Trung Bộ Kinh · bài 146/152
Kinh Dạy Nandaka
Nandakovāda Sutta — bài kinh lời khuyên của Tôn giả Nandaka
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài kinh này diễn ra tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong khu rừng Jeta (Kỳ-đà) của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Một hôm, bà Mahāpajāpati Gotamī (Ma-ha-ba-xà-bà-đề Cồ-đàm-di) — người đã nuôi nấng Đức Thế Tôn từ khi Ngài còn nhỏ — dẫn theo khoảng năm trăm tỳ-kheo-ni, tức những nữ tu sĩ, đến thỉnh Ngài dạy bảo và thuyết pháp cho họ. Đó là một cảnh rất đời thường của Tăng đoàn thời bấy giờ: các vị nữ tu cần người hướng dẫn, và việc ấy được giao cho các tỳ-kheo nam luân phiên đảm nhận.
Hôm ấy đến lượt Tôn giả Nandaka, nhưng Tôn giả không muốn nhận. Đức Thế Tôn hỏi Tôn giả Ānanda (A-nan) hôm nay đến lượt ai, và Ānanda thưa rằng Tôn giả Nandaka không muốn dạy bảo các tỳ-kheo-ni. Đức Thế Tôn liền gọi Tôn giả Nandaka và bảo hãy dạy bảo các tỳ-kheo-ni, còn gọi Tôn giả là "bà-la-môn" theo dòng dõi xuất thân. Tôn giả vâng lời, đi khất thực trong thành Sāvatthī, rồi sau bữa ăn cùng một người bạn đồng hành đi đến Rājakārāma, trú xứ của các tỳ-kheo-ni.
Điều đáng chú ý là cách Tôn giả Nandaka nhận lời. Sau khi ngồi xuống và rửa chân, Tôn giả không thuyết giảng một chiều mà tuyên bố: cuộc nói chuyện này sẽ theo lối hỏi đáp. Ai hiểu thì nói là hiểu, ai không hiểu thì nói là không hiểu, và ai còn nghi ngờ hay phân vân thì cứ hỏi lại chính Tôn giả. Với một cộng đồng nữ tu thời bấy giờ, việc mời gọi họ đặt câu hỏi như vậy là một thái độ rất đáng ghi nhận.
Phần chính của bài kinh là một loạt câu hỏi về sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; về sáu đối tượng của chúng: hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm và pháp; và về sáu loại thức khởi lên khi giác quan tiếp xúc với đối tượng. Với mỗi thứ, Tôn giả hỏi ba câu: nó là thường hay vô thường; nếu vô thường thì là khổ hay lạc; nếu vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để xem nó là "của tôi", là "tôi", là "tự ngã của tôi" hay không. Các tỳ-kheo-ni trả lời theo đúng lẽ, và đến cuối thì thưa rằng điều ấy họ đã thấy rõ bằng chánh tuệ từ trước — nghĩa là họ đã chứng quả Dự lưu, tầng thánh đầu tiên, trước khi nghe bài giảng này.
Để làm rõ vì sao cảm giác không thể là một cái tôi thường còn, Tôn giả đưa ra ba hình ảnh. Ngọn đèn dầu: dầu, bấc, ngọn lửa đều vô thường, nên ánh sáng cũng không thể thường còn. Cây lớn: rễ, thân, cành lá đều vô thường, nên bóng mát cũng vậy. Và người đồ tể lóc da bò: dù có phủ lại tấm da lên mình bò, con bò cũng không còn dính liền với da nữa — cũng như khi tuệ của bậc thánh cắt đứt những sợi dây tham ái nối liền giác quan với đối tượng, cái "tôi" quen thuộc không còn chỗ đứng.
Bài kinh khép lại bằng hình ảnh mặt trăng. Lần dạy thứ nhất, Đức Thế Tôn ví các tỳ-kheo-ni với trăng ngày mười bốn: họ hoan hỷ nhưng chưa tròn đủ. Ngài bảo Tôn giả Nandaka ngày mai dạy lại; lần thứ hai, các vị như trăng ngày mười lăm, và cả vị cuối cùng trong năm trăm vị đều đã chứng quả Dự lưu. Có lẽ điều đáng đọc nhất ở đây không phải một giáo lý cao siêu, mà là cách một người thầy đưa người nghe tự kiểm tra từng giác quan của mình, và cách một cộng đồng tu nữ trở thành nhân vật chính của một bài kinh.
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh liên quan đến việc dạy bảo tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng, một tập tục có lẽ được lập ra từ khi bà Mahāpajāpati xuất gia và được quy định trong Luật tạng. Đây là chỗ duy nhất trong các bài kinh nhắc đến việc dạy bảo như vậy, và cách dạy ở đây không theo khuôn của Luật tạng, nơi nội dung chỉ gồm tám trọng pháp và các tỳ-kheo không được đến trú xứ của tỳ-kheo-ni để dạy.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Rồi Mahāpajāpati Gotamī (Ma-ha-ba-xà-bà-đề Cồ-đàm-di) cùng với khoảng năm trăm tỳ-kheo-ni đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, bà đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Mahāpajāpati Gotamī bạch Đức Thế Tôn:
[Chú thích: Ở đây bà Mahāpajāpati xuất hiện với vai trò lãnh đạo, đúng như điều người ta kỳ vọng nếu bà là người sáng lập Tăng đoàn tỳ-kheo-ni. Tuy vậy, đây là trường hợp duy nhất trong kinh cho thấy bà ở vai trò ấy.]
Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn dạy bảo các tỳ-kheo-ni;
bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn giáo huấn các tỳ-kheo-ni;
bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn thuyết pháp cho các tỳ-kheo-ni.
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo trưởng lão dạy bảo các tỳ-kheo-ni theo lượt.
[Chú thích: Tỳ-kheo phải được Tăng đoàn chỉ định mới được nhận việc này, và phải hội đủ tám điều kiện: có giới, học rộng, thuộc cả hai bộ Luật, nói khéo, được các tỳ-kheo-ni quý mến, có khả năng dạy dỗ, chưa từng phạm trọng tội với tỳ-kheo-ni, và đã thọ giới ít nhất hai mươi năm.]
Tôn giả Nandaka không muốn dạy bảo các tỳ-kheo-ni theo lượt.
[Chú thích: Tôn giả Nandaka nổi tiếng về việc giảng dạy cho các tỳ-kheo, và chính nhờ bài pháp này mà về sau Tôn giả được tuyên bố là đệ nhất trong việc dạy bảo tỳ-kheo-ni. Kinh không nói vì sao Tôn giả ngần ngại; chú giải cho rằng các tỳ-kheo-ni ấy từng là vợ Tôn giả trong những đời trước, nên Tôn giả muốn tránh chuyện thị phi.]
Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda (A-nan):
Này Ānanda, hôm nay đến lượt ai dạy bảo các tỳ-kheo-ni theo lượt?
Bạch Thế Tôn, tất cả đều đã đến lượt rồi.
[Chú thích của người dịch: Bản Pali ở đây đọc là "tất cả đều đã đến lượt"; một số bản khác đọc là "lượt của Nandaka".]
Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Nandaka đây không muốn dạy bảo các tỳ-kheo-ni theo lượt.
Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Nandaka:
Này Nandaka, hãy dạy bảo các tỳ-kheo-ni;
này Nandaka, hãy giáo huấn các tỳ-kheo-ni;
này bà-la-môn, ông hãy thuyết pháp cho các tỳ-kheo-ni.
[Chú thích của người dịch: Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Nandaka là "bà-la-môn" theo dòng dõi xuất thân, không phải vì Tôn giả còn là người tại gia.]
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Nandaka vâng lời Đức Thế Tôn, rồi vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.
Sau khi đi khất thực trong Sāvatthī, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, Tôn giả cùng một người bạn đồng hành đi đến Rājakārāma (tịnh xá của vua).
[Chú thích: Rājakārāma là trú xứ của các tỳ-kheo-ni gần Sāvatthī, cũng xuất hiện trong Tương Ưng Bộ Kinh 55.11.]
Các tỳ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi lại.
Thấy vậy, các vị ấy trải chỗ ngồi và đặt nước rửa chân.
Tôn giả Nandaka ngồi xuống chỗ ngồi đã trải.
Ngồi xong, Tôn giả rửa chân.
Các tỳ-kheo-ni ấy đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên.
Khi các tỳ-kheo-ni ấy đã ngồi xuống một bên, Tôn giả Nandaka nói với họ:
Này các tỳ-kheo-ni, cuộc nói chuyện này sẽ theo lối hỏi đáp.
Ở đây, vị nào hiểu thì nên nói "chúng con hiểu", vị nào không hiểu thì nên nói "chúng con không hiểu".
Và nếu ai có điều nghi ngờ hay phân vân, thì hãy hỏi lại chính ta:
"Bạch Ngài, điều này thế nào? Điều ấy có ý nghĩa gì?"
[Chú thích: Tôn giả Nandaka không thuyết giảng một chiều mà đối thoại với các tỳ-kheo-ni. Tôn giả cho thấy rõ rằng, ngược với kỳ vọng thời bấy giờ, các tỳ-kheo-ni nên hỏi lại cho rõ nghĩa.]
Bạch Ngài, chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ khiến chúng con hoan hỷ và thỏa thích, vì Tôn giả Nandaka đã mời chúng con như vậy.
[Chú thích: Như vậy là ứng với một trong những điều kiện cần có của người dạy bảo tỳ-kheo-ni.]
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni,
mắt là thường hay vô thường?
[Chú thích: Cuộc đối thoại bắt đầu từ những gì hiển nhiên nhất — các giác quan bên trong — rồi lần lượt phân tích từng thứ theo ba đặc tính: vô thường, khổ, vô ngã. Tôn giả Nandaka bảo đảm các tỳ-kheo-ni theo kịp từng bước.]
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni,
tai là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
mũi là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
lưỡi là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thân là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
ý là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, điều ấy chúng con đã thấy rõ như thật bằng chánh tuệ từ trước:
"Sáu nội xứ này là vô thường."
[Chú thích: Mức độ tuệ giác trực tiếp như vậy thường cho thấy quả vị Dự lưu; xem đoạn 27.5 ở dưới.]
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni,
các hình sắc là thường hay vô thường?
[Chú thích của người dịch: Sáu nội xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; sáu ngoại xứ là hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm và pháp, tức những đối tượng tương ứng của chúng.]
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni,
các âm thanh là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
các mùi hương là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
các vị nếm là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
các xúc chạm là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
các pháp là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, điều ấy chúng con đã thấy rõ như thật bằng chánh tuệ từ trước:
"Sáu ngoại xứ này là vô thường."
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni,
thức của mắt là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni, thức của tai là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của mũi là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của lưỡi là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của thân là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của ý là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, điều ấy chúng con đã thấy rõ như thật bằng chánh tuệ từ trước:
"Sáu loại thức này là vô thường."
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Ví như, này các tỳ-kheo-ni, một ngọn đèn dầu đang cháy: dầu cũng vô thường, có bản chất biến đổi; bấc cũng vô thường, có bản chất biến đổi; ngọn lửa cũng vô thường, có bản chất biến đổi; ánh sáng cũng vô thường, có bản chất biến đổi.
[Chú thích: Hình ảnh ngọn lửa lệ thuộc vào nhiên liệu thì quen thuộc trong kinh, nhưng ẩn dụ đúng như ở đây thì không thấy ở chỗ khác. Thường thì Đức Thế Tôn dùng ẩn dụ theo cấu trúc giảng nghĩa, đưa ví dụ, rồi lặp lại lời giảng; ở đây ẩn dụ lại là bàn đạp cho bước lập luận kế tiếp, tức tính vô thường của các cảm thọ.]
Này các tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói như vầy:
Trong khi ngọn đèn dầu ấy đang cháy, dầu, bấc và ngọn lửa đều vô thường, có bản chất biến đổi;
nhưng ánh sáng của nó thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, vì ngọn đèn dầu ấy đang cháy, dầu, bấc và ngọn lửa đều vô thường, có bản chất biến đổi;
huống chi là ánh sáng của nó, bạch Ngài, cũng vô thường, có bản chất biến đổi.
[Chú thích: Tự ngã thường được ví với ánh sáng, chẳng hạn trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.3.7.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói như vầy:
Sáu nội xứ là vô thường;
nhưng lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ mà người ta cảm nhận do duyên sáu nội xứ ấy thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, do duyên với duyên tương ứng mà các thọ tương ứng khởi lên.
Khi duyên tương ứng ấy diệt, thì các thọ tương ứng ấy cũng diệt.
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Ví như, này các tỳ-kheo-ni, một cây lớn có lõi cây đang đứng đó: rễ cũng vô thường, có bản chất biến đổi; thân cây cũng vô thường, có bản chất biến đổi; cành và lá cũng vô thường, có bản chất biến đổi; bóng mát cũng vô thường, có bản chất biến đổi.
[Chú thích: Đây lại là một cách dùng mới cho một hình ảnh quen thuộc, dù một ẩn dụ tương tự — sáu giác quan như bóng của cây cột — có trong Tăng Chi Bộ Kinh 4.195.]
Này các tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói như vầy:
Cây lớn có lõi cây ấy đang đứng đó: rễ, thân, cành và lá đều vô thường, có bản chất biến đổi; nhưng bóng mát của nó thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, vì cây lớn có lõi cây ấy đang đứng đó: rễ, thân, cành và lá đều vô thường, có bản chất biến đổi;
huống chi là bóng mát của nó, bạch Ngài, cũng vô thường, có bản chất biến đổi.
[Chú thích: Trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 2.1.12, thần linh cũng được đồng nhất, tuy chưa đầy đủ, với bóng mát. Từ thời Vệ-đà, bóng mát vừa là nơi trú ẩn khỏi nắng nóng, vừa là bóng của thần chết.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói như vầy:
Sáu ngoại xứ là vô thường.
[Chú thích: Dùng bóng mát để ví với ngoại xứ là hình ảnh ngược lại với ánh sáng dùng cho nội xứ. Điều này cho thấy Tôn giả Nandaka đã sắp xếp bài dạy rất chặt chẽ. Việc chuyển từ ánh sáng sang bóng tối cũng ngầm chuẩn bị cho hình ảnh tối hơn sắp tới.]
nhưng lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ mà người ta cảm nhận do duyên sáu ngoại xứ ấy thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, do duyên với duyên tương ứng mà các thọ tương ứng khởi lên.
Khi duyên tương ứng ấy diệt, thì các thọ tương ứng ấy cũng diệt.
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Ví như, này các tỳ-kheo-ni, một người đồ tể khéo tay hay học trò của người ấy giết một con bò, rồi dùng dao thật bén lóc thịt con bò ấy, mà không làm hại khối thịt bên trong, cũng không làm hại khối da bên ngoài.
[Chú thích: Một hình ảnh tương tự được dùng khi phân tích thân thành các đại, trong Kinh Niệm Xứ.]
Chỗ nào có thịt mỏng, gân hay dây chằng nối liền ở giữa, thì người ấy cắt, lóc, chẻ và xẻ đứt hết bằng dao thật bén.
[Chú thích: "Antarā" ở đây nghĩa là "ở giữa", "nối liền", chứ không phải "bên trong".]
Cắt, lóc, chẻ, xẻ đứt xong, người ấy lột khối da bên ngoài ra, rồi dùng chính tấm da ấy phủ lại con bò và nói:
Con bò này vẫn dính liền với tấm da của nó như trước.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, vì người đồ tể khéo tay hay học trò của người ấy giết con bò ấy, rồi dùng dao thật bén lóc thịt con bò, mà không làm hại khối thịt bên trong, cũng không làm hại khối da bên ngoài.
Chỗ nào có thịt mỏng, gân hay dây chằng nối liền ở giữa, thì người ấy cắt, lóc, chẻ và xẻ đứt hết bằng dao thật bén.
Bạch Ngài, vì sau khi cắt, lóc, chẻ, xẻ đứt và lột khối da bên ngoài ra, dù người ấy có dùng chính tấm da ấy phủ lại con bò và nói:
Con bò này vẫn dính liền với tấm da của nó như trước,
thì con bò ấy vẫn không còn dính liền với tấm da ấy nữa.
Này các tỳ-kheo-ni, ta đã dùng ví dụ này để làm rõ ý nghĩa.
Ý nghĩa ở đây là thế này:
"Khối thịt bên trong" là tên gọi sáu nội xứ;
"khối da bên ngoài" là tên gọi sáu ngoại xứ;
"thịt mỏng, gân và dây chằng ở giữa" là tên gọi của sự ưa thích và tham đắm;
"dao thật bén" là tên gọi của tuệ của bậc thánh,
chính tuệ ấy của bậc thánh cắt, lóc, chẻ và xẻ đứt phiền não, kiết sử và dây trói nằm ở giữa.
Này các tỳ-kheo-ni, có bảy giác chi này; do tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi ấy, một tỳ-kheo do lậu hoặc đã cạn, tự mình chứng biết ngay trong đời này, chứng đạt và an trú tâm giải thoát vô lậu cùng tuệ giải thoát.
[Chú thích: Thấy các tỳ-kheo-ni đã có tuệ giác tốt, Tôn giả Nandaka khuyến khích họ đi sâu hơn vào việc tu thiền.]
Bảy là những gì?
Ở đây, này các tỳ-kheo-ni, một tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập trạch pháp giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập tinh tấn giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập hỷ giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập khinh an giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập định giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập xả giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Này các tỳ-kheo-ni, chính bảy giác chi này, do tu tập và làm cho sung mãn, mà một tỳ-kheo do lậu hoặc đã cạn, tự mình chứng biết ngay trong đời này, chứng đạt và an trú tâm giải thoát vô lậu cùng tuệ giải thoát.
Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi dạy bảo các tỳ-kheo-ni bằng lời dạy này, liền cho họ lui ra:
Này các tỳ-kheo-ni, hãy đi đi; đã đến lúc rồi.
[Chú thích: Điều này có vẻ trái với chi tiết Tôn giả Nandaka đã đến trú xứ của các tỳ-kheo-ni để giảng. Các bản song song Hán và Tây Tạng lại nói rằng chính Tôn giả Nandaka là người ra về.]
Rồi các tỳ-kheo-ni ấy hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Nandaka dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, đi nhiễu quanh Tôn giả theo phía bên phải, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và đứng sang một bên. Khi các tỳ-kheo-ni ấy đứng sang một bên, Đức Thế Tôn nói với họ:
Này các tỳ-kheo-ni, hãy đi đi; đã đến lúc rồi.
Rồi các tỳ-kheo-ni ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo phía bên phải rồi ra về.
Rồi Đức Thế Tôn, khi các tỳ-kheo-ni ấy vừa rời đi không lâu, liền gọi các tỳ-kheo:
Này các tỳ-kheo, ví như vào ngày bố-tát mười bốn, nhiều người không hề có nghi ngờ hay phân vân:
"Trăng chưa tròn hay trăng tròn đây?", mà rõ ràng lúc ấy trăng chưa tròn.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni ấy hoan hỷ với lời thuyết pháp của Tôn giả Nandaka, nhưng chưa được tròn đủ như ý nguyện.
Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Nandaka:
Vậy thì, này Nandaka, ngày mai ông hãy dạy bảo các tỳ-kheo-ni ấy bằng chính lời dạy đó.
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Nandaka đáp lại Đức Thế Tôn.
Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi đêm ấy qua đi, vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.
Sau khi đi khất thực trong Sāvatthī, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, Tôn giả cùng một người bạn đồng hành đi đến Rājakārāma.
Các tỳ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi lại.
Thấy vậy, các vị ấy trải chỗ ngồi và đặt nước rửa chân.
Tôn giả Nandaka ngồi xuống chỗ ngồi đã trải.
Ngồi xong, Tôn giả rửa chân.
Các tỳ-kheo-ni ấy đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên.
Khi các tỳ-kheo-ni ấy đã ngồi xuống một bên, Tôn giả Nandaka nói với họ:
Này các tỳ-kheo-ni, cuộc nói chuyện này sẽ theo lối hỏi đáp.
Ở đây, vị nào hiểu thì nên nói "chúng con hiểu", vị nào không hiểu thì nên nói "chúng con không hiểu".
Và nếu ai có điều nghi ngờ hay phân vân, thì hãy hỏi lại chính ta:
"Bạch Ngài, điều này thế nào? Điều ấy có ý nghĩa gì?"
Bạch Ngài, chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ khiến chúng con hoan hỷ và thỏa thích, vì Tôn giả Nandaka đã mời chúng con như vậy.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni, mắt là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni, tai là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
mũi là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
Lưỡi là thường hay vô thường? Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
Thân là thường hay vô thường? Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
ý là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, điều ấy chúng con đã thấy rõ như thật bằng chánh tuệ từ trước:
"Sáu nội xứ này là vô thường."
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni, các hình sắc là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni, các âm thanh là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
các mùi hương là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
các vị nếm là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
các xúc chạm là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
các pháp là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, điều ấy chúng con đã thấy rõ như thật bằng chánh tuệ từ trước:
"Sáu ngoại xứ này là vô thường."
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Các vị nghĩ sao, này các tỳ-kheo-ni, thức của mắt là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của tai là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của mũi là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của lưỡi là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của thân là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? Khổ, bạch Ngài. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"? Không phải vậy, bạch Ngài.
thức của ý là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Ngài.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?
Khổ, bạch Ngài.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có thích hợp để quán như vầy không:
"Cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi"?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, điều ấy chúng con đã thấy rõ như thật bằng chánh tuệ từ trước:
"Sáu loại thức này là vô thường."
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Ví như, này các tỳ-kheo-ni, một ngọn đèn dầu đang cháy: dầu cũng vô thường, có bản chất biến đổi; bấc cũng vô thường, có bản chất biến đổi; ngọn lửa cũng vô thường, có bản chất biến đổi; ánh sáng cũng vô thường, có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói như vầy:
Trong khi ngọn đèn dầu ấy đang cháy, dầu, bấc và ngọn lửa đều vô thường, có bản chất biến đổi;
nhưng ánh sáng của nó thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, vì ngọn đèn dầu ấy đang cháy, dầu, bấc và ngọn lửa đều vô thường, có bản chất biến đổi;
huống chi là ánh sáng của nó, bạch Ngài, cũng vô thường, có bản chất biến đổi.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói như vầy:
Sáu nội xứ là vô thường.
Nhưng lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ mà người ta cảm nhận do duyên sáu nội xứ ấy thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, do duyên với duyên tương ứng mà các thọ tương ứng khởi lên.
Khi duyên tương ứng ấy diệt, thì các thọ tương ứng ấy cũng diệt.
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Ví như, này các tỳ-kheo-ni, một cây lớn có lõi cây đang đứng đó: rễ cũng vô thường, có bản chất biến đổi; thân cây cũng vô thường, có bản chất biến đổi; cành và lá cũng vô thường, có bản chất biến đổi; bóng mát cũng vô thường, có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói như vầy:
Cây lớn có lõi cây ấy đang đứng đó: rễ, thân, cành và lá đều vô thường, có bản chất biến đổi;
nhưng bóng mát của nó thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, vì cây lớn có lõi cây ấy đang đứng đó: rễ, thân, cành và lá đều vô thường, có bản chất biến đổi;
huống chi là bóng mát của nó, bạch Ngài, cũng vô thường, có bản chất biến đổi.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói như vầy:
Sáu ngoại xứ là vô thường.
Nhưng lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ mà người ta cảm nhận do duyên sáu ngoại xứ ấy thì thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, do duyên với duyên tương ứng mà các thọ tương ứng khởi lên.
Khi duyên tương ứng ấy diệt, thì các thọ tương ứng ấy cũng diệt.
Tốt lắm, tốt lắm, này các tỳ-kheo-ni.
Đúng là như vậy, này các tỳ-kheo-ni, đối với vị thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Ví như, này các tỳ-kheo-ni, một người đồ tể khéo tay hay học trò của người ấy giết một con bò, rồi dùng dao thật bén lóc thịt con bò ấy, mà không làm hại khối thịt bên trong, cũng không làm hại khối da bên ngoài.
Chỗ nào có thịt mỏng, gân hay dây chằng nối liền ở giữa, thì người ấy cắt, lóc, chẻ và xẻ đứt hết bằng dao thật bén.
Cắt, lóc, chẻ, xẻ đứt xong, người ấy lột khối da bên ngoài ra, rồi dùng chính tấm da ấy phủ lại con bò và nói:
Con bò này vẫn dính liền với tấm da của nó như trước.
Này các tỳ-kheo-ni, người nói như vậy có nói đúng không?
Không phải vậy, bạch Ngài.
Vì sao vậy?
Bạch Ngài, vì người đồ tể khéo tay hay học trò của người ấy giết con bò ấy, rồi dùng dao thật bén lóc thịt con bò, mà không làm hại khối thịt bên trong, cũng không làm hại khối da bên ngoài.
Chỗ nào có thịt mỏng, gân hay dây chằng nối liền ở giữa, thì người ấy cắt, lóc, chẻ và xẻ đứt hết bằng dao thật bén.
Bạch Ngài, vì sau khi cắt, lóc, chẻ, xẻ đứt và lột khối da bên ngoài ra, dù người ấy có dùng chính tấm da ấy phủ lại con bò và nói:
Con bò này vẫn dính liền với tấm da của nó như trước,
thì con bò ấy vẫn không còn dính liền với tấm da ấy nữa.
Này các tỳ-kheo-ni, ta đã dùng ví dụ này để làm rõ ý nghĩa; ý nghĩa ở đây là thế này:
"Khối thịt bên trong" là tên gọi sáu nội xứ;
"khối da bên ngoài" là tên gọi sáu ngoại xứ;
"thịt mỏng, gân và dây chằng ở giữa" là tên gọi của sự ưa thích và tham đắm;
"dao thật bén" là tên gọi của tuệ của bậc thánh;
chính tuệ ấy của bậc thánh cắt, lóc, chẻ và xẻ đứt phiền não, kiết sử và dây trói nằm ở giữa.
Này các tỳ-kheo-ni, có bảy giác chi này; do tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi ấy, một tỳ-kheo do lậu hoặc đã cạn, tự mình chứng biết ngay trong đời này, chứng đạt và an trú tâm giải thoát vô lậu cùng tuệ giải thoát.
Bảy là những gì?
Ở đây, này các tỳ-kheo-ni, một tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập trạch pháp giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập tinh tấn giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập hỷ giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập khinh an giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập định giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Tu tập xả giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
Này các tỳ-kheo-ni, chính bảy giác chi này, do tu tập và làm cho sung mãn, mà một tỳ-kheo do lậu hoặc đã cạn, tự mình chứng biết ngay trong đời này, chứng đạt và an trú tâm giải thoát vô lậu cùng tuệ giải thoát.
Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi dạy bảo các tỳ-kheo-ni bằng lời dạy này, liền cho họ lui ra:
Này các tỳ-kheo-ni, hãy đi đi; đã đến lúc rồi.
Rồi các tỳ-kheo-ni ấy hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Nandaka dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, đi nhiễu quanh Tôn giả theo phía bên phải, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và đứng sang một bên. Khi các tỳ-kheo-ni ấy đứng sang một bên, Đức Thế Tôn nói với họ:
Này các tỳ-kheo-ni, hãy đi đi; đã đến lúc rồi.
Rồi các tỳ-kheo-ni ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo phía bên phải rồi ra về.
Rồi Đức Thế Tôn, khi các tỳ-kheo-ni ấy vừa rời đi không lâu, liền gọi các tỳ-kheo:
Này các tỳ-kheo, ví như vào ngày bố-tát mười lăm, nhiều người không hề có nghi ngờ hay phân vân:
"Trăng chưa tròn hay trăng tròn đây?", mà rõ ràng lúc ấy trăng đã tròn.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni ấy hoan hỷ với lời thuyết pháp của Tôn giả Nandaka và đã được tròn đủ như ý nguyện.
Này các tỳ-kheo, trong năm trăm tỳ-kheo-ni ấy, vị tỳ-kheo-ni cuối cùng cũng đã chứng quả Dự lưu, không còn phải sa vào đường ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ.
[Chú thích: Như đã nói ở trên, lời các tỳ-kheo-ni cho thấy họ đã chứng quả Dự lưu từ trước khi được Tôn giả Nandaka dạy. Ở chỗ khác, hình ảnh trăng tròn ngày mười lăm dứt khoát chỉ quả vị A-la-hán, và các bản song song cũng cho biết đến đây tất cả các vị đã chứng A-la-hán.]
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Dạy Nandaka, bài thứ tư, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.