai, lại hóa ra là lời khen.
Phần lớn còn lại của bài là lời đáp. Đức Thế Tôn kể ra mười sức mạnh của Như Lai — mười điều Ngài biết rõ mà người thường không biết, từ chỗ hiểu cái gì có thể và cái gì không thể, cho đến sự đoạn tận hoàn toàn các lậu hoặc. Rồi Ngài kể bốn sự tự tin: không ai trên đời có thể quở trách Ngài đúng với pháp về bốn điểm ấy. Rồi Ngài nói đến tám hội chúng — vua chúa, bà-la-môn, gia chủ, sa-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên — và chuyện Ngài đã từng bước vào, ngồi chung, nói chuyện với tất cả mà không hề run sợ.
Ở giữa bài có một đoạn khiến người đọc hôm nay phải dừng lại. Đức Thế Tôn kể lại, rất chi tiết và không giấu giếm, những năm tháng Ngài tự hành xác trước khi giác ngộ: ăn một hạt gạo mỗi ngày, ở trần trong mùa đông, ngủ trên gai, ăn cả phân bò, để cho thân gầy đến mức da bụng dính vào xương sống. Và rồi Ngài kết luận thẳng thắn: tất cả những điều ấy đã không đưa Ngài đến đâu. Đoạn này quan trọng vì nó là lời tự thuật, không phải lời kể của người khác, và vì nó cắt đứt mọi ảo tưởng rằng khổ hạnh tự nó là con đường.
Cuối bài, Đức Thế Tôn nói về tuổi già của chính mình — năm ấy Ngài tám mươi — và đưa ra một hình ảnh lạ lùng: dù có bốn vị đệ tử sống trăm tuổi, hỏi Ngài hết câu này đến câu khác suốt trăm năm, thì kho tàng lời dạy của Ngài vẫn chưa vơi. Tỳ-kheo Nāgasamāla, đang đứng quạt phía sau, nghe đến đó thì lông tóc dựng đứng và hỏi tên bài kinh. Đức Thế Tôn bảo ông ghi nhớ nó là "Pháp môn làm dựng tóc gáy".
Bản dịch này theo sát bản Pali từng đoạn một, kể cả những chỗ kinh lặp lại nguyên văn nhiều lần — vì với kinh điển, cái lặp ấy thường chính là điều muốn nói. Người đọc không quen có thể đọc phần đầu và phần kể chuyện về tuổi trẻ của Ngài trước, rồi mới quay lại các đoạn liệt kê.
[Chú thích của người dịch: Sīhanāda là "tiếng rống của sư tử", hình ảnh chỉ lời tuyên bố dõng dạc và không sợ hãi của Như Lai giữa hội chúng. Bản Pali còn ghi tên gốc của bài là Lomahaṁsanapariyāya, "pháp môn làm dựng tóc gáy".]
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-li), trong một khu rừng cây ở ngoại thành, phía tây thành phố.
[Chú thích: Cách mô tả vị trí này của Đức Thế Tôn là duy nhất trong kinh tạng.]
Lúc bấy giờ, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, vừa mới rời bỏ Pháp và Luật này.
[Chú thích: Con đường tu tập đáng buồn của Sunakkhatta bắt đầu khi ông gặp Đức Thế Tôn trong MN 105. Theo DN 6, sau ba năm xuất gia, ông nói về thành tựu thiền định ít ỏi của mình. Bài kinh này và DN 24 kể lại những lời chê bai cay nghiệt của ông ngay sau khi hoàn tục.]
Ông ta nói với hội chúng ở Vesālī như vầy:
"Sa-môn Gotama không có pháp siêu nhân, không có tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh.
[Chú thích: Những pháp ấy được Luật tạng định nghĩa là thiền-na, giải thoát, định, thiền chứng, tri kiến, tu tập đạo, chứng quả, đoạn tận lậu hoặc, tâm không chướng ngại, ưa thích trú xứ vắng lặng. Có thể tóm lại thành thiền-na, thần thông, và sự chứng đắc các đạo quả.]
Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận mà thành, theo dòng tìm tòi, tự mình nghĩ ra.
[Chú thích: Đức Thế Tôn dạy rằng chỉ riêng lý luận thì không đủ làm kim chỉ nam cho chân lý (MN 76:27.2, DN 1:1.34.2), điều mà Sunakkhatta hình như không biết.]
Mục đích Ngài thuyết pháp là gì thì mặc, pháp ấy vẫn dẫn người thực hành đúng theo đó đến chỗ đoạn tận khổ đau hoàn toàn."
[Chú thích: Cú pháp câu này khó. Hai đại từ mở đầu đều ở cách sở hữu, cho thấy ý của câu là "mục đích ấy là của ông", tức Sunakkhatta muốn nói rằng mục đích mà Gotama nhắm tới không quan trọng. Động từ niyyāti nghĩa là "đưa ra khỏi, giải thoát" chứ không phải "dẫn đến"; còn "để đoạn tận khổ đau hoàn toàn" chỉ người đang thực hành vì mục đích ấy.]
Rồi tỳ-kheo Sāriputta (Xá-lợi-phất), vào buổi sáng, đắp y, cầm bát và y, vào Vesālī để khất thực.
Tỳ-kheo Sāriputta nghe được Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đang nói với hội chúng ở Vesālī như vầy:
"Sa-môn Gotama không có pháp siêu nhân, không có tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh.
Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận mà thành, theo dòng tìm tòi, tự mình nghĩ ra.
Mục đích Ngài thuyết pháp là gì thì mặc, pháp ấy vẫn dẫn người thực hành đúng theo đó đến chỗ đoạn tận khổ đau hoàn toàn."
Rồi tỳ-kheo Sāriputta, sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về từ vòng khất thực, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tỳ-kheo Sāriputta bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, vừa mới rời bỏ Pháp và Luật này.
Ông ta nói với hội chúng ở Vesālī như vầy:
'Sa-môn Gotama không có pháp siêu nhân, không có tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh.
Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận mà thành, theo dòng tìm tòi, tự mình nghĩ ra.
Mục đích Ngài thuyết pháp là gì thì mặc, pháp ấy vẫn dẫn người thực hành đúng theo đó đến chỗ đoạn tận khổ đau hoàn toàn.'"
"Này Sāriputta, Sunakkhatta, kẻ ngu si ấy, đang giận.
[Chú thích: "Kẻ ngu si" (moghapurisa) chỉ người bị si mê dẫn dắt đi lạc đường.]
Lời ông ta nói ra là do giận.
Này Sāriputta, kẻ ngu si Sunakkhatta tưởng rằng 'Ta sẽ nói lời chê bai', nhưng thật ra ông ta chỉ nói lời tán thán Như Lai.
Này Sāriputta, đó chính là lời tán thán Như Lai, khi có người nói rằng:
'Mục đích Ngài thuyết pháp là gì thì mặc, pháp ấy vẫn dẫn người thực hành đúng theo đó đến chỗ đoạn tận khổ đau hoàn toàn.'"
Này Sāriputta, kẻ ngu si Sunakkhatta ấy sẽ không có được sự suy ra từ Pháp nơi Ta, rằng:
[Chú thích: "Sự suy ra từ Pháp" (dhammanvaya) là một cách biết hợp lệ, khi người ta rút ra kết luận có lý cứ theo những nguyên lý nền tảng (SN 12.33:7.2).]
"Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn."
Này Sāriputta, kẻ ngu si Sunakkhatta ấy cũng sẽ không có được sự suy ra từ Pháp nơi Ta, rằng:
"Vị Thế Tôn ấy chứng nghiệm nhiều loại thần thông: khi thì một thân hóa thành nhiều thân, khi nhiều thân hóa thành một thân; hiện ra rồi ẩn mất; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi mà không bị cản, như đi trong hư không; trồi lên lặn xuống trong đất như trong nước; đi trên nước mà không chìm, như đi trên đất; ngồi kiết già bay đi trong hư không như con chim; chạm và xoa bằng bàn tay mặt trăng và mặt trời, những vị có thần lực lớn, uy lực lớn như vậy; và có thể dùng thân mình điều khiển cho đến cõi Phạm Thiên."
[Chú thích: Đức Thế Tôn nêu những thần thông này ở đây vì theo DN 24:1.4.1, Sunakkhatta cho rằng những biểu diễn như thế mới là mục đích đáng theo đuổi của đời sống tu tập. Bản Hán đối chiếu bỏ phần thần thông mà thay bằng các thiền-na. Đoạn này mở đầu sáu thắng trí.]
Này Sāriputta, kẻ ngu si Sunakkhatta ấy cũng sẽ không có được sự suy ra từ Pháp nơi Ta, rằng:
"Vị Thế Tôn ấy với thiên nhĩ thanh tịnh, vượt hơn loài người, nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, ở xa hay ở gần."
Này Sāriputta, kẻ ngu si Sunakkhatta ấy cũng sẽ không có được sự suy ra từ Pháp nơi Ta, rằng:
"Vị Thế Tôn ấy biết tâm của các chúng sinh khác, các cá nhân khác, sau khi đã bao trùm bằng tâm của mình:
Ngài biết tâm có tham là 'tâm có tham',
và tâm không tham là 'tâm không tham'.
Ngài biết tâm có sân là 'tâm có sân',
và tâm không sân là 'tâm không sân'.
Ngài biết tâm có si là 'tâm có si',
và tâm không si là 'tâm không si'.
Ngài biết tâm co thắt là 'tâm co thắt',
và tâm tán loạn là 'tâm tán loạn'.
Ngài biết tâm rộng lớn là 'tâm rộng lớn',
và tâm không rộng lớn là 'tâm không rộng lớn'.
Ngài biết tâm có bậc trên là 'tâm có bậc trên',
và tâm không có bậc trên là 'tâm không có bậc trên'.
Ngài biết tâm định là 'tâm định',
và tâm không định là 'tâm không định'.
Ngài biết tâm giải thoát là 'tâm giải thoát',
và tâm không giải thoát là 'tâm không giải thoát'."
Này Sāriputta, có mười sức mạnh của Như Lai. Như Lai thành tựu những sức mạnh ấy nên tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
[Chú thích: Sau ba thắng trí đầu tiên, mạch văn bị ngắt để chèn mười sức mạnh của Như Lai, cũng thấy ở AN 10.21 và AN 10.22. Bộ Vibhaṅga của Abhidhamma sớm giải thích chi tiết các sức mạnh này. Năm sức mạnh được liệt kê ở AN 5.11 và sáu ở AN 6.64.]
[Chú thích của người dịch: "vị thế con bò đực" (āsabhaṁ ṭhānaṁ) là hình ảnh chỉ địa vị tối thắng giữa muôn loài, như con bò đực đầu đàn; "bánh xe Phạm" (brahmacakka) là bánh xe giáo pháp tối thượng.]
Mười là những gì?
Ở đây, này Sāriputta, Như Lai biết như thật rằng cái có thể xảy ra là có thể xảy ra, và cái không thể xảy ra là không thể xảy ra.
[Chú thích: Được giải thích chi tiết ở MN 115:12.1 đến 17.6.]
Này Sāriputta, vì Như Lai biết như thật rằng cái có thể xảy ra là có thể xảy ra và cái không thể xảy ra là không thể xảy ra, nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật quả báo của các nghiệp đã tạo trong quá khứ, vị lai và hiện tại, đúng theo chỗ và đúng theo nhân.
[Chú thích: Bộ Vibhaṅga giải thích điều này là biết những hoàn cảnh ngăn cản hay hỗ trợ quả của nghiệp, gồm nơi tái sinh, hình thức tái sinh, thời gian và sự nỗ lực. Xem thêm phần phân tích "nghiệp" ở MN 57, MN 135 và MN 136.]
Này Sāriputta, vì Như Lai biết như thật quả báo của các nghiệp đã tạo trong quá khứ, vị lai và hiện tại, đúng theo chỗ và đúng theo nhân, nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật con đường thực hành dẫn đến mọi cảnh giới.
[Chú thích: Được triển khai ở dưới, từ MN 12:35.1 đến 42.13.]
Này Sāriputta, vì Như Lai biết như thật con đường thực hành dẫn đến mọi cảnh giới, nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật thế giới với nhiều giới, nhiều loại giới khác nhau.
[Chú thích: Xem MN 115:4.1 đến 9.6.]
Này Sāriputta, vì Như Lai biết như thật thế giới với nhiều giới, nhiều loại giới khác nhau, nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật những niềm tin khác nhau của chúng sinh.
[Chú thích: Điều này không được giải thích minh bạch, nhưng có một thí dụ ở DN 1:1.3.2, nơi Đức Thế Tôn biết sự khác nhau giữa Brahmadatta, người có niềm tin vào Tam bảo, và Suppiya, người không có. Vì vậy adhimutti ở đây nghĩa là đức tin, chứ không phải khuynh hướng.]
Này Sāriputta, vì Như Lai biết như thật những niềm tin khác nhau của chúng sinh, nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật sự hơn kém về căn cơ của các chúng sinh khác, các cá nhân khác.
[Chú thích: Thí dụ là việc Đức Thế Tôn quán sát thế gian sau khi giác ngộ để thấy căn cơ khác nhau của chúng sinh (MN 26:21.2, MN 85:45.4, DN 14:3.6.2, SN 6.1:9.2, Kd 1:5.11.1).]
Này Sāriputta, vì Như Lai biết như thật sự hơn kém về căn cơ của các chúng sinh khác, các cá nhân khác, nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, Như Lai biết như thật sự ô nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất khỏi của các thiền-na, các giải thoát, các định và các thiền chứng.
[Chú thích: "Ô nhiễm" là bất cứ tâm sở nào làm tối và giảm thiểu thiền định; "thanh tịnh" là bất cứ gì làm sáng và tăng cường nó. "Xuất khỏi" là hiểu lý do vì sao người ta ra khỏi một trạng thái thiền định nào đó (MN 43:29.1). Cụm "thiền-na, giải thoát, định và thiền chứng" cho thấy đây là những thuật ngữ chồng lên nhau, mô tả cùng một lĩnh vực thiền định sâu.]
Này Sāriputta, vì Như Lai biết như thật sự ô nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất khỏi của các thiền-na, các giải thoát, các định và các thiền chứng, nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, Như Lai nhớ được nhiều đời sống quá khứ, tức là một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra. Ngài nhớ: "Ở chỗ ấy, ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, hình sắc như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc và khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ chỗ ấy chết đi, ta sinh ra ở chỗ khác. Ở đó cũng vậy, ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, hình sắc như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc và khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ chỗ ấy chết đi, ta sinh ra ở đây." Như vậy, Ngài nhớ được nhiều đời sống quá khứ với các đặc điểm và chi tiết.
[Chú thích: Ở đây trở lại ba thắng trí cuối của sáu thắng trí, cũng là ba sức mạnh cuối của mười sức mạnh.]
Này Sāriputta, vì Như Lai nhớ được nhiều đời sống quá khứ, tức là một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra — Ngài nhớ: "Ở chỗ ấy, ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, hình sắc như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc và khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ chỗ ấy chết đi, ta sinh ra ở chỗ khác. Ở đó cũng vậy, ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, hình sắc như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ lạc và khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ chỗ ấy chết đi, ta sinh ra ở đây." Như vậy, Ngài nhớ được nhiều đời sống quá khứ với các đặc điểm và chi tiết — nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Như Lai thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, kẻ hạ liệt, người cao quý, kẻ xấu sắc, người đẹp sắc, kẻ đi đến chỗ khổ, người đi đến chỗ vui; Ngài biết chúng sinh đi theo nghiệp của mình: "Những chúng sinh này đã làm ác bằng thân, làm ác bằng lời, làm ác bằng ý, đã phỉ báng các bậc thánh, có tà kiến, chọn làm nghiệp theo tà kiến; khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sinh vào chỗ mất mát, cảnh giới xấu, nơi đọa lạc, địa ngục. Nhưng những chúng sinh này đã làm thiện bằng thân, làm thiện bằng lời, làm thiện bằng ý, không phỉ báng các bậc thánh, có chánh kiến, chọn làm nghiệp theo chánh kiến; khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sinh vào chỗ tốt, cõi trời, thế giới chư thiên." Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ngài thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, kẻ hạ liệt, người cao quý, kẻ xấu sắc, người đẹp sắc, kẻ đi đến chỗ khổ, người đi đến chỗ vui; Ngài biết chúng sinh đi theo nghiệp của mình.
Này Sāriputta, vì với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Như Lai thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, kẻ hạ liệt, người cao quý, kẻ xấu sắc, người đẹp sắc, kẻ đi đến chỗ khổ, người đi đến chỗ vui; Ngài biết chúng sinh đi theo nghiệp của mình: "Những chúng sinh này đã làm ác bằng thân, làm ác bằng lời, làm ác bằng ý, đã phỉ báng các bậc thánh, có tà kiến, chọn làm nghiệp theo tà kiến; khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sinh vào chỗ mất mát, cảnh giới xấu, nơi đọa lạc, địa ngục. Nhưng những chúng sinh này đã làm thiện bằng thân, làm thiện bằng lời, làm thiện bằng ý, không phỉ báng các bậc thánh, có chánh kiến, chọn làm nghiệp theo chánh kiến; khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sinh vào chỗ tốt, cõi trời, thế giới chư thiên." Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ngài thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, kẻ hạ liệt, người cao quý, kẻ xấu sắc, người đẹp sắc, kẻ đi đến chỗ khổ, người đi đến chỗ vui; Ngài biết chúng sinh đi theo nghiệp của mình — nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Hơn nữa, này Sāriputta, do các lậu hoặc đã tận, Như Lai ngay trong đời này tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát.
Này Sāriputta, vì do các lậu hoặc đã tận, Như Lai ngay trong đời này tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát, nên đây là một sức mạnh của Như Lai; nương vào sức mạnh ấy, Như Lai tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Này Sāriputta, đó là mười sức mạnh của Như Lai. Như Lai thành tựu những sức mạnh ấy nên tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Này Sāriputta, khi Ta biết như vậy và thấy như vậy, nếu có ai nói rằng:
"Sa-môn Gotama không có pháp siêu nhân, không có tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh;
Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận mà thành, theo dòng tìm tòi, tự mình nghĩ ra",
thì này Sāriputta, kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
[Chú thích: Điều này nghe có vẻ nghiêm khắc, nhưng kinh điển xem việc chê bai Đức Thế Tôn như vậy là rất xấu, vì nó chặn mất con đường đến Niết-bàn, như ở SN 42.9:4.12. Ở DN 24:1.16.13, Đức Thế Tôn cảnh báo Sunakkhatta rằng du sĩ lõa thể Pāṭikaputta, nếu không từ bỏ lời nói, tâm và kiến ấy, sẽ không thể bước vào chỗ Ngài, chứ đừng nói đến chuyện tranh luận.]
Ví như, này Sāriputta, một tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ có thể chứng đắc quả vị ngay trong đời này; này Sāriputta, Ta nói kết quả cũng như vậy.
Kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Này Sāriputta, Như Lai có bốn sự tự tin. Như Lai thành tựu những sự tự tin ấy nên tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
[Chú thích: Bốn sự tự tin này cũng thấy ở AN 4.8. Ba điều đầu nằm trong lời quở trách của Đức Thế Tôn đối với Sarabha ở AN 3.64.]
Bốn là những gì?
Này Sāriputta, Ta không thấy có lý do nào để một sa-môn, một bà-la-môn, một vị trời, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời có thể quở trách Ta đúng với pháp rằng: "Ông tự nhận là Chánh đẳng giác, nhưng những pháp này ông chưa giác ngộ."
[Chú thích: Trong bài kinh đầu tiên, Đức Thế Tôn nói Ngài không tự nhận là Chánh đẳng giác cho đến khi đã hiểu Tứ thánh đế theo ba vòng và mười hai khía cạnh (SN 56.11:10.1). Ở đây nimitta nghĩa là lý do, cớ, nền tảng.]
Này Sāriputta, vì Ta không thấy lý do ấy, nên Ta sống an ổn, không sợ hãi, đạt được sự tự tin.
Này Sāriputta, Ta không thấy có lý do nào để một sa-môn, một bà-la-môn, một vị trời, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời có thể quở trách Ta đúng với pháp rằng: "Ông tự nhận đã tận lậu hoặc, nhưng những lậu hoặc này chưa tận."
Này Sāriputta, vì Ta không thấy lý do ấy, nên Ta sống an ổn, không sợ hãi, đạt được sự tự tin.
Này Sāriputta, Ta không thấy có lý do nào để một sa-môn, một bà-la-môn, một vị trời, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời có thể quở trách Ta đúng với pháp rằng: "Những pháp mà ông nói là chướng ngại ấy, khi người ta thực hành chúng thì chúng không đủ sức làm chướng ngại."
[Chú thích: Đây là lời buộc tội của Ariṭṭha (MN 22). Bản Hán đối chiếu đồng nhất các "chướng ngại" ấy với dục và tham.]
Này Sāriputta, vì Ta không thấy lý do ấy, nên Ta sống an ổn, không sợ hãi, đạt được sự tự tin.
Này Sāriputta, Ta không thấy có lý do nào để một sa-môn, một bà-la-môn, một vị trời, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời có thể quở trách Ta đúng với pháp rằng: "Mục đích mà ông thuyết pháp là gì thì mặc, pháp ấy không dẫn người thực hành đúng theo đó đến chỗ đoạn tận khổ đau hoàn toàn."
Này Sāriputta, vì Ta không thấy lý do ấy, nên Ta sống an ổn, không sợ hãi, đạt được sự tự tin.
Này Sāriputta, đó là bốn sự tự tin của Như Lai. Như Lai thành tựu những sự tự tin ấy nên tự nhận lấy vị thế con bò đực, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, và chuyển bánh xe Phạm.
Này Sāriputta, khi Ta biết như vậy và thấy như vậy, nếu có ai nói rằng:
"Sa-môn Gotama không có pháp siêu nhân, không có tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận mà thành, theo dòng tìm tòi, tự mình nghĩ ra",
thì này Sāriputta, kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Ví như, này Sāriputta, một tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ có thể chứng đắc quả vị ngay trong đời này; này Sāriputta, Ta nói kết quả cũng như vậy.
Kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Này Sāriputta, có tám hội chúng.
[Chú thích: Cũng được nhắc ở AN 8.69, DN 16:3.21.3 và DN 33:3.1.139.]
Tám là những gì?
Hội chúng vua chúa, hội chúng bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội chúng sa-môn, hội chúng chư thiên của bốn đại vương, hội chúng chư thiên cõi Ba Mươi Ba, hội chúng Ma vương, hội chúng Phạm Thiên.
Này Sāriputta, đó là tám hội chúng.
Này Sāriputta, thành tựu bốn sự tự tin ấy, Như Lai đi đến và bước vào tám hội chúng này.
[Chú thích: AN 8.69 và DN 16:3.21.3 đều kể việc Đức Thế Tôn đi vào các hội chúng này, nhưng cả hai, và cả bản Hán đối chiếu, đều không quy sự tự tin ấy cho bốn pháp tự tin.]
Này Sāriputta, Ta nhớ Ta đã từng đi đến hội chúng gồm hàng trăm vị vua chúa.
[Chú thích: Anekasataṁ khattiyaparisaṁ ở số ít, nghĩa là "một hội chúng gồm hàng trăm vị vua chúa", chứ không phải "hàng trăm hội chúng vua chúa".]
Ở đó, Ta đã từng ngồi chung, đã từng nói chuyện, và đã từng tham gia thảo luận với họ.
Này Sāriputta, Ta không thấy có lý do nào để sự sợ hãi hay sự run sợ có thể xâm nhập vào Ta.
Này Sāriputta, vì Ta không thấy lý do ấy, nên Ta sống an ổn, không sợ hãi, đạt được sự tự tin.
Này Sāriputta, Ta nhớ Ta đã từng đi đến hội chúng gồm hàng trăm vị bà-la-môn.
Ta cũng đã từng đi đến hội chúng gồm hàng trăm gia chủ.
Ta cũng đã từng đi đến hội chúng gồm hàng trăm sa-môn.
Ta cũng đã từng đi đến hội chúng gồm hàng trăm chư thiên của bốn đại vương.
Ta cũng đã từng đi đến hội chúng gồm hàng trăm chư thiên cõi Ba Mươi Ba.
Ta cũng đã từng đi đến hội chúng gồm hàng trăm Ma vương.
Ta cũng đã từng đi đến hội chúng gồm hàng trăm Phạm Thiên.
Ở đó, Ta đã từng ngồi chung, đã từng nói chuyện, và đã từng tham gia thảo luận với họ.
Này Sāriputta, Ta không thấy có lý do nào để sự sợ hãi hay sự run sợ có thể xâm nhập vào Ta.
Này Sāriputta, vì Ta không thấy lý do ấy, nên Ta sống an ổn, không sợ hãi, đạt được sự tự tin.
Này Sāriputta, khi Ta biết như vậy và thấy như vậy, nếu có ai nói rằng:
"Sa-môn Gotama không có pháp siêu nhân, không có tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận mà thành, theo dòng tìm tòi, tự mình nghĩ ra",
thì này Sāriputta, kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Ví như, này Sāriputta, một tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ có thể chứng đắc quả vị ngay trong đời này; này Sāriputta, Ta nói kết quả cũng như vậy.
Kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Này Sāriputta, có bốn cách sinh.
[Chú thích: Bốn cách này không có trong bản Hán đối chiếu; chúng mô tả cách sinh của các loại nāga (SN 29.1) và phượng hoàng (SN 30.1).]
Bốn là những gì?
Sinh từ trứng, sinh từ thai, sinh từ ẩm ướt, hóa sinh.
[Chú thích: Có thể so với ba "hạt giống" trong Chāndogya Upaniṣad 6.3.1: sinh từ trứng, sinh từ một cá thể sống, sinh từ mầm. Aitareya Upaniṣad 3.3 mở rộng thành bốn: từ trứng, từ màng, từ ẩm ướt hay mồ hôi, từ mầm; Manusmṛti 1.43-6 định nghĩa chúng. Danh sách của Phật giáo là danh sách duy nhất không kể loài cây, vì theo quan niệm Phật giáo, thức không tái sinh vào loài cây.]
Và này Sāriputta, sinh từ trứng là gì?
Này Sāriputta, những chúng sinh nào sinh ra bằng cách phá vỡ vỏ trứng,
này Sāriputta, đó gọi là sinh từ trứng.
Và này Sāriputta, sinh từ thai là gì?
[Chú thích: Nguyên nghĩa là sinh từ màng, chỉ các màng bao quanh bào thai.]
Này Sāriputta, những chúng sinh nào sinh ra bằng cách phá vỡ màng bọc,
này Sāriputta, đó gọi là sinh từ thai.
Và này Sāriputta, sinh từ ẩm ướt là gì?
Này Sāriputta, những chúng sinh nào sinh ra trong cá ươn, trong xác chết ươn, trong cháo ươn, trong cống rãnh, hay trong đống bùn hôi,
này Sāriputta, đó gọi là sinh từ ẩm ướt.
Và này Sāriputta, hóa sinh là gì?
Chư thiên, chúng sinh trong địa ngục, một số loài người, và một số chúng sinh trong các cảnh giới đọa lạc,
này Sāriputta, đó gọi là hóa sinh.
Này Sāriputta, đó là bốn cách sinh.
Này Sāriputta, khi Ta biết như vậy và thấy như vậy, nếu có ai nói rằng:
"Sa-môn Gotama không có pháp siêu nhân, không có tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận mà thành, theo dòng tìm tòi, tự mình nghĩ ra",
thì này Sāriputta, kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Ví như, này Sāriputta, một tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ có thể chứng đắc quả vị ngay trong đời này; này Sāriputta, Ta nói kết quả cũng như vậy.
Kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Này Sāriputta, có năm cảnh giới.
Năm là những gì?
Địa ngục, loài thú, cảnh ngạ quỷ, loài người, chư thiên.
[Chú thích: Các asura (A-tu-la) được xếp chung với chư thiên trong cách phân loại này; chư thiên và A-tu-la đủ gần nhau để có thể kết hôn (SN 11.13:11.1). Bản Hán đối chiếu, giống các truyền thống về sau, thêm A-tu-la thành một cảnh giới riêng ở đây.]
Này Sāriputta, Ta biết địa ngục, biết con đường dẫn đến địa ngục, và biết lối thực hành dẫn đến địa ngục;
và Ta biết người thực hành như thế nào thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sinh vào chỗ mất mát, cảnh giới xấu, nơi đọa lạc, địa ngục.
Này Sāriputta, Ta biết loài thú, biết con đường dẫn đến loài thú, và biết lối thực hành dẫn đến loài thú;
và Ta biết người thực hành như thế nào thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sinh vào loài thú.
Này Sāriputta, Ta biết cảnh ngạ quỷ, biết con đường dẫn đến cảnh ngạ quỷ, và biết lối thực hành dẫn đến cảnh ngạ quỷ;
và Ta biết người thực hành như thế nào thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sinh vào cảnh ngạ quỷ.
Này Sāriputta, Ta biết loài người, biết con đường dẫn đến loài người, và biết lối thực hành dẫn đến loài người;
và Ta biết người thực hành như thế nào thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sinh vào loài người.
Này Sāriputta, Ta biết chư thiên, biết con đường dẫn đến thế giới chư thiên, và biết lối thực hành dẫn đến thế giới chư thiên;
và Ta biết người thực hành như thế nào thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sinh vào chỗ tốt, cõi trời.
Này Sāriputta, Ta biết Niết-bàn, biết con đường dẫn đến Niết-bàn, và biết lối thực hành dẫn đến Niết-bàn;
và Ta biết người thực hành như thế nào thì do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát.
Ở đây, này Sāriputta, sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn mô tả tiến trình Ngài biết một con đường dẫn đến đâu: trước hết Ngài thấu hiểu tâm của người ấy, rồi suy ra đích đến của họ, rồi xác nhận kết quả. Chỉ trong phạm vi hạn chế này Ngài mới biết tương lai. Nếu Ngài thật sự toàn tri như truyền thống dân gian thường nói, thì đã không cần một tiến trình lao nhọc gồm suy luận như vậy, mà chỉ cần nhìn thẳng vào bất cứ điều gì Ngài muốn.]
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào chỗ mất mát, cảnh giới xấu, nơi đọa lạc, địa ngục."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào chỗ mất mát, cảnh giới xấu, nơi đọa lạc, địa ngục, và đang cảm thọ những cảm thọ khổ hoàn toàn, dữ dội, gay gắt.
Ví như, này Sāriputta, một hố than sâu hơn một người, đầy than hồng không có ngọn lửa và không có khói.
[Chú thích: Những hố như thế được nhắc nhiều lần trong kinh điển và hẳn là một cảnh tượng quen thuộc. Vì gạch nung chưa được sản xuất thường xuyên, có lẽ chúng dùng để nấu kim loại hoặc làm gốm, dù lò nung cũng được nhắc tới (AN 7.66:8.3, SN 12.51:12.1).]
Rồi một người đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, chỉ đi trên một con đường duy nhất hướng thẳng tới hố than ấy.
Một người có mắt thấy người ấy, sẽ nói rằng:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên sẽ đi đến đúng hố than này."
Rồi sau đó, người ấy thấy người kia đã rơi vào hố than ấy, đang cảm thọ những cảm thọ khổ hoàn toàn, dữ dội, gay gắt.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào chỗ mất mát, cảnh giới xấu, nơi đọa lạc, địa ngục."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào chỗ mất mát, cảnh giới xấu, nơi đọa lạc, địa ngục, và đang cảm thọ những cảm thọ khổ hoàn toàn, dữ dội, gay gắt.
Nhưng ở đây, này Sāriputta, sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào loài thú."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào loài thú, và đang cảm thọ những cảm thọ khổ, dữ dội, gay gắt.
[Chú thích: Bản Pali bỏ chữ ekanta ("hoàn toàn"), vì loài thú có cả lạc và khổ.]
Ví như, này Sāriputta, một hố phân sâu hơn một người, đầy phân.
Rồi một người đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, chỉ đi trên một con đường duy nhất hướng thẳng tới hố phân ấy.
Một người có mắt thấy người ấy, sẽ nói rằng:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên sẽ đi đến đúng hố phân này."
Rồi sau đó, người ấy thấy người kia đã rơi vào hố phân ấy, đang cảm thọ những cảm thọ khổ, dữ dội, gay gắt.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào loài thú."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào loài thú, và đang cảm thọ những cảm thọ khổ, dữ dội, gay gắt.
Nhưng ở đây, này Sāriputta, sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào cảnh ngạ quỷ."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào cảnh ngạ quỷ, và đang cảm thọ những cảm thọ phần lớn là khổ.
[Chú thích: Khổ trong cảnh ngạ quỷ không phải khổ hoàn toàn, dữ dội và gay gắt như ở địa ngục, cũng không chỉ dữ dội và gay gắt như ở loài thú, mà chỉ là "phần lớn là khổ". Mức khổ giảm dần, và đến cõi người thì đảo lại, thành phần lớn là lạc, rồi hoàn toàn là lạc ở các cõi trời.]
Ví như, này Sāriputta, một cây mọc trên đất gồ ghề, lá mỏng, bóng râm lốm đốm.
[Chú thích: Có lẽ cây ấy mọc ở Úc, nơi đất đá, tán lá thưa thớt và ruồi thì hung hãn.]
Rồi một người đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, chỉ đi trên một con đường duy nhất hướng thẳng tới cây ấy.
Một người có mắt thấy người ấy, sẽ nói rằng:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên sẽ đi đến đúng cây này."
Rồi sau đó, người ấy thấy người kia đang ngồi hoặc nằm dưới bóng cây ấy, đang cảm thọ những cảm thọ phần lớn là khổ.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào cảnh ngạ quỷ."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào cảnh ngạ quỷ, và đang cảm thọ những cảm thọ phần lớn là khổ.
Nhưng ở đây, này Sāriputta, sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào loài người."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào loài người, và đang cảm thọ những cảm thọ phần lớn là lạc.
Ví như, này Sāriputta, một cây mọc trên đất bằng phẳng, lá dày, bóng râm rậm mát.
Rồi một người đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, chỉ đi trên một con đường duy nhất hướng thẳng tới cây ấy.
Một người có mắt thấy người ấy, sẽ nói rằng:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên sẽ đi đến đúng cây này."
Rồi sau đó, người ấy thấy người kia đang ngồi hoặc nằm dưới bóng cây ấy, đang cảm thọ những cảm thọ phần lớn là lạc.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào loài người."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào loài người, và đang cảm thọ những cảm thọ phần lớn là lạc.
Nhưng ở đây, này Sāriputta, sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào chỗ tốt, cõi trời."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào chỗ tốt, cõi trời, và đang cảm thọ những cảm thọ lạc hoàn toàn.
Ví như, này Sāriputta, một tòa nhà lầu có gác chóp, được trát trong trát ngoài, kín gió, then cửa đã cài, cửa sổ đã đóng.
Ở đó có một chiếc giường trải nệm len lông bò, nệm trắng, nệm thêu hoa, trải da linh dương hạng nhất, có màn che phía trên và gối đỏ ở hai đầu.
Rồi một người đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, chỉ đi trên một con đường duy nhất hướng thẳng tới tòa nhà lầu ấy.
Một người có mắt thấy người ấy, sẽ nói rằng:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên sẽ đi đến đúng tòa nhà lầu này."
Rồi sau đó, người ấy thấy người kia đang ngồi hoặc nằm trong tòa nhà lầu ấy, trong gác chóp ấy, trên chiếc giường ấy, đang cảm thọ những cảm thọ lạc hoàn toàn.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ sinh vào chỗ tốt, cõi trời.
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, đã sinh vào chỗ tốt, cõi trời, và đang cảm thọ những cảm thọ lạc hoàn toàn.
Nhưng ở đây, này Sāriputta, sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này sẽ tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này đã tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát, và đang cảm thọ những cảm thọ lạc hoàn toàn.
Ví như, này Sāriputta, một hồ sen có nước trong, nước ngọt, nước mát, nước sạch, bờ dễ xuống, khả ái.
Và không xa đó, có một khu rừng rậm.
[Chú thích: Chúng ta đã gặp tibba ở trên với nghĩa "dữ dội" của cảm thọ. Ở Mnd 14:58.13, một khu rừng như thế được kể là một trong bốn loại tối tăm.]
Rồi một người đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, chỉ đi trên một con đường duy nhất hướng thẳng tới hồ sen ấy.
Một người có mắt thấy người ấy, sẽ nói rằng:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên sẽ đi đến đúng hồ sen này."
Rồi sau đó, người ấy thấy người kia đã lặn xuống hồ sen ấy, tắm và uống, làm cho tất cả sự bức bối, mệt mỏi và nóng bức lắng xuống, rồi lên bờ, ngồi hoặc nằm trong khu rừng ấy, đang cảm thọ những cảm thọ lạc hoàn toàn.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây sau khi đã bao trùm tâm của một người nào đó bằng tâm của mình, Ta biết:
"Người này đã thực hành như vậy, đã sống như vậy, đã bước lên con đường như vậy, nên do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này sẽ tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát."
Sau đó, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn loài người, Ta thấy người ấy, vào một thời điểm khác, do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này đã tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát, và đang cảm thọ những cảm thọ lạc hoàn toàn.
Này Sāriputta, đó là năm cảnh giới.
Này Sāriputta, khi Ta biết như vậy và thấy như vậy, nếu có ai nói rằng:
"Sa-môn Gotama không có pháp siêu nhân, không có tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh;
Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận mà thành, theo dòng tìm tòi, tự mình nghĩ ra",
thì này Sāriputta, kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Ví như, này Sāriputta, một tỳ-kheo thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ có thể chứng đắc quả vị ngay trong đời này; này Sāriputta, Ta nói kết quả cũng như vậy.
Kẻ ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không buông bỏ kiến ấy, sẽ bị đặt vào địa ngục như bị người ta khiêng đến đó.
Này Sāriputta, Ta nhớ Ta đã từng sống đời phạm hạnh gồm bốn chi phần.
[Chú thích: Đức Thế Tôn nêu chủ đề này vì Sunakkhatta bị ấn tượng bởi những biểu diễn khổ hạnh. Đây là mô tả duy nhất về các phép tu của Bồ-tát trước khi giác ngộ; phần lớn nghe rất giống các phép tu của Kỳ-na giáo, được thực hành trong nhiều giai đoạn của sáu năm sau khi Bồ-tát xuất gia và trước khi Ngài giác ngộ. "Bốn sự chế ngự" mà người ta cho là của Kỳ-na giáo được ghi ở MN 56:12.2 và DN 2:29.2, còn ở DN 25:16.4 Đức Thế Tôn giải thích lại nó như việc giữ giới.]
Ta từng là người khổ hạnh, khổ hạnh tột cùng; Ta từng sống thô kệch, thô kệch tột cùng; Ta từng là người ghê tởm tội lỗi, ghê tởm tột cùng; Ta từng sống viễn ly, viễn ly tột cùng.
[Chú thích: "Khổ hạnh" (tapassī), "sống thô kệch" (lūkha), "ghê tởm tội lỗi" (jegucchī), "viễn ly" (pavivitta).]
Trong ấy, này Sāriputta, sự khổ hạnh của Ta là như vầy: Ta ở trần, không giữ lề thói, liếm tay, không nhận lời "hãy đến, này hiền giả", không dừng lại khi được mời "hãy đứng lại, này hiền giả"; Ta không nhận thức ăn người ta mang đến, không nhận thức ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời ăn.
[Chú thích: Tapas ("sức nóng, ngọn lửa, lòng sốt sắng, khổ hạnh") là ngọn lửa đau đớn của sự công chính chạy khắp thân khi thân bị đẩy đến cực độ; "lòng sốt sắng" ấy đốt sạch những dấu vết ô nhiễm của nghiệp và phiền não. Tỳ-kheo Phật giáo không được nhận thức ăn trong tay, cũng không được liếm tay khi ăn. Những người theo các phép tu kể ở đây đi khất thực một cách đều đặn và ngẫu nhiên, chỉ nhận những gì được cho ngay lúc ấy.]
Ta không nhận từ miệng nồi, không nhận từ miệng chén, không nhận từ nhà có nuôi cừu, không nhận từ nhà có cây gậy, không nhận từ nhà có chày giã, không nhận khi hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang ở với đàn ông, không nhận ở nơi có tin đồn, không nhận ở nơi có chó đứng chờ, không nhận ở nơi có ruồi bu từng bầy; Ta không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống men, không uống nước cháo lên men.
[Chú thích: Nuôi cừu để giết thịt đi ngược nguyên tắc bất hại của Kỳ-na giáo, cũng như việc giữ vũ khí. Musala thường nghĩa là "chày", nhưng cũng có thể là "xẻng"; ở MN 81:18.12, không dùng nó để đào đất được xem là một đức tính, vì Kỳ-na giáo cho đất là sinh vật sống. Thusodaka là một thứ cháo lên men từ trấu, được nhắc cùng với sovīraka trong chú giải Pali và Carakasaṁhitā 27g.191.]
Ta đi khất thực một nhà, ăn một miếng; hai nhà thì hai miếng; ba nhà thì ba miếng; bốn nhà thì bốn miếng; năm nhà thì năm miếng; sáu nhà thì sáu miếng; bảy nhà thì bảy miếng.
Ta sống với một chén nhỏ, sống với hai chén nhỏ; ba chén nhỏ; bốn chén nhỏ; năm chén nhỏ; sáu chén nhỏ; bảy chén nhỏ.
Ta ăn mỗi ngày một lần, ăn hai ngày một lần; ba ngày một lần; bốn ngày một lần; năm ngày một lần; sáu ngày một lần; bảy ngày một lần; cho đến nửa tháng một lần. Như vậy, Ta sống chuyên tâm vào việc ăn theo kỳ hạn.
Ta ăn rau cỏ, ăn kê, ăn lúa hoang, ăn gạo xấu, ăn bèo cái, ăn cám, ăn nước cháo, ăn bột mè, ăn cỏ, ăn phân bò; Ta sống bằng rễ và trái trong rừng, hoặc ăn trái rụng.
[Chú thích: Không dễ phân biệt có ý nghĩa các loại hạt khác nhau.]
Ta mặc vải gai, mặc vải gai pha, mặc vải liệm xác, mặc vải rách, mặc vỏ cây tirīṭa, mặc da linh dương, mặc da linh dương còn cả lông, mặc áo cỏ kusa, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng mảnh gỗ, mặc áo lông người, mặc áo lông đuôi ngựa, mặc áo cánh cú;
[Chú thích: Tất cả đều cực kỳ khó chịu. Các nhà khổ hạnh Kitô giáo mặc "áo lông" để hành hạ thân xác.]
Ta nhổ tóc và râu, chuyên tâm vào việc nhổ tóc và râu;
[Chú thích: Các nhà khổ hạnh Kỳ-na giáo nhổ tóc khi xuất gia, chứ không cạo.]
Ta thường đứng, từ chối chỗ ngồi;
[Chú thích: Giữ một tư thế trong nhiều tháng hay nhiều năm là một trong những phép tu khó nhất.]
Ta ngồi xổm, chuyên tâm vào việc ngồi xổm;
Ta nằm trên giường gai, lấy bụi gai làm chỗ nằm;
Ta chuyên tâm vào việc tắm nước ba lần mỗi ngày, kể cả lúc chiều tối;
[Chú thích: "Ba lần" là rạng đông, giữa trưa và hoàng hôn, được xem là ba "khớp" quan trọng (sandhyā). Điều này hình như không hợp chỗ ở đây: đó là phép tu của bà-la-môn (SN 7.21), vì Kỳ-na giáo hoàn toàn không tắm, nên mới có phần "sống thô kệch" ở dưới. Tắm ba lần một ngày trong khí hậu Ấn Độ hầu như cả năm là điều khá dễ chịu, nhưng đôi khi người ta cố tình tắm trong giá lạnh (Ud 1.9:1.3).]
Như vậy, Ta sống chuyên tâm vào nhiều cách hành hạ và đốt cháy thân xác.
Này Sāriputta, đó là sự khổ hạnh của Ta.
Trong ấy, này Sāriputta, sự sống thô kệch của Ta là như vầy:
[Chú thích: "Thô kệch" (lūkha) liên quan đến tiếng Phạn rūkṣa, trong các nghĩa có "dơ bẩn, lấm lem".]
Bụi và bẩn tích tụ trên thân Ta trong nhiều năm, đến mức đóng thành vảy.
Ví như, này Sāriputta, thân cây tinduka tích tụ vỏ trong nhiều năm, đến mức đóng thành vảy; cũng vậy, này Sāriputta, bụi và bẩn tích tụ trên thân Ta trong nhiều năm, đến mức đóng thành vảy.
Nhưng này Sāriputta, Ta không nghĩ rằng:
"Ôi, ước gì Ta dùng tay chà đi lớp bụi bẩn này, hoặc người khác dùng tay chà đi lớp bụi bẩn này cho Ta."
Này Sāriputta, Ta cũng không nghĩ như vậy.
Này Sāriputta, đó là sự sống thô kệch của Ta.
Trong ấy, này Sāriputta, sự ghê tởm tội lỗi của Ta là như vầy:
Này Sāriputta, Ta bước tới hay bước lui đều có chánh niệm, cho nên lòng thương xót đối với cả một giọt nước cũng khởi lên nơi Ta:
[Chú thích: Bồ-tát học chánh niệm khi thực hành các phép tu giống Kỳ-na giáo và về sau đưa nó vào bát chánh đạo (MN 36:20.7). Ngài cũng học chánh niệm nơi các thầy bà-la-môn (MN 26:15.17). "Lòng thương xót" là dayā, gần với các từ thường gặp hơn là karuṇā hay anukampa.]
"Ước gì Ta không gây ra sự giết hại cho các sinh vật nhỏ bé ở nơi đất gồ ghề."
[Chú thích: Cho đến ngày nay, các nhà khổ hạnh Kỳ-na giáo mang một cây chổi mềm để nhẹ nhàng quét các con côn trùng trên đường đi. "Đất gồ ghề" (visamagata) được chú giải giải thích là đất không bằng phẳng hoặc có cỏ, cành cây. Một con sư tử cũng được nói là suy nghĩ như vậy khi lên đường đi săn (AN 10.21:1.7).]
Này Sāriputta, đó là sự ghê tởm tội lỗi của Ta.
Trong ấy, này Sāriputta, sự viễn ly của Ta là như vầy:
[Chú thích: "Viễn ly" (viviktaśayyāsana) được Kỳ-na giáo xếp vào loại "khổ hạnh bên ngoài" (bāhyatapas) ở Tattvārthasūtra 9.19.]
Này Sāriputta, Ta đi sâu vào một khu rừng nào đó và trú ở đó.
Khi Ta thấy một người chăn bò, hay một người chăn gia súc, hay một người đi lấy cỏ, hay một người đi lấy củi, hay một người làm việc trong rừng, thì Ta chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ thung lũng này sang thung lũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác.
Vì sao vậy?
Để họ không thấy Ta, và Ta cũng không thấy họ.
Ví như, này Sāriputta, một con thú rừng thấy người thì chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ thung lũng này sang thung lũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác;
cũng vậy, này Sāriputta, khi Ta thấy một người chăn bò, hay một người chăn gia súc, hay một người đi lấy cỏ, hay một người đi lấy củi, hay một người làm việc trong rừng, thì Ta chạy từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ thung lũng này sang thung lũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác.
Vì sao vậy?
Để họ không thấy Ta, và Ta cũng không thấy họ.
Này Sāriputta, đó là sự viễn ly của Ta.
[Chú thích: Đây là kết thúc "đời phạm hạnh gồm bốn chi phần" ở MN 12:44.1.]
Này Sāriputta, Ta đi bằng bốn chân vào những chuồng bò đã bỏ trống, sau khi đàn bò đã đi và người chăn đã đi, rồi Ta ăn phân của những con bê, những con bò non và những con bò cái vừa đẻ.
Bao lâu phân tiểu của chính Ta chưa hết, này Sāriputta, Ta còn ăn cả phân tiểu của chính mình.
Này Sāriputta, đó là sự ăn những món hết sức phi tự nhiên của Ta.
[Chú thích: Ở Kd 6:14.6.3, bốn thứ "đại phi tự nhiên" (hay "món ăn dơ") là phân, nước tiểu, tro và đất sét.]
Này Sāriputta, Ta đi sâu vào một khu rừng nọ đáng sợ và trú ở đó.
Này Sāriputta, trong ấy, nỗi đáng sợ của khu rừng đáng sợ ấy là như vầy:
Bất cứ ai chưa lìa tham mà bước vào khu rừng ấy, thì phần lớn lông tóc đều dựng đứng.
Này Sāriputta, trong những đêm mùa đông giá lạnh, vào khoảng tám ngày giữa mùa, khi tuyết rơi, Ta ở ngoài trời suốt đêm và ở trong rừng suốt ngày;
[Chú thích: Antaraṭṭhakā (tiếng Phạn lai tạp aṣṭaka-rātri) là khoảng lạnh nhất của mùa đông Ấn Độ, giữa các ngày lễ rơi vào ngày thứ tám sau ngày trăng tròn trong hai tháng mùa đông Māgha và Phagguna. Khoảng này tương ứng với tháng Giêng, tháng lạnh nhất ở miền bắc Ấn Độ.]
vào tháng cuối của mùa hè, Ta ở ngoài trời suốt ngày và ở trong rừng suốt đêm.
Rồi này Sāriputta, những vần kệ này, không do ai mách bảo, chưa từng được nghe trước đây, khởi lên nơi Ta:
[Chú thích: "Không do ai mách bảo" (anacchariyā) bác bỏ việc kinh điển Vệ-đà được "kênh" từ Phạm Thiên; "chưa từng được nghe trước đây" (pubbe assutapubbā), lặp lại từ bài Chuyển Pháp Luân (SN 56.11:5.1), bác bỏ truyền thống truyền miệng.]
"Nóng cháy và lạnh buốt,
một mình trong khu rừng đáng sợ;
trần truồng, không có lửa để ngồi bên,
bậc hiền triết vẫn chuyên tâm vào sự tìm cầu."
Này Sāriputta, Ta lấy xương người chết làm gối và nằm trong nghĩa địa.
Rồi này Sāriputta, bọn côn đồ trong làng đi đến chỗ Ta, phun nước bọt, tiểu tiện vào người Ta, ném bụi đất lên người Ta, thậm chí nhét que vào lỗ tai Ta.
[Chú thích: Với "bọn côn đồ trong làng" (gāmaṇḍalā), so với aṇḍaka nghĩa "dữ tợn, độc ác" ở MN 41:9.4.]
Nhưng này Sāriputta, Ta không nhớ Ta đã từng khởi lên tâm xấu đối với họ.
Này Sāriputta, đó là sự an trú trong xả của Ta.
Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có chủ thuyết và kiến như vầy:
"Nhờ thức ăn mà được thanh tịnh."
[Chú thích: So với Chāndogya Upaniṣad 7.26.2: "từ sự thanh tịnh của thức ăn mà có sự thanh tịnh của thể tính; từ sự thanh tịnh của thể tính mà có ký ức vững bền; nương vào ký ức mà được giải thoát khỏi mọi ràng buộc."]
Họ nói như vầy:
"Chúng ta hãy sống bằng quả táo tàu."
Họ ăn táo tàu, ăn bột táo tàu, uống nước táo tàu,
và họ dùng nhiều món chế biến khác nhau từ táo tàu.
Nhưng này Sāriputta, Ta nhớ Ta đã từng chỉ ăn một quả táo tàu.
Này Sāriputta, ông có thể nghĩ rằng:
"Hẳn lúc ấy quả táo tàu phải rất lớn."
Nhưng này Sāriputta, không nên thấy như vậy.
Lúc ấy quả táo tàu cũng chỉ lớn bằng bây giờ.
Này Sāriputta, khi Ta chỉ ăn một quả táo tàu, thân Ta trở nên gầy gò cùng cực.
Ví như các đốt xương của người tám mươi tuổi hay của người sắp chết; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, các chi tiết lớn nhỏ trên thân Ta trở nên như vậy.
[Chú thích: Āsītika là "người tám mươi tuổi", kāḷa là "thời (chết)", còn pabba là "đốt".]
Ví như dấu chân lạc đà; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, mông của Ta trở nên như vậy.
Ví như chuỗi hạt; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, xương sống của Ta lồi lên lõm xuống như vậy.
Ví như những rui kèo xiêu vẹo của một nhà kho cũ; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, các xương sườn của Ta xiêu vẹo như vậy.
Ví như những ngôi sao nước nằm sâu dưới đáy giếng sâu; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, tròng mắt của Ta nằm sâu trong hốc mắt như vậy.
Ví như quả bí đắng xanh bị cắt lìa khỏi dây, bị gió nắng làm teo tóp và khô lại; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, da đầu của Ta teo tóp và khô lại như vậy.
Này Sāriputta, khi Ta nghĩ "Ta sẽ sờ vào da bụng", thì Ta lại nắm lấy xương sống; khi Ta nghĩ "Ta sẽ sờ vào xương sống", thì Ta lại nắm lấy da bụng; cho đến khi, này Sāriputta, do ăn quá ít như thế, da bụng của Ta dính chặt vào xương sống.
Này Sāriputta, do ăn quá ít như thế, khi Ta định đại tiện hay tiểu tiện, Ta ngã sấp ngay tại chỗ.
Này Sāriputta, khi Ta xoa bóp các chi để làm dịu thân, thì lông tóc, đã thối từ gốc, rụng khỏi thân Ta do ăn quá ít như thế.
Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có chủ thuyết và kiến như vầy:
"Nhờ thức ăn mà được thanh tịnh."
Họ nói như vầy:
"Chúng ta hãy sống bằng đậu xanh, bằng đậu đen."
"Chúng ta hãy sống bằng mè."
"Chúng ta hãy sống bằng gạo."
Họ ăn gạo, ăn bột gạo, uống nước gạo,
và họ dùng nhiều món chế biến khác nhau từ gạo.
Nhưng này Sāriputta, Ta nhớ Ta đã từng chỉ ăn một hạt gạo.
Này Sāriputta, ông có thể nghĩ rằng:
"Hẳn lúc ấy hạt gạo phải rất lớn."
Nhưng này Sāriputta, không nên thấy như vậy.
Lúc ấy hạt gạo cũng chỉ lớn bằng bây giờ.
Này Sāriputta, khi Ta chỉ ăn một hạt gạo, thân Ta trở nên gầy gò cùng cực.
Ví như các đốt xương của người tám mươi tuổi hay của người sắp chết; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, các chi tiết lớn nhỏ trên thân Ta trở nên như vậy.
Ví như dấu chân lạc đà; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, mông của Ta trở nên như vậy.
Ví như chuỗi hạt; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, xương sống của Ta lồi lên lõm xuống như vậy.
Ví như những rui kèo xiêu vẹo của một nhà kho cũ; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, các xương sườn của Ta xiêu vẹo như vậy.
Ví như những ngôi sao nước nằm sâu dưới đáy giếng sâu; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, tròng mắt của Ta nằm sâu trong hốc mắt như vậy.
Ví như quả bí đắng xanh bị cắt lìa khỏi dây, bị gió nắng làm teo tóp và khô lại; cũng vậy, do ăn quá ít như thế, da đầu của Ta teo tóp và khô lại như vậy.
Này Sāriputta, khi Ta nghĩ "Ta sẽ sờ vào da bụng", thì Ta lại nắm lấy xương sống; khi Ta nghĩ "Ta sẽ sờ vào xương sống", thì Ta lại nắm lấy da bụng; cho đến khi, này Sāriputta, do ăn quá ít như thế, da bụng của Ta dính chặt vào xương sống.
Này Sāriputta, do ăn quá ít như thế, khi Ta định đại tiện hay tiểu tiện, Ta ngã sấp ngay tại chỗ.
Này Sāriputta, khi Ta xoa bóp các chi để làm dịu thân, thì lông tóc, đã thối từ gốc, rụng khỏi thân Ta do ăn quá ít như thế.
Nhưng này Sāriputta, với cách sống ấy, với lối thực hành ấy, với sự hành xác khó nhọc ấy, Ta đã không chứng được pháp siêu nhân, không chứng được tri kiến thù thắng xứng với bậc thánh.
Vì sao vậy?
Vì Ta chưa chứng được tuệ thánh ấy, tuệ thánh và đưa ra khỏi, dẫn người thực hành đúng theo đó đến chỗ đoạn tận khổ đau hoàn toàn.
Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có chủ thuyết và kiến như vầy:
"Nhờ luân hồi mà được thanh tịnh."
[Chú thích: Một quan điểm được gán cho Makkhali Gosāla (DN 2:21.3). Ý niệm là luân hồi có giới hạn, nên sau một số đời nhất định người ta sẽ tự động được giải thoát.]
Nhưng này Sāriputta, không dễ gì tìm được một vòng luân hồi nào mà Ta chưa từng đi qua trong quãng thời gian dài này, trừ chư thiên ở các cõi Tịnh Cư.
Này Sāriputta, nếu Ta luân hồi đến chư thiên ở các cõi Tịnh Cư, thì Ta đã không còn trở lại thế giới này nữa.
[Chú thích: Chư thiên ở đó đều là bậc Bất lai và sẽ chứng A-la-hán ngay trong cõi ấy.]
Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có chủ thuyết và kiến như vầy:
"Nhờ tái sinh mà được thanh tịnh."
[Chú thích: Quan điểm này và quan điểm kế tiếp hình như là những cách lặp lại cùng một quan điểm trước đó. Có lẽ giữa chúng có một khác biệt tinh tế.]
Nhưng này Sāriputta, không dễ gì tìm được một chỗ tái sinh nào mà Ta chưa từng tái sinh trong quãng thời gian dài này, trừ chư thiên ở các cõi Tịnh Cư.
Này Sāriputta, nếu Ta tái sinh đến chư thiên ở các cõi Tịnh Cư, thì Ta đã không còn trở lại thế giới này nữa.
Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có chủ thuyết và kiến như vầy:
"Nhờ chỗ ở mà được thanh tịnh."
Nhưng này Sāriputta, không dễ gì tìm được một chỗ ở nào mà Ta chưa từng ở trong quãng thời gian dài này, trừ chư thiên ở các cõi Tịnh Cư.
Này Sāriputta, nếu Ta ở tại chư thiên ở các cõi Tịnh Cư, thì Ta đã không còn trở lại thế giới này nữa.
Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có chủ thuyết và kiến như vầy:
"Nhờ tế lễ mà được thanh tịnh."
[Chú thích: Đây dĩ nhiên là các bà-la-môn.]
Nhưng này Sāriputta, không dễ gì tìm được một lễ tế nào mà Ta chưa từng tế trong quãng thời gian dài này, khi Ta còn là vua chúa đã được quán đỉnh, hay một bà-la-môn đại phú.
Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có chủ thuyết và kiến như vầy:
"Nhờ thờ lửa mà được thanh tịnh."
[Chú thích: Lại nữa, thờ lửa là nghi lễ nền tảng, có lẽ là nghi lễ nền tảng nhất, của các bà-la-môn.]
Nhưng này Sāriputta, không dễ gì tìm được một ngọn lửa nào mà Ta chưa từng thờ trong quãng thời gian dài này, khi Ta còn là vua chúa đã được quán đỉnh, hay một bà-la-môn đại phú.
Này Sāriputta, có một số sa-môn, bà-la-môn có chủ thuyết và kiến như vầy:
"Bao lâu người đàn ông này còn trẻ, còn thanh xuân, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi trẻ, ở tuổi đầu tiên, thì bấy lâu người ấy có tuệ sáng suốt tột bậc.
Nhưng khi người đàn ông này đã già, đã lớn tuổi, đã cao niên, đã đi gần hết đường, đã đến tuổi cuối, tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, thì người ấy mất đi sự sáng suốt của tuệ."
Nhưng này Sāriputta, không nên thấy như vậy.
Nhưng này Sāriputta, nay Ta đã già, đã lớn tuổi, đã cao niên, đã đi gần hết đường, đã đến tuổi cuối; tuổi của Ta là tám mươi.
[Chú thích: Điều này định vị bài kinh này, và cả chuỗi kinh về Sunakkhatta, vào gần cuối đời Đức Thế Tôn.]
Này Sāriputta, giả sử Ta có bốn vị đệ tử sống đến một trăm tuổi, thọ một trăm năm, thành tựu chánh niệm tột bậc, sự đi tột bậc, sự kiên định tột bậc, và sự sáng suốt của tuệ tột bậc.
[Chú thích: Chánh niệm (sati), sự đi (gati), sự kiên định (dhiti), và sự sáng suốt của tuệ tột bậc (paññāveyyattiya). Ba điều đầu được Ānanda làm thí dụ (AN 1.220).]
Ví như, này Sāriputta, một người bắn cung giỏi, được huấn luyện, đã thành thục tay nghề và đã luyện tập nhiều, với cây cung mạnh, có thể dễ dàng bắn một mũi tên nhẹ xuyên qua bóng của cây cọ,
cũng vậy, các vị ấy có chánh niệm tột bậc, sự đi tột bậc, sự kiên định tột bậc, và thành tựu sự sáng suốt của tuệ tột bậc.
Các vị ấy sẽ lấy bốn niệm xứ làm đề tài mà hỏi Ta hết lần này đến lần khác; mỗi lần được hỏi, Ta sẽ trả lời cho họ; họ sẽ ghi nhớ lời Ta trả lời đúng như lời Ta trả lời, và sẽ không hỏi lại Ta lần thứ hai.
Ngoài việc ăn, uống, nhai, nếm; ngoài việc đại tiện, tiểu tiện; ngoài việc ngủ nghỉ để xua tan mệt mỏi, thì này Sāriputta, lời dạy Pháp của Như Lai sẽ vẫn chưa hết, văn cú của lời dạy Pháp ấy sẽ vẫn chưa hết, và sự ứng đáp cho các câu hỏi của Như Lai sẽ vẫn chưa hết.
Rồi này Sāriputta, sau một trăm năm, bốn vị đệ tử ấy, sống đến một trăm tuổi, thọ một trăm năm, sẽ qua đời.
Này Sāriputta, dù các ông có khiêng Ta đi trên cáng, thì sự sáng suốt của tuệ nơi Như Lai cũng không hề suy giảm.
Này Sāriputta, nếu có ai nói đúng pháp rằng:
"Một chúng sinh không còn bị si mê chi phối đã xuất hiện trên thế gian vì lợi ích và hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian, vì lợi ích, hạnh phúc của chư thiên và loài người", thì đó chính là Ta mà người ấy nói đúng pháp:
"Một chúng sinh không còn bị si mê chi phối đã xuất hiện trên thế gian vì lợi ích và hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian, vì lợi ích, hạnh phúc của chư thiên và loài người."
Lúc bấy giờ, tỳ-kheo Nāgasamāla đứng sau Đức Thế Tôn, quạt cho Ngài.
[Chú thích: Chúng ta gặp Nāgasamāla trong hoàn cảnh kém tốt đẹp hơn ở Ud 8.7, nơi ông cố chấp không đồng ý với Đức Thế Tôn về con đường nên đi.]
Rồi tỳ-kheo Nāgasamāla bạch Đức Thế Tôn:
"Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn!
Bạch Thế Tôn, khi nghe bài pháp này, lông tóc của con đều dựng đứng.
Bạch Thế Tôn, bài pháp này tên là gì?"
"Vậy thì, này Nāgasamāla, ông hãy ghi nhớ bài pháp này là 'Pháp môn làm dựng tóc gáy' (Lomahaṁsanapariyāya)."
[Chú thích: Tên gốc này được truyền thống ghi nhận rộng rãi: trong một số bài kệ uddāna của bản Miến Điện và Tích Lan, ở Mil 7.5.7:2.1, trong một bản Jātaka cùng tên (Ja 94), trong nhiều chú giải, và trong các bản Phạn và Hán đối chiếu. Chú giải phụ nói rằng tên Mahāsīhanāda do những người kết tập đặt.]
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tỳ-kheo Nāgasamāla hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Đại Kinh Sư Tử Hống, bài thứ hai, đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.