Trung Bộ Kinh · bài 53/152
Kinh Hữu Học
Sekha Sutta — bài kinh về bậc hữu học
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Hữu Học (Sekha Sutta) là bài kinh thứ 53 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Chuyện xảy ra ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), kinh đô của bộ tộc Sakya (Thích-ca), nơi Đức Thế Tôn lớn lên. Người Sakya vừa xây xong một nhà hội — không phải chùa, mà là ngôi nhà chung của cả cộng đồng, nơi họp bàn việc làng việc nước. Vì chưa ai dùng, họ thỉnh Đức Thế Tôn đến dùng trước, tin rằng làm vậy sẽ đem lại điều lành cho cả tộc. Đức Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng.
Đêm ấy, Ngài nói pháp cho họ đến khuya. Rồi Ngài giao cho vị tôn giả Ānanda (A-nan) nói tiếp về "hạnh của bậc hữu học" — tức cách sống và cách tu của một người đang trên đường, chưa xong nhưng đã bắt đầu — và nói lý do rất đời: lưng Ngài nhức mỏi, Ngài muốn nằm duỗi. Trong kinh Pali, những chi tiết như vậy không bị giấu đi. Đức Thế Tôn nằm nghiêng theo thế nằm của sư tử, vẫn chánh niệm, và để Ānanda giảng thay mình.
Bài giảng của Ānanda là một bản đồ tu tập xếp theo thứ tự. Trước hết là giới: giữ các học giới, sống trong sự thu thúc của giới bổn, thấy nguy hiểm trong cả những lỗi nhỏ. Rồi canh giữ các cửa giác quan: khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, không nắm lấy tướng chung và nét riêng, không để tham lam và sầu khổ tràn vào. Rồi biết tiết độ trong việc ăn — ăn không phải để vui chơi hay làm đẹp, mà để thân được duy trì và việc tu được tiếp tục. Rồi chuyên tâm vào sự tỉnh thức: ban ngày và canh đầu đêm đi kinh hành, ngồi thiền; canh giữa nằm nghỉ đúng mức; canh cuối dậy tiếp tục.
Sau đó là bảy thiện pháp — đức tin, lòng hổ thẹn, sự ghê sợ điều xấu, nghe nhiều, tinh tấn, chánh niệm, tuệ — và bốn thiền-na, tức bốn tầng thiền định sâu, nơi tâm lắng lại và trở nên trong sáng. Người hội đủ những điều ấy được gọi là bậc hữu học: còn phải học, nhưng đã chắc chắn. Hình ảnh dùng để nói về người ấy là một con gà mái ấp trứng. Gà mẹ có ước mong gà con nở hay không, trứng đã được ấp đủ ngày thì gà con vẫn mổ vỏ chui ra. Tu tập cũng vậy: khi các điều kiện đã đủ, sự bừng tỉnh xảy ra theo quy luật của nó, không cần ai van xin.
Ba lần nở ra trong bài ứng với ba cái biết lớn. Lần thứ nhất là nhớ lại các đời sống trước, với tên, dòng họ, màu da, thức ăn, tuổi thọ. Lần thứ hai là thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, kẻ sang người hèn, đẹp xấu, vui khổ, và hiểu rằng tất cả đi theo nghiệp của mình. Lần thứ ba là đoạn tận các lậu hoặc — những ô nhiễm sâu kín nhất của tâm — và ngay trong đời này chứng được sự giải thoát của tâm cùng sự giải thoát bằng tuệ. Ba lần ấy khép lại phần minh, tức cái biết; còn phần hạnh, tức cách sống, là cả đoạn đường phía trước.
Bài kinh khép lại bằng một bài kệ của Phạm Thiên Sanaṅkumāra (Thường Đồng Tử): trong loài người, ai lấy dòng họ làm chuẩn mực thì vua chúa là cao quý nhất; nhưng người thành tựu về minh và hạnh mới là cao quý nhất trong loài trời và người. Ānanda dẫn bài kệ ấy, và Đức Thế Tôn tán thành. Với người đọc hôm nay, bài kinh có thể đọc như một chương trình từng bước: không đòi tin trước, chỉ đòi làm thử. Nó cũng cho thấy một điều ít được nói: vị thầy trong kinh này không phải người đứng trên cao rồi phán truyền, mà là người đã đi trước, biết mình mệt, và sẵn sàng để học trò nói tiếp.
[Chú thích của người dịch: sekha là bậc còn phải học, thường chỉ người đã bước vào dòng thánh nhưng chưa chứng quả A-la-hán. Pāṭipada là con đường thực hành, nên tên bài kinh nói về cách sống và cách tu của một người đang trên đường ấy.]
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú trong xứ của người Sakya (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong tu viện Nigrodhārāma (vườn cây đa).
Lúc bấy giờ, người Sakya ở Kapilavatthu vừa mới xây xong một nhà hội mới, và chưa có sa-môn, bà-la-môn hay bất cứ ai đến ở trong đó.
[Chú thích: Việc hoàn thành một nhà hội được mừng bằng một buổi nói pháp cho người Sakya, và ở chỗ khác là cho người Malla. Đây là nơi họp chung của cộng đồng, đóng vai trò trung tâm trong đời sống công dân và việc quyết định chung ở những nước cộng hòa như của người Malla và người Sakya. Việc Đức Thế Tôn có mặt cho thấy Ngài ủng hộ tiến trình công dân và dân chủ ấy.]
Rồi người Sakya ở Kapilavatthu đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, họ đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, người Sakya ở Kapilavatthu thưa với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, người Sakya ở Kapilavatthu vừa mới xây xong một nhà hội mới, và chưa có sa-môn, bà-la-môn hay bất cứ ai đến ở trong đó.
Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn dùng nhà ấy trước tiên. Sau khi Đức Thế Tôn dùng trước, người Sakya ở Kapilavatthu sẽ dùng sau.
Việc ấy sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho người Sakya ở Kapilavatthu."
Đức Thế Tôn nhận lời bằng sự im lặng.
Rồi người Sakya ở Kapilavatthu, biết Đức Thế Tôn đã nhận lời, liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Ngài, đi nhiễu quanh Ngài, giữ Ngài ở bên phải mình, rồi đi đến nhà hội mới. Đến nơi, họ trải thảm khắp nhà hội, đặt sẵn các chỗ ngồi, đặt một bình nước, thắp một ngọn đèn dầu. Rồi họ trở lại chỗ Đức Thế Tôn,
đến nơi, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên.
Khi đã đứng sang một bên, người Sakya ở Kapilavatthu thưa với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, nhà hội đã được trải thảm khắp nơi, các chỗ ngồi đã được đặt sẵn, bình nước đã được đặt, đèn dầu đã được thắp.
Bạch Thế Tôn, nay xin Đức Thế Tôn đến khi thấy thuận tiện."
Rồi Đức Thế Tôn mặc y, mang bát và y, cùng với Tăng đoàn các tỳ-kheo đi đến nhà hội. Đến nơi, Ngài rửa chân, bước vào nhà hội, ngồi dựa vào cột giữa, mặt hướng về phía đông.
Tăng đoàn các tỳ-kheo cũng rửa chân, bước vào nhà hội, ngồi dựa vào bức tường phía tây, mặt hướng về phía đông, với Đức Thế Tôn ở ngay trước mặt.
Người Sakya ở Kapilavatthu cũng rửa chân, bước vào nhà hội, ngồi dựa vào bức tường phía đông, mặt hướng về phía tây, với Đức Thế Tôn ở ngay trước mặt.
Rồi Đức Thế Tôn dùng phần lớn đêm ấy để khai thị, khuyến tấn, khích lệ và làm hoan hỷ người Sakya ở Kapilavatthu bằng một buổi nói pháp. Sau đó, Ngài bảo vị tôn giả Ānanda (A-nan):
"Này Ānanda, hãy nói cho người Sakya ở Kapilavatthu về hạnh của bậc hữu học, tùy theo cảm hứng của ông.
Lưng ta nhức mỏi;
ta sẽ duỗi lưng ra."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," vị tôn giả Ānanda đáp lại.
Rồi Đức Thế Tôn trải y ngoài gấp làm bốn, nằm theo thế nằm của sư tử về phía bên phải, đặt chân này lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác, để tâm đến ý niệm về việc thức dậy.
Rồi vị tôn giả Ānanda bảo Mahānāma (Ma-ha-nam) người Sakya:
[Chú thích: Theo lệ, lời nói được hướng đến vị lớn tuổi nhất trong nhóm.]
"Này Mahānāma, ở đây vị thánh đệ tử thành tựu về giới, canh giữ các cửa giác quan, biết tiết độ trong việc ăn, chuyên tâm vào sự tỉnh thức, thành tựu bảy thiện pháp, và có được bốn thiền-na — những trạng thái thuộc tâm cao hơn, là chỗ an trú an lạc ngay trong đời này — khi muốn là được, không khó khăn, không vất vả.
[Chú thích: Đây là một dị bản của con đường tu tập tuần tự, vốn thường được trình bày cho người xuất gia. Việc đưa bảy thiện pháp vào đây có vẻ là cách điều chỉnh cho hợp với người tại gia.]
Và này Mahānāma, thế nào là vị thánh đệ tử thành tựu về giới?
Ở đây, này Mahānāma, vị thánh đệ tử có giới, sống trong sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, thành tựu về cách sống và nơi lui tới, thấy nguy hiểm trong những lỗi dù nhỏ, thọ trì và học tập các học giới.
Như vậy, này Mahānāma, vị thánh đệ tử thành tựu về giới.
Và này Mahānāma, thế nào là vị thánh đệ tử canh giữ các cửa giác quan?
Ở đây, này Mahānāma, khi mắt thấy sắc, vị thánh đệ tử không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng.
Vì nhân gì mà khi sống với nhãn căn không được thu thúc, tham lam và sầu khổ cùng những pháp ác bất thiện sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc đối với điều ấy; vị ấy hộ trì nhãn căn, thực hành sự thu thúc trong nhãn căn.
Khi tai nghe âm thanh, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Vì nhân gì mà khi sống với nhĩ căn không được thu thúc, tham lam và sầu khổ cùng những pháp ác bất thiện sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc đối với điều ấy; vị ấy hộ trì nhĩ căn, thực hành sự thu thúc trong nhĩ căn.
Khi mũi ngửi mùi, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Vì nhân gì mà khi sống với tỷ căn không được thu thúc, tham lam và sầu khổ cùng những pháp ác bất thiện sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc đối với điều ấy; vị ấy hộ trì tỷ căn, thực hành sự thu thúc trong tỷ căn.
Khi lưỡi nếm vị, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Vì nhân gì mà khi sống với thiệt căn không được thu thúc, tham lam và sầu khổ cùng những pháp ác bất thiện sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc đối với điều ấy; vị ấy hộ trì thiệt căn, thực hành sự thu thúc trong thiệt căn.
Khi thân xúc chạm vật xúc chạm, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Vì nhân gì mà khi sống với thân căn không được thu thúc, tham lam và sầu khổ cùng những pháp ác bất thiện sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc đối với điều ấy; vị ấy hộ trì thân căn, thực hành sự thu thúc trong thân căn.
Khi ý biết pháp, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng.
Vì nhân gì mà khi sống với ý căn không được thu thúc, tham lam và sầu khổ cùng những pháp ác bất thiện sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc đối với điều ấy; vị ấy hộ trì ý căn, thực hành sự thu thúc trong ý căn.
Như vậy, này Mahānāma, vị thánh đệ tử canh giữ các cửa giác quan.
Và này Mahānāma, thế nào là vị thánh đệ tử biết tiết độ trong việc ăn?
Ở đây, này Mahānāma, vị thánh đệ tử suy xét một cách hợp lý rồi mới thọ dụng thức ăn:
'Không phải để vui chơi, không phải để say đắm, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp; chỉ để thân này được duy trì, được tiếp tục, để chấm dứt sự tổn hại, để hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Như vậy, ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ và không làm sinh khởi cảm thọ mới; ta sẽ có sức đi tiếp, không có lỗi lầm, và sống an ổn.'
Như vậy, này Mahānāma, vị thánh đệ tử biết tiết độ trong việc ăn.
Và này Mahānāma, thế nào là vị thánh đệ tử chuyên tâm vào sự tỉnh thức?
Ở đây, này Mahānāma, ban ngày vị thánh đệ tử thanh lọc tâm khỏi những pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền,
vào canh đầu của đêm, vị ấy thanh lọc tâm khỏi những pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền,
vào canh giữa của đêm, vị ấy nằm theo thế nằm của sư tử về phía bên phải, đặt chân này lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác, để tâm đến ý niệm về việc thức dậy,
vào canh cuối của đêm, vị ấy thức dậy và thanh lọc tâm khỏi những pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền.
Như vậy, này Mahānāma, vị thánh đệ tử chuyên tâm vào sự tỉnh thức.
Và này Mahānāma, thế nào là vị thánh đệ tử thành tựu bảy thiện pháp?
[Chú thích: Bảy thiện pháp này được minh họa bằng ví dụ về một tòa thành trong bài kinh AN 7.67. Chúng có phần trùng lặp với những yếu tố khác của con đường tu tập tuần tự, nhưng những điều ấy vốn không loại trừ nhau.]
Ở đây, này Mahānāma, vị thánh đệ tử có đức tin, tin vào sự giác ngộ của Như Lai:
'Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.'"
Vị ấy có lòng hổ thẹn; hổ thẹn với ác hạnh nơi thân, nơi lời, nơi ý, hổ thẹn khi rơi vào các pháp ác bất thiện.
Vị ấy biết ghê sợ; ghê sợ ác hạnh nơi thân, nơi lời, nơi ý, ghê sợ khi rơi vào các pháp ác bất thiện.
Vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe. Những pháp nào tốt đẹp ở đầu, tốt đẹp ở giữa, tốt đẹp ở cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh, thì vị ấy nghe nhiều những pháp như vậy, ghi nhớ, ôn luyện bằng lời, quán sát bằng ý, thấu triệt bằng tri kiến.
Vị ấy sống với tinh tấn đã phát khởi để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện; vị ấy mạnh mẽ, nỗ lực vững chắc, không bỏ gánh nặng trong các pháp thiện.
Vị ấy có chánh niệm, thành tựu chánh niệm và tuệ tối thượng, nhớ lại và hồi tưởng những gì đã làm, đã nói từ lâu.
[Chú thích: Ở đây sati mang nghĩa gần với nghĩa thời trước Phật: nhớ, ghi giữ trong lòng. Trong nghĩa ấy, chánh niệm là yếu tố liên tục nối các khoảnh khắc của tâm thành một dòng mạch, nên khi niệm hơi thở thì hành giả chú tâm liên tục vào hơi thở, không quên việc mình đang làm.]
Vị ấy có tuệ, thành tựu tuệ thấy sự sinh và sự diệt, thứ tuệ cao quý, sắc bén, đưa đến chỗ đoạn tận hoàn toàn khổ đau.
Như vậy, này Mahānāma, vị thánh đệ tử thành tựu bảy thiện pháp.
Và này Mahānāma, thế nào là vị thánh đệ tử có được bốn thiền-na — những trạng thái thuộc tâm cao hơn, là chỗ an trú an lạc ngay trong đời này — khi muốn là được, không khó khăn, không vất vả?
Ở đây, này Mahānāma, vị thánh đệ tử ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi;
khi tầm và tứ lắng xuống, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, một trạng thái nội tâm lắng trong, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh khởi;
khi hỷ đã lìa, vị ấy trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận lạc bằng thân, chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố: 'Người có xả và chánh niệm thì sống an lạc';
sau khi từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, và khi hỷ và ưu từ trước đã chấm dứt, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, trạng thái không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.
Như vậy, này Mahānāma, vị thánh đệ tử có được bốn thiền-na — những trạng thái thuộc tâm cao hơn, là chỗ an trú an lạc ngay trong đời này — khi muốn là được, không khó khăn, không vất vả.
Này Mahānāma, khi vị thánh đệ tử thành tựu về giới như vậy, canh giữ các cửa giác quan như vậy, biết tiết độ trong việc ăn như vậy, chuyên tâm vào sự tỉnh thức như vậy, thành tựu bảy thiện pháp như vậy, và có được bốn thiền-na — những trạng thái thuộc tâm cao hơn, là chỗ an trú an lạc ngay trong đời này — khi muốn là được, không khó khăn, không vất vả như vậy, thì vị ấy, này Mahānāma, được gọi là vị thánh đệ tử hữu học, đang thực hành, đã đạt đến tình trạng trứng không bị hỏng, có khả năng nở ra, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt sự an ổn tối thượng khỏi mọi ách.
Ví như, này Mahānāma, một con gà mái có tám, mười hay mười hai trứng, và nó đã ấp đúng cách, sưởi ấm đúng cách, làm cho trứng chín đúng cách. Dù cho con gà mái ấy không khởi lên ước muốn rằng:
'Ước gì các gà con của ta có thể dùng móng chân hoặc mỏ phá vỡ vỏ trứng mà nở ra an toàn.'
Dù vậy, các gà con ấy vẫn có khả năng dùng móng chân hoặc mỏ phá vỡ vỏ trứng mà nở ra an toàn.
Cũng vậy, này Mahānāma, khi vị thánh đệ tử thành tựu về giới như vậy, canh giữ các cửa giác quan như vậy, biết tiết độ trong việc ăn như vậy, chuyên tâm vào sự tỉnh thức như vậy, thành tựu bảy thiện pháp như vậy, và có được bốn thiền-na — những trạng thái thuộc tâm cao hơn, là chỗ an trú an lạc ngay trong đời này — khi muốn là được, không khó khăn, không vất vả như vậy, thì vị ấy, này Mahānāma, được gọi là vị thánh đệ tử hữu học, đang thực hành, đã đạt đến tình trạng trứng không bị hỏng, có khả năng nở ra, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt sự an ổn tối thượng khỏi mọi ách.
Này Mahānāma, chính vị thánh đệ tử ấy, nương vào sự thanh tịnh của xả và niệm tối thượng này, nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau,
[Chú thích: "Sự thanh tịnh của xả và niệm" là tên gọi của thiền-na thứ tư.]
nghĩa là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới vừa co lại vừa giãn ra. 'Ở nơi ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ và lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ nơi ấy chết đi, ta sinh ra ở nơi kia. Ở nơi kia, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ và lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ nơi kia chết đi, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, với đầy đủ nét và chi tiết,
đây là lần nở ra thứ nhất của vị ấy, như gà con nở ra khỏi vỏ trứng.
Này Mahānāma, chính vị thánh đệ tử ấy, nương vào sự thanh tịnh của xả và niệm tối thượng này, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá tầm mắt của người, thấy chúng sinh đang lìa đời và đang tái sinh, kẻ hèn kém, bậc cao quý, người xinh đẹp, kẻ xấu xí, người đi đến cõi vui, kẻ đi đến cõi khổ. Vị ấy hiểu rõ các chúng sinh ấy tùy theo nghiệp mà đi: 'Những chúng sinh này đã làm ác nơi thân, nơi lời, nơi ý, đã phỉ báng các bậc thánh, đã mang tà kiến và hành theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, chúng đã sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh kia đã làm thiện nơi thân, nơi lời, nơi ý, không phỉ báng các bậc thánh, đã mang chánh kiến và hành theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, chúng đã sinh vào cõi lành, cõi trời.' Như vậy, vị ấy hiểu rõ các chúng sinh tùy theo nghiệp mà đi,
đây là lần nở ra thứ hai của vị ấy, như gà con nở ra khỏi vỏ trứng.
Này Mahānāma, chính vị thánh đệ tử ấy, nương vào sự thanh tịnh của xả và niệm tối thượng này, do các lậu hoặc đã đoạn tận, tự mình thắng tri và chứng ngộ ngay trong đời này, rồi chứng đạt và an trú sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng tuệ, cả hai đều không còn lậu hoặc,
đây là lần nở ra thứ ba của vị ấy, như gà con nở ra khỏi vỏ trứng.
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử thành tựu về giới — điều ấy cũng thuộc về hạnh của vị ấy;
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử canh giữ các cửa giác quan — điều ấy cũng thuộc về hạnh của vị ấy;
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử biết tiết độ trong việc ăn — điều ấy cũng thuộc về hạnh của vị ấy;
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử chuyên tâm vào sự tỉnh thức — điều ấy cũng thuộc về hạnh của vị ấy;
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử thành tựu bảy thiện pháp — điều ấy cũng thuộc về hạnh của vị ấy;
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử có được bốn thiền-na — những trạng thái thuộc tâm cao hơn, là chỗ an trú an lạc ngay trong đời này — khi muốn là được, không khó khăn, không vất vả — điều ấy cũng thuộc về hạnh của vị ấy.
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, nghĩa là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới vừa co lại vừa giãn ra. 'Ở nơi ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ và lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ nơi ấy chết đi, ta sinh ra ở nơi kia. Ở nơi kia, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ và lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ nơi kia chết đi, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, với đầy đủ nét và chi tiết — điều ấy thuộc về minh của vị ấy;
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử dùng thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá tầm mắt của người, thấy chúng sinh đang lìa đời và đang tái sinh, kẻ hèn kém, bậc cao quý, người xinh đẹp, kẻ xấu xí, người đi đến cõi vui, kẻ đi đến cõi khổ, và hiểu rõ các chúng sinh ấy tùy theo nghiệp mà đi: 'Những chúng sinh này đã làm ác nơi thân, nơi lời, nơi ý, đã phỉ báng các bậc thánh, đã mang tà kiến và hành theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, chúng đã sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh kia đã làm thiện nơi thân, nơi lời, nơi ý, không phỉ báng các bậc thánh, đã mang chánh kiến và hành theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, chúng đã sinh vào cõi lành, cõi trời.' Như vậy, vị ấy hiểu rõ các chúng sinh tùy theo nghiệp mà đi — điều ấy thuộc về minh của vị ấy.
Này Mahānāma, việc vị thánh đệ tử do các lậu hoặc đã đoạn tận mà tự mình thắng tri và chứng ngộ ngay trong đời này, rồi chứng đạt và an trú sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng tuệ, cả hai đều không còn lậu hoặc — điều ấy thuộc về minh của vị ấy.
Này Mahānāma, vị thánh đệ tử ấy được gọi là thành tựu về minh, cũng được gọi là thành tựu về hạnh, cũng được gọi là thành tựu về minh và hạnh.
Này Mahānāma, bài kệ này đã được Phạm Thiên Sanaṅkumāra (Thường Đồng Tử) nói lên:
[Chú thích: Sanaṅkumāra, nghĩa là "luôn trẻ", về sau thành một vị thần Ấn Độ giáo gắn chặt với việc thờ Krishna, và xuất hiện lần đầu ở chương bảy của Chāndogya Upaniṣad. Dịp ông nói bài kệ này được ghi lại trong SN 6.11, và bài kệ còn được lặp lại ở vài chỗ khác, chẳng hạn DN 3:1.28.2, nơi nó có lý do ngữ cảnh rõ hơn.]
'Trong loài người, giai cấp vua chúa là cao quý nhất,
trong số những kẻ lấy dòng họ làm chuẩn mực;
Còn người thành tựu về minh và hạnh,
ấy là bậc cao quý nhất trong loài trời và người.'
Này Mahānāma, bài kệ ấy đã được Phạm Thiên Sanaṅkumāra hát hay chứ không hát dở, nói đúng chứ không nói sai, có ý nghĩa chứ không vô nghĩa, và đã được Đức Thế Tôn tán thành.
Rồi Đức Thế Tôn đứng dậy và bảo vị tôn giả Ānanda:
"Lành thay, lành thay, này Ānanda!
Này Ānanda, ông đã khéo nói cho người Sakya ở Kapilavatthu về hạnh của bậc hữu học."
Vị tôn giả Ānanda đã nói như vậy.
Bậc Đạo sư đã tán đồng.
Người Sakya ở Kapilavatthu hoan hỷ, tán thán lời vị tôn giả Ānanda đã nói.
Kinh Hữu Học, bài thứ ba, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.