Trung Bộ Kinh · bài 125/152
Kinh Địa Vị Người Đã Điều Phục
Dantabhūmi Sutta — bài kinh về địa vị của người đã được điều phục
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Địa Vị Người Đã Điều Phục (Dantabhūmi Sutta) là bài kinh thứ 125 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài diễn ra tại Rājagaha (Vương Xá), nơi một sa-di trẻ tên Aciravata đang ở trong chòi giữa rừng. Một hôm, thái tử Jayasena — theo chú giải là con trai vua Bimbisāra — đi dạo ngang qua và ghé vào thăm ông.
Câu chuyện bắt đầu từ một câu nói mà thái tử đã nghe ở đâu đó: một tỳ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần thì có thể chứng đạt sự nhất tâm của tâm. Aciravata xác nhận điều ấy, và thái tử bèn xin ông giảng Pháp. Aciravata, một thiếu niên chưa đủ hai mươi tuổi, ngần ngại vì sợ thái tử không hiểu, và sự giảng dạy ấy sẽ thành mệt nhọc cho mình. Thái tử nài nỉ, hứa sẽ không hỏi vặn nếu không hiểu. Aciravata giảng, và thái tử lập tức bác bỏ: điều ấy không thể xảy ra.
Aciravata đến thuật lại chuyện ấy với Đức Thế Tôn. Ngài không trách ông, mà nói rằng chẳng có gì lạ. Thái tử sống giữa các dục, hưởng thụ các dục, bị các tư tưởng về dục gặm nhấm và thiêu đốt, lại hăng hái tìm cầu các dục; làm sao ông ta có thể biết, thấy hay chứng ngộ điều chỉ có thể biết, thấy và chứng ngộ nhờ sự xuất ly? Để làm rõ, Ngài kể hai ví dụ: một đôi voi, ngựa hay bò đã khéo điều phục thì làm được việc của loài đã điều phục, còn đôi chưa được điều phục thì không; và người bạn đứng dưới chân núi không thể thấy cảnh vật trên đỉnh núi, cho đến khi được người bạn trên đỉnh xuống kéo lên.
Phần dài nhất của bài là câu chuyện huấn luyện một con voi rừng. Vị vua sai người bắt voi vào rừng, buộc con voi hoang vào cổ con voi của vua và dắt nó ra chỗ trống trải. Rồi người huấn luyện voi chôn một cây cột lớn, buộc con voi vào cột, nói với nó bằng những lời dịu dàng êm tai, cho nó cỏ và nước, rồi lần lượt tập cho nó nhấc lên, đặt xuống, tiến lên, lùi lại, đứng lên, ngồi xuống. Cuối cùng là bài tập gọi là bất động: một tấm ván buộc vào vòi, người cầm giáo ngồi trên cổ, người cầm giáo vây quanh bốn phía, mà con voi không nhúc nhích một bộ phận nào. Đến lúc ấy nó mới chịu được những cú đánh và tiếng trống, mới xứng đáng với vua và được kể là một bộ phận của vua.
Đức Thế Tôn dùng hình ảnh ấy để kể lại con đường tu tập của một người: có lòng tin, xuất gia, giữ giới, thu thúc các cửa giác quan, biết tiết độ trong việc ăn, chuyên tâm tỉnh thức, thành tựu chánh niệm và tỉnh giác, lui tới chỗ vắng vẻ, từ bỏ năm triền cái. Bốn niệm xứ là sợi dây buộc tâm, thay cho cây cột buộc voi, và trong bài này chúng đứng vào chỗ thiền-na thứ nhất; tiếp đó là thiền-na thứ hai, thứ ba, thứ tư; rồi ba minh; và cuối cùng là sự chịu đựng cùng phẩm hạnh xứng đáng được cúng dường. Bài khép lại bằng một so sánh khác: voi chết khi chưa được điều phục thì chết trong cảnh chưa điều phục, tỳ-kheo chết khi lậu hoặc chưa tận cũng vậy; và điều ấy không phụ thuộc vào tuổi tác. Đó cũng là lời khích lệ dành cho Aciravata, người còn trẻ.
Tên bài, Dantabhūmi, nghĩa là địa vị của người đã được điều phục — không phải một cấp bậc ai đó ban cho, mà là kết quả của từng bước được tập. Bài kinh cũng nhắc một điều tế nhị: biết con đường không đồng nghĩa với thấy được sự thật. Người bạn dưới chân núi không thấy gì không phải vì cảnh vật không có, mà vì ngọn núi chắn trước mắt; với thái tử Jayasena, ngọn núi ấy là khối vô minh và lối sống đắm say các dục.
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh dùng chuyện huấn luyện voi làm ví dụ cho con đường tu tập tuần tự. Đức Thế Tôn đối chiếu lối sống đắm say các dục của thái tử Jayasena, thứ làm mờ tầm nhìn của ông về sự thật, với con đường xuất ly. Trong suốt bài, Ngài đỡ lời cho sa-di trẻ Aciravata.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).
Lúc bấy giờ, sa-di Aciravata đang trú trong một chòi giữa rừng.
Rồi thái tử Jayasena, trong lúc đi dạo quanh, đi tới đi lui, bèn đi đến chỗ sa-di Aciravata; sau khi đến, ông chào hỏi sa-di Aciravata.
[Chú thích: Jayasena xuất hiện trong bài này và bài kế tiếp; chú giải nói ông là con trai vua Bimbisāra. Ngoài chỗ này, không biết gì thêm về Aciravata.]
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và câu chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thái tử Jayasena nói với sa-di Aciravata:
"Thưa ngài Aggivessana, tôi có nghe nói rằng:
[Chú thích: Aggivessana là tên dòng họ của Aciravata; trong MN 35, Saccaka cũng được gọi bằng tên này.]
'Ở đây, một tỳ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, có thể chứng đạt sự nhất tâm của tâm.'"
"Đúng vậy, thưa thái tử, đúng vậy, thưa thái tử.
Ở đây, một tỳ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, có thể chứng đạt sự nhất tâm của tâm."
"Lành thay, xin ngài Aggivessana giảng Pháp cho tôi đúng như ngài đã nghe, đã học thuộc."
"Thưa thái tử, tôi không có khả năng giảng Pháp cho ngài đúng như tôi đã nghe, đã học thuộc.
[Chú thích: Sa-di thì chưa đến hai mươi tuổi, nên đây là tình huống khá đáng ngại: một thái tử đang chất vấn một thiếu niên.]
Vì nếu tôi giảng Pháp cho ngài đúng như tôi đã nghe, đã học thuộc, mà ngài không hiểu được ý nghĩa lời tôi nói, thì đó sẽ là sự mệt nhọc, là sự khổ nhọc cho tôi."
"Xin ngài Aggivessana giảng Pháp cho tôi đúng như ngài đã nghe, đã học thuộc.
Có lẽ tôi sẽ hiểu được ý nghĩa lời ngài Aggivessana nói."
"Thưa thái tử, tôi sẽ giảng Pháp cho ngài đúng như tôi đã nghe, đã học thuộc.
Nếu ngài hiểu được ý nghĩa lời tôi nói, thì thật tốt.
Nếu ngài không hiểu được ý nghĩa lời tôi nói, thì ngài hãy cứ giữ ý của mình, và đừng hỏi tôi thêm về điều ấy nữa."
"Xin ngài Aggivessana giảng Pháp cho tôi đúng như ngài đã nghe, đã học thuộc.
Nếu tôi hiểu được ý nghĩa lời ngài Aggivessana nói, thì thật tốt.
Nếu tôi không hiểu được ý nghĩa lời ngài Aggivessana nói, thì tôi sẽ giữ ý của mình, và tôi sẽ không hỏi ngài Aggivessana thêm về điều ấy nữa."
Rồi sa-di Aciravata giảng Pháp cho thái tử Jayasena đúng như mình đã nghe, đã học thuộc.
Khi ấy, thái tử Jayasena nói với sa-di Aciravata:
"Thưa ngài Aggivessana, không thể có chuyện ấy, không có lý nào: một tỳ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần lại có thể chứng đạt sự nhất tâm của tâm."
Rồi thái tử Jayasena, sau khi tuyên bố điều ấy là không thể, không có lý, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Không lâu sau khi thái tử Jayasena ra đi, sa-di Aciravata đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, sa-di Aciravata thuật lại cho Đức Thế Tôn nghe toàn bộ câu chuyện giữa mình và thái tử Jayasena.
Khi ấy, Đức Thế Tôn nói với sa-di Aciravata:
"Này Aggivessana, làm sao có chuyện ấy được?
[Chú thích: Biết học trò mình thiếu tự tin, Đức Thế Tôn nói lời khích lệ, không để Aciravata tự trách mình vì bị Jayasena từ chối.]
Này Aggivessana, có điều chỉ có thể biết nhờ sự xuất ly, chỉ có thể thấy nhờ sự xuất ly, chỉ có thể đạt được nhờ sự xuất ly, chỉ có thể chứng ngộ nhờ sự xuất ly. Thái tử Jayasena thì sống giữa các dục, hưởng thụ các dục, bị các tầm về dục gặm nhấm, bị sức nóng của dục thiêu đốt, hăng hái tìm cầu các dục. Vậy mà ông ta lại có thể biết, có thể thấy, có thể chứng ngộ điều ấy — điều đó không có lý.
[Chú thích: Đoạn này có một bản song song, ở đó hai cụm 'sống giữa các dục' và 'hưởng thụ các dục' được đặt ngược thứ tự. Trật tự ở đó hợp lý hơn: bắt đầu từ chỗ người ấy đang ở, rồi đến điều người ấy hưởng thụ, rồi mới đến bị gặm nhấm và tìm cầu thêm. Bản dịch theo nghĩa ấy ở cả hai chỗ.]
Này Aggivessana, ví như có hai con voi, hay hai con ngựa, hay hai con bò đã khéo điều phục, khéo huấn luyện; và có hai con voi, hay hai con ngựa, hay hai con bò chưa được điều phục, chưa được huấn luyện.
Này Aggivessana, ông nghĩ sao:
hai con voi, ngựa hay bò đã khéo điều phục, khéo huấn luyện ấy, có phải chúng sẽ làm được công việc của loài đã điều phục, sẽ đạt đến địa vị của loài đã điều phục không?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Nhưng này Aggivessana, hai con voi, ngựa hay bò chưa được điều phục, chưa được huấn luyện ấy, có phải chúng sẽ làm được công việc của loài đã điều phục, sẽ đạt đến địa vị của loài đã điều phục, giống như hai con voi, ngựa hay bò đã khéo điều phục, khéo huấn luyện kia không?"
"Không phải vậy, bạch Thế Tôn."
"Cũng vậy, này Aggivessana, có điều chỉ có thể biết nhờ sự xuất ly, chỉ có thể thấy nhờ sự xuất ly, chỉ có thể đạt được nhờ sự xuất ly, chỉ có thể chứng ngộ nhờ sự xuất ly. Thái tử Jayasena thì sống giữa các dục, hưởng thụ các dục, bị các tầm về dục gặm nhấm, bị sức nóng của dục thiêu đốt, hăng hái tìm cầu các dục. Vậy mà ông ta lại có thể biết, có thể thấy, có thể chứng ngộ điều ấy — điều đó không có lý."
Này Aggivessana, ví như có một ngọn núi lớn không xa một làng hay một thị trấn.
[Chú thích: Ví dụ này hợp cảnh, vì Rājagaha quả thật được bao quanh bởi núi.]
Và hai người bạn từ làng hay thị trấn ấy đi ra, đưa tay dìu nhau, cùng đi đến ngọn núi ấy. Sau khi đến, một người bạn đứng ở chân núi, một người bạn leo lên đỉnh núi.
[Chú thích: Về từ hatthavilaṅghaka, nghĩa là đưa tay cho nhau nắm để cùng lên, xem MN 31:9.7 và MN 128:14.7.]
Người bạn đứng ở chân núi ấy sẽ nói với người bạn đang đứng trên đỉnh núi như vầy:
"Này bạn, đứng trên đỉnh núi, bạn thấy những gì?"
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Này bạn, đứng trên đỉnh núi, tôi thấy những khu vườn, khu rừng, khoảng đất và ao sen đẹp mắt."
Người bạn dưới chân núi sẽ nói như vầy:
"Này bạn, không thể có chuyện ấy, không có lý nào: đang đứng trên đỉnh núi mà bạn lại thấy được những khu vườn, khu rừng, khoảng đất và ao sen đẹp mắt."
Thế rồi người bạn đang đứng trên đỉnh núi đi xuống chân núi, nắm lấy cánh tay người bạn kia, đưa người ấy lên đỉnh núi, để người ấy nghỉ một lát, rồi nói như vầy:
"Này bạn, đứng trên đỉnh núi, bạn thấy những gì?"
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Này bạn, đứng trên đỉnh núi, tôi thấy những khu vườn, khu rừng, khoảng đất và ao sen đẹp mắt."
Người bạn đã ở trên đỉnh sẽ nói như vầy:
"Này bạn, vừa nãy chính bạn đã nói, và tôi hiểu lời ấy như vầy:"
'Này bạn, không thể có chuyện ấy, không có lý nào: đang đứng trên đỉnh núi mà bạn lại thấy được những khu vườn, khu rừng, khoảng đất và ao sen đẹp mắt.'
"Nhưng bây giờ bạn lại nói:"
'Đứng trên đỉnh núi, tôi thấy những khu vườn, khu rừng, khoảng đất và ao sen đẹp mắt!'
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Này bạn, chính vì bị ngọn núi lớn này che khuất mà tôi đã không thấy được điều có thể thấy."
Này Aggivessana, còn lớn hơn thế là khối vô minh đã che kín, chặn đóng, bao trùm và phủ kín thái tử Jayasena.
Có điều chỉ có thể biết nhờ sự xuất ly, chỉ có thể thấy nhờ sự xuất ly, chỉ có thể đạt được nhờ sự xuất ly, chỉ có thể chứng ngộ nhờ sự xuất ly. Thái tử Jayasena thì sống giữa các dục, hưởng thụ các dục, bị các tầm về dục gặm nhấm, bị sức nóng của dục thiêu đốt, hăng hái tìm cầu các dục. Vậy mà ông ta lại có thể biết, có thể thấy, có thể chứng ngộ điều ấy — điều đó không có lý.
"Này Aggivessana, nếu hai ví dụ này ứng đến cho ông, thì chẳng có gì lạ nếu thái tử Jayasena sinh lòng tin nơi ông; và khi đã có lòng tin, ông ta hẳn sẽ bày tỏ lòng tin ấy."
"Bạch Thế Tôn, làm sao hai ví dụ ấy có thể ứng đến cho con như chúng đã ứng đến cho Đức Thế Tôn, khi mà chúng chẳng phải chuyện lạ lùng và con thì chưa từng nghe từ trước?"
Này Aggivessana, ví như một vị vua thuộc dòng vua chúa, đã được làm lễ quán đảnh, gọi người bắt voi đến và nói:
"Này người bắt voi, hãy cưỡi con voi của vua, đi vào rừng voi; khi thấy một con voi rừng, hãy buộc nó vào cổ con voi của vua."
"Thưa vâng, tâu Đại vương", người bắt voi vâng lời vị vua ấy, rồi cưỡi con voi của vua, đi vào rừng voi; khi thấy một con voi rừng, ông buộc nó vào cổ con voi của vua.
Con voi của vua dắt con voi rừng ấy ra chỗ trống trải.
Này Aggivessana, chỉ đến lúc ấy con voi rừng mới ra được chỗ trống trải.
Này Aggivessana, vì voi rừng còn quyến luyến chính rừng voi.
Người bắt voi tâu với vị vua ấy:
"Tâu Đại vương, con voi rừng đã ra chỗ trống trải."
Rồi này Aggivessana, vị vua ấy gọi người huấn luyện voi đến và nói:
"Này người huấn luyện voi, hãy điều phục con voi rừng ấy, để đè bẹp những thói quen của loài voi rừng, để đè bẹp những ký ức và tư tưởng của loài voi rừng, để đè bẹp những sự lo lắng, mệt mỏi và bức bách của loài voi rừng, để làm cho nó vui thích ở gần làng, và để dẫn dắt nó vào những thói quen mà loài người ưa thích."
"Thưa vâng, tâu Đại vương", người huấn luyện voi vâng lời vị vua ấy, bèn chôn một cây cột lớn xuống đất, rồi buộc con voi rừng vào cột ấy nơi cổ, để đè bẹp những thói quen của loài voi rừng, để đè bẹp những ký ức và tư tưởng của loài voi rừng, để đè bẹp những sự lo lắng, mệt mỏi và bức bách của loài voi rừng, để làm cho nó vui thích ở gần làng, và để dẫn dắt nó vào những thói quen mà loài người ưa thích.
Người huấn luyện voi nói với nó bằng những lời như vầy — lời dịu dàng, êm tai, đáng yêu, đi vào lòng, lịch sự, được nhiều người ưa thích, được nhiều người vừa ý.
Này Aggivessana, khi con voi rừng được người huấn luyện voi nói với những lời dịu dàng, êm tai, đáng yêu, đi vào lòng, lịch sự, được nhiều người ưa thích, được nhiều người vừa ý như vậy, nó muốn nghe, nó lắng tai, nó chú tâm để hiểu.
Rồi người huấn luyện voi cho nó thêm cỏ tươi, cỏ khô và nước.
Này Aggivessana, khi con voi rừng nhận lấy cỏ tươi, cỏ khô và nước từ người huấn luyện voi, thì người huấn luyện voi nghĩ như vầy:
"Bây giờ con voi rừng sẽ sống được."
Người huấn luyện voi bắt nó làm thêm một việc nữa:
"Này, nhấc lên! Này, đặt xuống!"
Này Aggivessana, khi con voi rừng vâng lời người huấn luyện voi trong việc nhấc lên và đặt xuống, làm theo lời dạy bảo, thì người huấn luyện voi bắt nó làm thêm một việc nữa:
"Này, tiến lên! Này, lùi lại!"
Này Aggivessana, khi con voi rừng vâng lời người huấn luyện voi trong việc tiến lên và lùi lại, làm theo lời dạy bảo, thì người huấn luyện voi bắt nó làm thêm một việc nữa:
"Này, đứng lên! Này, ngồi xuống!"
Này Aggivessana, khi con voi rừng vâng lời người huấn luyện voi trong việc đứng lên và ngồi xuống, làm theo lời dạy bảo, thì người huấn luyện voi bắt nó làm thêm một việc gọi là bất động: người ấy buộc một tấm ván lớn vào vòi nó; một người cầm giáo ngồi trên cổ nó; những người cầm giáo đứng vây quanh bốn phía; và chính người huấn luyện voi cầm một cây giáo dài đứng ở phía trước.
Khi đang làm việc gọi là bất động ấy, nó không nhúc nhích hai chân trước, không nhúc nhích hai chân sau, không nhúc nhích phần thân trước, không nhúc nhích phần thân sau, không nhúc nhích đầu, không nhúc nhích tai, không nhúc nhích ngà, không nhúc nhích đuôi, không nhúc nhích vòi.
Con voi rừng ấy trở nên chịu đựng được những cú đánh bằng giáo, bằng gươm, bằng tên, bằng rìu; chịu đựng được tiếng trống lớn, trống nhỏ, sáo, tù và và trống con vang lên. Đã gạt bỏ mọi sự cong queo và lỗi lầm, đã rửa sạch mọi cặn bã, nó xứng đáng với vua, thích hợp để vua dùng, và được kể là một bộ phận của vua.
Cũng vậy, này Aggivessana, ở đây Như Lai xuất hiện trong thế gian, là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.
[Chú thích: Bản tương ứng trong Hán tạng (MA 198) đơn giản hơn: chỉ nói đến sự trong sạch của thân, miệng, ý, đến việc thực hành niệm, và đến bốn tầng thiền-na.]
Ngài tự mình chứng ngộ bằng thắng trí thế giới này — với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, với chúng sa-môn và bà-la-môn, với loài trời và loài người — rồi truyền đạt cho người khác.
Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đầu, tốt đẹp ở giữa, tốt đẹp ở cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ngài công bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và trong sạch.
Một gia chủ, hay con của một gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó, nghe Pháp ấy.
Sau khi nghe Pháp ấy, người ấy có được lòng tin nơi Như Lai.
Được đầy đủ lòng tin ấy, người ấy suy xét như vầy:
"Đời sống tại gia thì chật hẹp, là đường bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở.
Thật không dễ gì cho người còn sống tại gia mà thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc đã được mài sạch.
Chi bằng ta hãy cạo bỏ râu tóc, mặc y màu ca-sa, rồi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không nhà."
Về sau, người ấy từ bỏ một khối tài sản nhỏ hoặc lớn, từ bỏ một vòng thân thuộc nhỏ hoặc lớn, cạo bỏ râu tóc, mặc y màu ca-sa, rồi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không nhà.
Này Aggivessana, chỉ đến lúc ấy vị thánh đệ tử mới ra được chỗ trống trải.
Này Aggivessana, vì chư thiên và loài người còn quyến luyến chính năm loại dục lạc.
Như Lai dẫn dắt vị ấy thêm nữa:
"Này tỳ-kheo, ông hãy đến. Ông hãy giữ giới, sống thu thúc theo giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và chỗ đi lại, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, và học tập các học giới sau khi đã thọ trì."
Này Aggivessana, khi vị thánh đệ tử đã giữ giới, sống thu thúc theo giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và chỗ đi lại, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, và học tập các học giới sau khi đã thọ trì, thì Như Lai dẫn dắt vị ấy thêm nữa:
"Này tỳ-kheo, ông hãy đến. Ông hãy canh giữ các cửa giác quan. Khi mắt thấy sắc, ông chớ nắm bắt tướng chung, chớ nắm bắt tướng riêng. Nếu sống với nhãn căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác và bất thiện, sẽ tràn vào. Vì thế, ông hãy thực hành sự thu thúc, hãy hộ trì nhãn căn, hãy đạt được sự thu thúc nơi nhãn căn. Khi tai nghe âm thanh, ông chớ nắm bắt tướng chung, chớ nắm bắt tướng riêng. Nếu sống với nhĩ căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác và bất thiện, sẽ tràn vào. Vì thế, ông hãy thực hành sự thu thúc, hãy hộ trì nhĩ căn, hãy đạt được sự thu thúc nơi nhĩ căn. Khi mũi ngửi mùi hương, ông chớ nắm bắt tướng chung, chớ nắm bắt tướng riêng. Nếu sống với tỷ căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác và bất thiện, sẽ tràn vào. Vì thế, ông hãy thực hành sự thu thúc, hãy hộ trì tỷ căn, hãy đạt được sự thu thúc nơi tỷ căn. Khi lưỡi nếm vị, ông chớ nắm bắt tướng chung, chớ nắm bắt tướng riêng. Nếu sống với thiệt căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác và bất thiện, sẽ tràn vào. Vì thế, ông hãy thực hành sự thu thúc, hãy hộ trì thiệt căn, hãy đạt được sự thu thúc nơi thiệt căn. Khi thân cảm nhận xúc chạm, ông chớ nắm bắt tướng chung, chớ nắm bắt tướng riêng. Nếu sống với thân căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác và bất thiện, sẽ tràn vào. Vì thế, ông hãy thực hành sự thu thúc, hãy hộ trì thân căn, hãy đạt được sự thu thúc nơi thân căn. Khi ý biết pháp, ông chớ nắm bắt tướng chung, chớ nắm bắt tướng riêng. Nếu sống với ý căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác và bất thiện, sẽ tràn vào. Vì thế, ông hãy thực hành sự thu thúc, hãy hộ trì ý căn, hãy đạt được sự thu thúc nơi ý căn."
"Này tỳ-kheo, ông hãy đến. Ông hãy biết tiết độ trong việc ăn. Ông hãy thọ dụng thức ăn sau khi quán xét một cách hợp lý: không phải để vui chơi, không phải để say đắm, không phải để trang điểm, không phải để làm đẹp, mà chỉ để thân này được duy trì, được tiếp tục sống, để chấm dứt sự tổn hại, và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Như vầy, ta sẽ chấm dứt các cảm thọ cũ và không làm sinh khởi các cảm thọ mới; ta sẽ có sức đi tiếp, không có lỗi lầm, và sống an ổn." "Này tỳ-kheo, ông hãy đến. Ông hãy chuyên tâm vào sự tỉnh thức. Ban ngày, ông hãy thanh lọc tâm khỏi những pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền. Vào canh đầu của đêm, ông hãy thanh lọc tâm khỏi những pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền. Vào canh giữa của đêm, ông hãy nằm theo thế nằm của sư tử, nghiêng về bên phải, đặt chân này lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác, giữ trong tâm ý niệm về việc thức dậy. Vào canh cuối của đêm, ông hãy thức dậy và thanh lọc tâm khỏi những pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền." "Này tỳ-kheo, ông hãy đến. Ông hãy thành tựu chánh niệm và tỉnh giác. Khi bước tới, bước lui, ông hãy làm với tỉnh giác. Khi nhìn thẳng, nhìn nghiêng, ông hãy làm với tỉnh giác. Khi co tay, duỗi tay, ông hãy làm với tỉnh giác. Khi mang y kép, bát và y, ông hãy làm với tỉnh giác. Khi ăn, uống, nhai, nếm, ông hãy làm với tỉnh giác. Khi đại tiện, tiểu tiện, ông hãy làm với tỉnh giác. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng, ông hãy làm với tỉnh giác." "Này tỳ-kheo, ông hãy đến. Ông hãy lui tới những chỗ trú ẩn vắng vẻ: rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang núi, nghĩa địa, rừng rậm, chỗ trống trải, đống rơm." Vị ấy lui tới chỗ trú ẩn vắng vẻ ấy: rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang núi, nghĩa địa, rừng rậm, chỗ trống trải, đống rơm. Sau bữa ăn, khi đi khất thực trở về, vị ấy ngồi xuống, ngồi xếp bằng, giữ thân thẳng, và an lập chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham lam đối với đời, sống với tâm không còn tham lam, thanh lọc tâm khỏi tham lam. Vị ấy từ bỏ sân hận và ác ý, sống với tâm không còn sân hận, có lòng thương xót đối với sự an vui của mọi chúng sinh, thanh lọc tâm khỏi sân hận và ác ý. Vị ấy từ bỏ hôn trầm và thụy miên, sống không còn hôn trầm thụy miên, nhận biết ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác, thanh lọc tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Vị ấy từ bỏ trạo cử và hối quá, sống không còn trạo cử, tâm lắng dịu bên trong, thanh lọc tâm khỏi trạo cử và hối quá. Vị ấy từ bỏ nghi hoặc, sống đã vượt qua nghi hoặc, không còn do dự đối với các pháp thiện, thanh lọc tâm khỏi nghi hoặc.
[Chú thích của người dịch: phần Pali ở đây chỉ ghi 'hãy giảng rộng như trong kinh Gaṇakamoggallāna'; bản dịch khôi phục đủ năm bước ấy, gồm tiết độ trong việc ăn, tỉnh thức, chánh niệm và tỉnh giác, chỗ trú vắng vẻ, và từ bỏ năm triền cái. Phần thiền-na trong kinh ấy không chép lại, vì bài này thay thiền-na thứ nhất bằng bốn niệm xứ.]
Vị ấy từ bỏ năm triền cái này, những cấu uế của tâm, những pháp làm tuệ yếu đi.
Vị ấy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Vị ấy sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Vị ấy sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Vị ấy sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Này Aggivessana, ví như người huấn luyện voi chôn một cây cột lớn xuống đất rồi buộc con voi rừng vào cột ấy nơi cổ, để đè bẹp những thói quen của loài voi rừng, để đè bẹp những ký ức và tư tưởng của loài voi rừng, để đè bẹp những sự lo lắng, mệt mỏi và bức bách của loài voi rừng, để làm cho nó vui thích ở gần làng, và để dẫn dắt nó vào những thói quen mà loài người ưa thích.
Cũng vậy, này Aggivessana, bốn niệm xứ này là những sợi dây buộc tâm của vị thánh đệ tử, để đè bẹp những thói quen gắn với đời sống gia đình, để đè bẹp những ký ức và tư tưởng gắn với đời sống gia đình, để đè bẹp những sự lo lắng, mệt mỏi và bức bách gắn với đời sống gia đình, để chứng đạt chánh lý, và để chứng ngộ Niết-bàn.
Như Lai dẫn dắt vị ấy thêm nữa:
"Này tỳ-kheo, ông hãy đến. Ông hãy sống quán thân trên thân, nhưng chớ suy nghĩ những tầm liên hệ đến các dục.
[Chú thích: Các bản khác nhau ở chỗ đọc kāmūpasaṁhita, nghĩa là liên hệ đến các dục, hay kāyūpasaṁhita, nghĩa là liên hệ đến thân. Bản Hán và hai bản Phạn nghiêng về kāya, nhưng kāmūpasaṁhita là từ thông dụng, còn kāyūpasaṁhita chỉ xuất hiện ở đây, và chủ đề cả bài là vượt qua các dục. Bản dịch theo cách đọc kāmūpasaṁhita.]
Ông hãy sống quán thọ trên các thọ.
Ông hãy sống quán tâm trên tâm.
Ông hãy sống quán pháp trên các pháp, nhưng chớ suy nghĩ những tầm liên hệ đến các dục."
Với sự lắng dịu của tầm và tứ, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, với sự trong sáng bên trong và sự nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỷ và lạc sinh khởi do định.
[Chú thích: Bản Pali ở đây trình bày khác thường: bốn niệm xứ đứng vào chỗ thiền-na thứ nhất. Thiền-na thứ nhất được đặc trưng bởi sự ly dục mà tầm vẫn còn, nên cách đọc 'liên hệ đến các dục' không có vấn đề; nhưng khó nói rằng người ấy không có tầm về thân, thọ, tâm, pháp. Có lẽ văn bản đã bị sai lạc ở chỗ này.]
Với sự ly tham của hỷ, vị ấy sống xả, chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận lạc bằng thân, và chứng đạt an trú thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh gọi là 'xả, chánh niệm, sống an lạc.'
Với sự từ bỏ lạc và khổ, cùng với sự lắng xuống của hỷ và ưu đã có từ trước, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.
Khi tâm đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — vị ấy hướng tâm đến tri kiến nhớ lại các đời sống quá khứ.
Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời; nhiều kiếp thành, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành và hoại. Ở chỗ ấy, vị ấy có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, vị ấy sinh ra ở chỗ khác; ở chỗ khác ấy, vị ấy có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, vị ấy sinh ra ở đây. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, với đủ các nét và các chi tiết.
Khi tâm đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — vị ấy hướng tâm đến tri kiến về sự chết và sinh của chúng sinh.
Bằng thiên nhãn trong sạch, vượt khỏi tầm mắt của con người, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, thấp kém và cao quý, đẹp và xấu, sinh vào cõi lành hay cõi dữ. Vị ấy hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình: những chúng sinh nào thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, mắng nhiếc các bậc thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp theo tà kiến — sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục. Những chúng sinh nào thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, không mắng nhiếc các bậc thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp theo chánh kiến — sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi lành, cõi trời. Như vậy, vị ấy hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình.
Khi tâm đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — vị ấy hướng tâm đến tri kiến về sự đoạn tận các lậu hoặc.
Vị ấy như thật biết rõ: "Đây là khổ"; vị ấy như thật biết rõ: "Đây là sự tập khởi của khổ"; vị ấy như thật biết rõ: "Đây là sự diệt của khổ"; vị ấy như thật biết rõ: "Đây là con đường dẫn đến sự diệt của khổ".
Vị ấy như thật biết rõ: "Đây là các lậu hoặc"; vị ấy như thật biết rõ: "Đây là sự tập khởi của các lậu hoặc"; vị ấy như thật biết rõ: "Đây là sự diệt của các lậu hoặc"; vị ấy như thật biết rõ: "Đây là con đường dẫn đến sự diệt của các lậu hoặc".
Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về dục, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về hữu, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về vô minh.
Khi tâm đã giải thoát, khởi lên tri kiến: "Tâm đã giải thoát."
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'
Vị tỳ-kheo ấy chịu đựng được lạnh, nóng, đói, khát; chịu đựng được sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng và các loài bò sát; chịu đựng được những lời nói khó nghe, những cách nói khó chịu; và đối với những cảm thọ thuộc thân đã khởi lên — khổ, đau, nhói buốt, gay gắt, không dễ chịu, không vừa ý, có thể cướp đi mạng sống — vị ấy có khả năng chịu đựng.
Đã gạt bỏ tham, sân, si, đã rửa sạch mọi cặn bã, vị ấy xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước tối thượng của thế gian.
Này Aggivessana, dù là con voi của vua lớn tuổi chết khi chưa được điều phục, chưa được huấn luyện, nó cũng chỉ được gọi là 'con voi của vua lớn tuổi đã chết mà chết trong cảnh chưa điều phục'.
Này Aggivessana, dù là con voi của vua ở tuổi trung niên chết khi chưa được điều phục, chưa được huấn luyện, nó cũng chỉ được gọi là 'con voi của vua ở tuổi trung niên đã chết mà chết trong cảnh chưa điều phục'.
Này Aggivessana, dù là con voi của vua còn trẻ chết khi chưa được điều phục, chưa được huấn luyện, nó cũng chỉ được gọi là 'con voi của vua còn trẻ đã chết mà chết trong cảnh chưa điều phục'.
Cũng vậy, này Aggivessana, dù là một tỳ-kheo lớn tuổi chết khi các lậu hoặc chưa được đoạn tận, vị ấy cũng chỉ được gọi là 'tỳ-kheo lớn tuổi đã chết mà chết trong cảnh chưa điều phục'.
Này Aggivessana, dù là một tỳ-kheo ở tuổi trung niên chết khi các lậu hoặc chưa được đoạn tận, vị ấy cũng chỉ được gọi là 'tỳ-kheo ở tuổi trung niên đã chết mà chết trong cảnh chưa điều phục'.
Này Aggivessana, dù là một tỳ-kheo mới chết khi các lậu hoặc chưa được đoạn tận, vị ấy cũng chỉ được gọi là 'tỳ-kheo mới đã chết mà chết trong cảnh chưa điều phục'.
Này Aggivessana, dù là con voi của vua lớn tuổi chết khi đã được điều phục, đã được huấn luyện, nó cũng chỉ được gọi là 'con voi của vua lớn tuổi đã chết mà chết trong cảnh đã điều phục'.
Này Aggivessana, dù là con voi của vua ở tuổi trung niên chết khi đã được điều phục, đã được huấn luyện, nó cũng chỉ được gọi là 'con voi của vua ở tuổi trung niên đã chết mà chết trong cảnh đã điều phục'.
Này Aggivessana, dù là con voi của vua còn trẻ chết khi đã được điều phục, đã được huấn luyện, nó cũng chỉ được gọi là 'con voi của vua còn trẻ đã chết mà chết trong cảnh đã điều phục'.
Cũng vậy, này Aggivessana, dù là một tỳ-kheo lớn tuổi chết khi các lậu hoặc đã được đoạn tận, vị ấy cũng chỉ được gọi là 'tỳ-kheo lớn tuổi đã chết mà chết trong cảnh đã điều phục'.
[Chú thích: Đức Thế Tôn nhẹ nhàng khích lệ Aciravata: thân phận sa-di trẻ không giới hạn sự tu tập của ông.]
Này Aggivessana, dù là một tỳ-kheo ở tuổi trung niên chết khi các lậu hoặc đã được đoạn tận, vị ấy cũng chỉ được gọi là 'tỳ-kheo ở tuổi trung niên đã chết mà chết trong cảnh đã điều phục'.
Này Aggivessana, dù là một tỳ-kheo mới chết khi các lậu hoặc đã được đoạn tận, vị ấy cũng chỉ được gọi là 'tỳ-kheo mới đã chết mà chết trong cảnh đã điều phục'.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Sa-di Aciravata hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Kinh Địa Vị Người Đã Điều Phục, bài thứ năm, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.