Trung Bộ Kinh · bài 144/152
Kinh Dạy Channa
Channovāda Sutta — lời khuyên dạy tỳ-kheo Channa
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Dạy Channa (Channovāda Sutta) là bài kinh thứ 144 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại Rājagaha (Vương Xá), nơi Đức Thế Tôn đang trú trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm). Ba vị tỳ-kheo là Sāriputta (Xá-lợi-phất), Mahācunda (Ma-ha Chu-na) và Channa cùng trú trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), và Channa đang bị một căn bệnh nặng.
Mở đầu, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahācunda đến thăm người bạn đồng tu đang bệnh. Lời hỏi thăm của Sāriputta theo đúng khuôn mẫu quen thuộc của kinh điển: ông có chịu đựng nổi không, cơn đau có đang giảm đi hay đang tăng lên? Câu trả lời của Channa là bốn hình ảnh rất cụ thể về cơn đau: như có người khoan mũi nhọn bén vào đỉnh đầu, như có ai siết một mảnh da bò dai quanh đầu, như có người đồ tể rạch toạc cái bụng, như bị hai người khỏe nắm lấy hai cánh tay mà nướng trên hố than hồng. Ông nói rằng mình không còn chịu đựng nổi, và sẽ lấy dao kết liễu đời mình.
Hai vị kia cố ngăn lại. Các vị ngỏ ý tìm thức ăn thích hợp, thuốc thích hợp và người chăm sóc cho ông. Channa đáp rằng mình không thiếu thứ nào trong ba thứ ấy. Điều ông muốn nói thì lại là chuyện khác: bao lâu nay ông đã phụng sự bậc Đạo sư với lòng tôn kính, chứ không phải bằng sự miễn cưỡng, và ông muốn Sāriputta ghi nhận một điều, rằng tỳ-kheo Channa sẽ ra đi mà không đáng chê trách.
Rồi Sāriputta hỏi ông một câu về giáo pháp. Vị ấy hỏi Channa có quán mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và những gì được nhận biết qua chúng là "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" không. Channa đáp là không: ông quán chúng là "cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi". Sāriputta hỏi tiếp: ông đã thấy gì, đã biết trực tiếp gì mà quán như vậy? Câu trả lời là: ông đã thấy sự chấm dứt, đã biết trực tiếp sự chấm dứt nơi những pháp ấy.
Tôn giả Mahācunda mới nói thêm một lời. Vị ấy nhắc Channa nên thường xuyên để tâm đến lời dạy của Đức Thế Tôn: với người còn nương tựa thì có dao động, với người không nương tựa thì không có dao động; khi không có dao động thì có sự an tịnh; khi có sự an tịnh thì không có khuynh hướng; khi không có khuynh hướng thì không có đi và đến; khi không có đi và đến thì không có chết đi và tái sinh; và chính chỗ ấy là sự chấm dứt của khổ.
Hai vị ra về, và Channa kết liễu đời mình không lâu sau đó. Câu hỏi còn lại là: một người ra đi như vậy thì đi về đâu? Đức Thế Tôn không trả lời bằng một phán xét đơn giản. Ngài nhắc Sāriputta rằng chính Channa đã tuyên bố mình không đáng chê trách, rồi nêu tiêu chuẩn của Ngài: ai còn từ bỏ thân này mà nắm lấy thân khác thì Ngài gọi là đáng chê trách; nơi Channa thì điều ấy không có. Đây là chỗ bài kinh đặt ra một câu hỏi khó, và kinh điển không giấu điều đó: việc tự kết liễu đời mình thường bị xem là sai, nhưng người ta vẫn hiểu rằng với một vị đã chứng quả A-la-hán, đang ở những ngày cuối của một căn bệnh hiểm nghèo, trường hợp ấy khác. Người đọc hôm nay có thể đọc bài kinh này như một ghi chép về lòng trung thành của một người đệ tử với bậc thầy của mình, và như một câu hỏi đạo đức mà kinh điển để ngỏ.
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh này cũng xuất hiện trong Tương Ưng Bộ 35.87. Ở đó cũng như ở đây, ngay sau bài này là Kinh Dạy Puṇṇa (Trung Bộ 145, Tương Ưng 35.88).]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahācunda (Ma-ha Chu-na), và Tôn giả Channa đang trú trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).
[Chú thích: Về Tôn giả Mahācunda, xem chú thích ở Trung Bộ 8:2.1. Tôn giả Channa trong bài này chỉ xuất hiện ở đây, và rõ ràng không phải người đánh xe cũ của Đức Thế Tôn, vị nổi tiếng vì bị quở trách trong dịp Đức Thế Tôn nhập diệt (Trường Bộ 16:6.4.1).]
Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng.
Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều, sau khi ra khỏi chỗ tĩnh cư, đi đến chỗ Tôn giả Mahācunda; đến rồi, nói với Tôn giả Mahācunda:
"Này hiền giả Cunda, chúng ta hãy cùng đi đến chỗ Tôn giả Channa để hỏi thăm bệnh."
"Vâng, hiền giả," Tôn giả Mahācunda đáp lời Tôn giả Sāriputta.
Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahācunda đi đến chỗ Tôn giả Channa; đến rồi, chào hỏi nhau.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi xã giao và những câu chuyện thân tình, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Channa:
"Này hiền giả Channa, ông có chịu đựng nổi không? Có cầm cự được không? Những cảm thọ khổ có giảm đi chứ không tăng lên không? Ông có thấy rõ chúng đang giảm đi chứ không tăng lên không?"
"Này hiền giả Sāriputta, tôi không chịu đựng nổi, không cầm cự được. Những cảm thọ khổ của tôi tăng lên dữ dội, chứ không giảm đi; tôi thấy rõ chúng đang tăng lên, chứ không giảm đi.
Ví như một người khỏe mạnh dùng mũi nhọn bén khoan vào đỉnh đầu; cũng vậy, này hiền giả Sāriputta, những luồng gió dữ dội đang xô đẩy trong đầu tôi.
Này hiền giả Sāriputta, tôi không chịu đựng nổi, không cầm cự được. Những cảm thọ khổ của tôi tăng lên dữ dội, chứ không giảm đi; tôi thấy rõ chúng đang tăng lên, chứ không giảm đi.
Ví như một người khỏe mạnh dùng một mảnh da bò dai siết chặt quanh đầu; cũng vậy, này hiền giả Sāriputta, những cơn đau ở đầu tôi thật dữ dội.
Này hiền giả Sāriputta, tôi không chịu đựng nổi, không cầm cự được. Những cảm thọ khổ của tôi tăng lên dữ dội, chứ không giảm đi; tôi thấy rõ chúng đang tăng lên, chứ không giảm đi.
Ví như một người đồ tể khéo tay, hay một học trò của người đồ tể, dùng con dao mổ bò thật bén rạch toạc cái bụng; cũng vậy, này hiền giả Sāriputta, những luồng gió dữ dội đang rạch toạc bụng tôi.
Này hiền giả Sāriputta, tôi không chịu đựng nổi, không cầm cự được. Những cảm thọ khổ của tôi tăng lên dữ dội, chứ không giảm đi; tôi thấy rõ chúng đang tăng lên, chứ không giảm đi.
Ví như hai người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy hai cánh tay một người yếu hơn mà nướng và thiêu đốt anh ta trên một hố than hồng; cũng vậy, này hiền giả Sāriputta, sức nóng trong thân tôi thật dữ dội.
Này hiền giả Sāriputta, tôi không chịu đựng nổi, không cầm cự được. Những cảm thọ khổ của tôi tăng lên dữ dội, chứ không giảm đi; tôi thấy rõ chúng đang tăng lên, chứ không giảm đi.
Này hiền giả Sāriputta, tôi sẽ lấy dao kết liễu đời mình. Tôi không muốn sống nữa."
[Chú thích: Xem chú thích ở Trung Bộ 145:5.32.]
"Xin hiền giả Channa đừng lấy dao kết liễu đời mình.
Xin hiền giả Channa hãy tiếp tục sống. Chúng tôi muốn hiền giả Channa tiếp tục sống.
Nếu hiền giả Channa không có thức ăn thích hợp, tôi sẽ đi tìm thức ăn thích hợp cho hiền giả Channa.
Nếu hiền giả Channa không có thuốc thích hợp, tôi sẽ đi tìm thuốc thích hợp cho hiền giả Channa.
Nếu hiền giả Channa không có người chăm sóc thích đáng, tôi sẽ chăm sóc hiền giả Channa.
Xin hiền giả Channa đừng lấy dao kết liễu đời mình.
Xin hiền giả Channa hãy tiếp tục sống. Chúng tôi muốn hiền giả Channa tiếp tục sống."
"Này hiền giả Sāriputta, không phải là tôi không có thức ăn thích hợp;
không phải là tôi không có thuốc thích hợp;
không phải là tôi không có người chăm sóc thích đáng;
mà là, này hiền giả Sāriputta, tôi đã phụng sự bậc Đạo sư từ lâu, bằng những gì vừa lòng chứ không bằng những gì trái ý.
Vì đó là điều thích hợp với một người đệ tử: phụng sự bậc Đạo sư bằng những gì vừa lòng, chứ không bằng những gì trái ý.
'Tỳ-kheo Channa sẽ lấy dao kết liễu đời mình mà không đáng chê trách.' Này hiền giả Sāriputta, ông hãy ghi nhớ điều ấy như vậy."
"Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Channa một điểm, nếu Tôn giả Channa cho phép và dành thời giờ để trả lời câu hỏi."
"Này hiền giả Sāriputta, ông cứ hỏi; nghe rồi tôi sẽ biết."
"Này hiền giả Channa, ông có quán thấy mắt, thức của mắt, và những pháp được thức của mắt nhận biết như vầy không: 'Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, tai, thức của tai, và những pháp được thức của tai nhận biết — ông có quán thấy chúng như vầy không: 'Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, mũi, thức của mũi, và những pháp được thức của mũi nhận biết — ông có quán thấy chúng như vầy không: 'Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, lưỡi, thức của lưỡi, và những pháp được thức của lưỡi nhận biết — ông có quán thấy chúng như vầy không: 'Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, thân, thức của thân, và những pháp được thức của thân nhận biết — ông có quán thấy chúng như vầy không: 'Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, ý, thức của ý, và những pháp được thức của ý nhận biết — ông có quán thấy chúng như vầy không: 'Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi'?"
"Này hiền giả Sāriputta, tôi quán thấy mắt, thức của mắt, và những pháp được thức của mắt nhận biết như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, tai, thức của tai, và những pháp được thức của tai nhận biết — tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, mũi, thức của mũi, và những pháp được thức của mũi nhận biết — tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, lưỡi, thức của lưỡi, và những pháp được thức của lưỡi nhận biết — tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, thân, thức của thân, và những pháp được thức của thân nhận biết — tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, ý, thức của ý, và những pháp được thức của ý nhận biết — tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'"
"Này hiền giả Channa, nơi mắt, nơi thức của mắt, nơi những pháp được thức của mắt nhận biết, ông đã thấy gì, đã biết trực tiếp gì, mà ông quán thấy mắt, thức của mắt, và những pháp được thức của mắt nhận biết như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, nơi tai, nơi thức của tai, nơi những pháp được thức của tai nhận biết, ông đã thấy gì, đã biết trực tiếp gì, mà ông quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, nơi mũi, nơi thức của mũi, nơi những pháp được thức của mũi nhận biết, ông đã thấy gì, đã biết trực tiếp gì, mà ông quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi'?"
"Này hiền giả Channa, nơi lưỡi, nơi thức của lưỡi, nơi những pháp được thức của lưỡi nhận biết, ông đã thấy gì, đã biết trực tiếp gì, mà ông quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, nơi thân, nơi thức của thân, nơi những pháp được thức của thân nhận biết, ông đã thấy gì, đã biết trực tiếp gì, mà ông quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi'?
Này hiền giả Channa, nơi ý, nơi thức của ý, nơi những pháp được thức của ý nhận biết, ông đã thấy gì, đã biết trực tiếp gì, mà ông quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi'?"
"Này hiền giả Sāriputta, nơi mắt, nơi thức của mắt, nơi những pháp được thức của mắt nhận biết, sau khi thấy sự chấm dứt, sau khi biết trực tiếp sự chấm dứt, tôi quán thấy mắt, thức của mắt, và những pháp được thức của mắt nhận biết như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, nơi tai, nơi thức của tai, nơi những pháp được thức của tai nhận biết, sau khi thấy sự chấm dứt, sau khi biết trực tiếp sự chấm dứt, tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, nơi mũi, nơi thức của mũi, nơi những pháp được thức của mũi nhận biết, sau khi thấy sự chấm dứt, sau khi biết trực tiếp sự chấm dứt, tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, nơi lưỡi, nơi thức của lưỡi, nơi những pháp được thức của lưỡi nhận biết, sau khi thấy sự chấm dứt, sau khi biết trực tiếp sự chấm dứt, tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, nơi thân, nơi thức của thân, nơi những pháp được thức của thân nhận biết, sau khi thấy sự chấm dứt, sau khi biết trực tiếp sự chấm dứt, tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'
Này hiền giả Sāriputta, nơi ý, nơi thức của ý, nơi những pháp được thức của ý nhận biết, sau khi thấy sự chấm dứt, sau khi biết trực tiếp sự chấm dứt, tôi quán thấy chúng như vầy: 'Cái này không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.'"
Khi nghe vậy, Tôn giả Mahācunda nói với Tôn giả Channa:
"Vậy thì, này hiền giả Channa, ông nên thường xuyên để tâm đến lời dạy này của Đức Thế Tôn:
[Chú thích: Tôn giả Mahācunda sắp trích một câu xuất hiện trong Kinh Phật tự thuyết (Udāna) 8.4.]
'Với người còn nương tựa thì có dao động; với người không nương tựa thì không có dao động.
[Chú thích: "Còn nương tựa" chỉ thế giới của những điều kiện; "không nương tựa" là Niết-bàn. "Dao động" là calita.]
Khi không có dao động thì có sự an tịnh,
khi có sự an tịnh thì không có khuynh hướng.
[Chú thích: "Khuynh hướng" là nati, từ một gốc có nghĩa là "uốn cong"; ở đây từ này chỉ tâm nghiêng về phía tái sinh, và chú giải giải thích đó là tham ái. Đây không phải là "khuynh hướng của tâm" theo nghĩa thông thường như ở Trung Bộ 19:6.1.]
Khi không có khuynh hướng thì không có đi và đến.
Khi không có đi và đến thì không có chết đi và tái sinh.
Khi không có chết đi và tái sinh thì không có đời này, không có đời sau, và không có gì ở giữa hai đời ấy.
[Chú thích: Vũ trụ quan Vệ-đà hình dung thế giới gồm ba phần: đất, trời, và khoảng không ở giữa. Về sau, quá trình tái sinh được hình dung như một con đường đi lên giữa các cõi, và kinh điển cũng xem tái sinh là việc đi từ nơi này sang nơi khác, như một người rời nhà này, đi xuống phố rồi vào nhà khác.]
Chính đây là sự chấm dứt của khổ.'"
Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahācunda, sau khi khuyên dạy Tôn giả Channa bằng lời khuyên này, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.
Rồi Tôn giả Channa, không lâu sau khi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahācunda ra đi, đã lấy dao kết liễu đời mình.
Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã lấy dao kết liễu đời mình.
Ông ấy sẽ đi về đâu, đời sau sẽ thế nào?"
"Này Sāriputta, chẳng phải tỳ-kheo Channa đã tuyên bố ngay trước mặt ông rằng mình không đáng chê trách đó sao?"
"Bạch Thế Tôn, có một ngôi làng của người Vajjī (Bạt-kỳ) tên là Pubbajira.
[Chú thích: Tên làng này có nhiều cách viết khác nhau trong các bản, và dường như không xuất hiện ở chỗ nào khác.]
Ở đó, Tôn giả Channa có những gia đình bạn hữu, thân thiết, thường lui tới."
[Chú thích: Chữ upavajja ở đây chơi chữ: nó vừa có nghĩa "đáng chê trách", vừa có nghĩa "thường lui tới thăm viếng". Chú giải hiểu theo nghĩa sau, còn Đức Thế Tôn ở đoạn dưới dùng nó theo nghĩa trước.]
"Này Sāriputta, tỳ-kheo Channa quả thật có những gia đình bạn hữu, thân thiết, thường lui tới.
Này Sāriputta, chỉ chừng ấy thì Ta không gọi là 'đáng chê trách'.
Này Sāriputta, ai từ bỏ thân này mà nắm lấy thân khác, kẻ ấy Ta gọi là 'đáng chê trách'.
Nơi tỳ-kheo Channa thì điều ấy không có.
[Chú thích: Đức Thế Tôn xác nhận rằng Channa đã chứng quả A-la-hán.]
'Tỳ-kheo Channa đã lấy dao kết liễu đời mình mà không đáng chê trách.' Này Sāriputta, ông hãy ghi nhớ điều ấy như vậy."
[Chú thích: Kinh điển thường lên án việc tự kết liễu đời mình, vì đó là lấy đi mạng sống con người. Nhưng từ trường hợp này và những trường hợp tương tự, người ta thường hiểu rằng một vị A-la-hán đang ở những ngày cuối của một căn bệnh hiểm nghèo thì được phép làm vậy, vì các vị không còn có thể làm điều gì đáng chê trách. Đây là vấn đề phức tạp, không thể giải quyết bằng vài đoạn kinh ngắn.]
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Sāriputta hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Kinh Dạy Channa, bài thứ hai, kết thúc tại đây.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.