Trung Bộ Kinh · bài 141/152
Kinh Phân Biệt Sự Thật
Saccavibhaṅga Sutta — bài phân tích về bốn sự thật cao quý
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Phân Biệt Sự Thật (Saccavibhaṅga Sutta) là bài kinh thứ 141 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Tên Pali của bài gồm hai chữ: sacca là sự thật, vibhaṅga là sự phân tích, chia nhỏ ra từng phần. Nội dung đúng như tên gọi: bài kinh lấy bốn sự thật cao quý mà Đức Thế Tôn dạy trong bài giảng đầu tiên, rồi mổ xẻ từng sự thật thành những định nghĩa rõ ràng.
Bối cảnh rất đơn giản. Một buổi nọ, Đức Thế Tôn đang ở vườn nai Isipatana, gần Bārāṇasi. Ngài khen Sāriputta và Moggallāna, hai đệ tử lớn, và nói rằng Sāriputta có khả năng phân tích bốn sự thật cao quý một cách chi tiết. Nói xong, Ngài đứng dậy đi vào chỗ trú. Sāriputta ở lại với các tỳ-kheo, nhắc lại lời ấy rồi bắt đầu giảng. Từ đó đến hết bài là lời của Sāriputta, không phải lời của Đức Thế Tôn.
Bốn sự thật ấy là: khổ; nguồn gốc của khổ; sự chấm dứt của khổ; và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ. Nghe như một danh sách khô khan, nhưng thật ra đó là bốn câu hỏi nối tiếp nhau: cái gì đang làm mình khổ, nó từ đâu đến, nó có thể hết được không, và làm sao cho nó hết.
Phần về khổ dài nhất. Sāriputta không dừng ở câu "sinh là khổ" mà lần lượt định nghĩa từng thứ: sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; rồi cái ước muốn không thành; và cuối cùng là năm uẩn bám giữ. Mỗi định nghĩa là một chuỗi từ gần nghĩa, giống như từ điển giải thích một chữ bằng nhiều chữ khác. Người đọc hôm nay có thể thấy phần này lặp, nhưng chính cái lặp ấy cho thấy bài kinh được truyền miệng và được học thuộc.
Hai sự thật tiếp theo ngắn hơn nhiều. Khổ đến từ tham ái, thứ ham muốn kéo mình sang đời sống kế tiếp; khổ chấm dứt khi chính tham ái ấy phai nhạt và tắt hẳn, không còn chút dư lại. Sự thật thứ tư là con đường tám nhánh: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Mỗi nhánh có một định nghĩa riêng, và nhánh cuối cùng được mở ra thành bốn tầng thiền-na.
Vậy đọc bài này để làm gì? Trước hết, vì nó cho thấy bốn sự thật không phải một câu khẩu hiệu để tụng, mà là một bản đồ có thể kiểm tra từng mục. Sau nữa, vì nó là một mẫu về cách dạy: nhắc lại lời thầy, rồi mở từng chữ ra, không thêm không bớt. Và cuối cùng, vì nó cho thấy trong Tăng đoàn thuở ấy, việc giảng Pháp không chỉ dành cho Đức Thế Tôn: một vị đệ tử có thể thay Ngài giải thích cho người khác, miễn là nói đúng điều Ngài đã nói.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Bārāṇasi (Ba-la-nại), trong vườn nai Isipatana (Lộc Uyển).
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, tại Bārāṇasi, trong vườn nai Isipatana, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã chuyển vận bánh xe Pháp tối thượng; bánh xe ấy không thể bị chuyển ngược lại bởi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời, đó là—
việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ bốn sự thật cao quý.
[Chú thích: Lời này chỉ đến bài kinh Chuyển Pháp Luân, tức bài giảng đầu tiên của Đức Thế Tôn, tương đương SN 56.11. Bài kinh đang đọc đây được xem như lời chú giải của kinh tạng cho bài giảng ấy.]
Bốn là những gì?
Việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ sự thật cao quý về khổ; việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ; việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ; việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ.
[Chú thích: Bốn sự thật cao quý đôi khi được ví như một vị thầy thuốc: nhận ra bệnh, tìm ra nguyên nhân, hiểu được sự bình phục, rồi cho thuốc cho đến khi người bệnh khỏe lại. Cách ví ấy không có trong kinh tạng Pali.]
Này các tỳ-kheo, tại Bārāṇasi, trong vườn nai Isipatana, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã chuyển vận bánh xe Pháp tối thượng; bánh xe ấy không thể bị chuyển ngược lại bởi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời, đó là—
việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ bốn sự thật cao quý ấy.
Này các tỳ-kheo, các ông hãy thân cận Sāriputta và Moggallāna;
này các tỳ-kheo, các ông hãy giao du với Sāriputta và Moggallāna.
Hai vị ấy là những tỳ-kheo có trí tuệ, là người giúp đỡ các bạn đồng tu.
Này các tỳ-kheo, ví như người sinh ra đứa trẻ, Sāriputta là vậy;
[Chú thích: Để tán thán hai vị đệ tử lớn, Đức Thế Tôn nhắc đến công lao sinh thành của chính mình. Từ janetā trong Pali là giống đực, nên không thể dịch là "mẹ"; người cha cũng được nói là người sinh ra con.]
ví như người nuôi dưỡng đứa trẻ đã sinh ra, Moggallāna là vậy.
[Chú thích: Āpādetā là từ chỉ người nuôi cho đứa trẻ lớn lên. Cũng như janetā, từ này không dành riêng cho mẹ: cả cha lẫn mẹ đều là người nuôi dạy con.]
Này các tỳ-kheo, Sāriputta dẫn dắt người ta đến quả Dự lưu, Moggallāna dẫn đến mục đích tối thượng.
Này các tỳ-kheo, Sāriputta có khả năng nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ bốn sự thật cao quý một cách chi tiết.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Nói xong, bậc Thiện thệ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào chỗ trú.
Rồi không lâu sau khi Đức Thế Tôn rời đi, Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ-kheo:
"Này các hiền giả, này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, thưa Tôn giả", các tỳ-kheo đáp lại Tôn giả Sāriputta.
Tôn giả Sāriputta nói điều này:
Thưa các vị, tại Bārāṇasi, trong vườn nai Isipatana, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã chuyển vận bánh xe Pháp tối thượng; bánh xe ấy không thể bị chuyển ngược lại bởi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời, đó là—
việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ bốn sự thật cao quý.
Bốn là những gì?
Việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ sự thật cao quý về khổ; việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ; việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ; việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ.
Và này các vị, sự thật cao quý về khổ là gì?
Sinh là khổ, già là khổ, chết là khổ; sầu, bi, khổ, ưu, não cũng là khổ; không được điều mình muốn cũng là khổ. Tóm lại, năm uẩn bám giữ là khổ.
Và này các vị, sinh là gì?
[Chú thích: Ở đây Sāriputta phân tích xa hơn bài kinh Chuyển Pháp Luân. Phần phân tích mở rộng này về sau được đưa vào kinh Đại Niệm Xứ, tức DN 22, và ở đó hai sự thật ở giữa lại được mở rộng thêm. Các định nghĩa về sinh, già, chết là công thức chuẩn trong lý duyên khởi, và Sāriputta cũng dạy như vậy ở kinh Chánh Kiến, tức MN 9.]
Đó là sự sinh, sự ra đời, sự nhập thai, sự hình thành, sự xuất hiện của các uẩn, sự có được các xứ của các chúng sinh trong từng loài chúng sinh—
Đó, này các vị, được gọi là "sinh".
Và này các vị, già là gì?
Đó là sự già nua, sự suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm sút, các căn chín muồi của các chúng sinh trong từng loài chúng sinh—
Đó, này các vị, được gọi là "già".
Và này các vị, chết là gì?
Đó là sự từ trần, sự qua đời, sự tan rã, sự biến mất, sự chết, sự mệnh chung, sự lìa cõi đời, sự tan rã các uẩn, sự bỏ lại thân xác, sự cắt đứt mạng sống của các chúng sinh trong từng loài chúng sinh—
Đó, này các vị, được gọi là "chết".
Và này các vị, sầu là gì?
Này các vị, với người gặp tai họa này hay tai họa khác, bị pháp khổ này hay pháp khổ khác chạm đến, thì sự sầu, sự sầu muộn, sự đau lòng, sầu trong lòng, sầu muộn trong lòng—
Đó, này các vị, được gọi là "sầu".
Và này các vị, bi là gì?
Này các vị, với người gặp tai họa này hay tai họa khác, bị pháp khổ này hay pháp khổ khác chạm đến, thì sự kêu khóc, sự than khóc, sự kêu than, sự than vãn, trạng thái kêu khóc, trạng thái than vãn—
Đó, này các vị, được gọi là "bi".
Và này các vị, khổ là gì?
Này các vị, đó là cái khổ thuộc thân, cái không êm ái thuộc thân, cảm thọ khổ, cảm thọ không êm ái sinh ra từ xúc của thân—
Đó, này các vị, được gọi là "khổ".
Và này các vị, ưu là gì?
Này các vị, đó là cái khổ thuộc tâm, cái không êm ái thuộc tâm, cảm thọ khổ, cảm thọ không êm ái sinh ra từ xúc của ý—
Đó, này các vị, được gọi là "ưu".
Và này các vị, não là gì?
Này các vị, với người gặp tai họa này hay tai họa khác, bị pháp khổ này hay pháp khổ khác chạm đến, thì sự bức bối, sự não lòng, trạng thái bức bối, trạng thái não lòng—
Đó, này các vị, được gọi là "não".
Và này các vị, thế nào là "không được điều mình muốn là khổ"?
Này các vị, với các chúng sinh có bản chất sinh, ước muốn như vầy khởi lên:
"Ước gì chúng ta không có bản chất sinh; ước gì sự sinh không đến với chúng ta!"
Nhưng điều ấy không thể đạt được bằng ước muốn.
Đây cũng là "không được điều mình muốn là khổ".
Này các vị, với các chúng sinh có bản chất già, ước muốn như vầy khởi lên: "Ước gì chúng ta không có bản chất già; ước gì sự già không đến với chúng ta!" Nhưng điều ấy không thể đạt được bằng ước muốn. Đây cũng là "không được điều mình muốn là khổ".
Này các vị, với các chúng sinh có bản chất bệnh, ước muốn như vầy khởi lên: "Ước gì chúng ta không có bản chất bệnh; ước gì bệnh không đến với chúng ta!" Nhưng điều ấy không thể đạt được bằng ước muốn. Đây cũng là "không được điều mình muốn là khổ".
Này các vị, với các chúng sinh có bản chất chết, ước muốn như vầy khởi lên: "Ước gì chúng ta không có bản chất chết; ước gì sự chết không đến với chúng ta!" Nhưng điều ấy không thể đạt được bằng ước muốn. Đây cũng là "không được điều mình muốn là khổ".
Này các vị, với các chúng sinh có bản chất sầu, bi, khổ, ưu, não, ước muốn như vầy khởi lên:
"Ước gì chúng ta không có bản chất sầu, bi, khổ, ưu, não; ước gì sầu, bi, khổ, ưu, não không đến với chúng ta!"
Nhưng điều ấy không thể đạt được bằng ước muốn.
Đây cũng là "không được điều mình muốn là khổ".
Và này các vị, thế nào là "tóm lại, năm uẩn bám giữ là khổ"?
[Chú thích: Năm uẩn tóm gọn toàn bộ khổ, vì mọi khổ đều được cảm nhận trong năm uẩn và bằng năm uẩn.]
Đó là uẩn bám giữ của sắc, uẩn bám giữ của thọ, uẩn bám giữ của tưởng, uẩn bám giữ của hành, uẩn bám giữ của thức.
Đó, này các vị, được gọi là "tóm lại, năm uẩn bám giữ là khổ".
Đó, này các vị, được gọi là "sự thật cao quý về khổ".
Và này các vị, sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ là gì?
[Chú thích: Sự thật thứ hai và thứ ba ở đây được phân tích ngang mức bài kinh Chuyển Pháp Luân, không định nghĩa thêm các từ. Xem chú thích ở MN 9:16.2.]
Chính là tham ái đưa đến tái sinh, đi kèm với thích thú và tham đắm, tìm vui chỗ này chỗ kia, đó là—
tham ái đối với dục lạc, tham ái đối với sự tồn tại, tham ái đối với sự không tồn tại.
Đó, này các vị, được gọi là "sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ".
Và này các vị, sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ là gì?
Đó là sự ly tham và chấm dứt hoàn toàn, không còn sót lại, của chính tham ái ấy; là sự buông bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự không bám víu.
Đó, này các vị, được gọi là "sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ".
Và này các vị, sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ là gì?
[Chú thích: Từ đây là những định nghĩa chuẩn của tám chi phần con đường, như trong SN 45.8 và DN 22; có thể so với MN 117.]
Đó chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Và này các vị, chánh kiến là gì?
[Chú thích: "Kiến" (diṭṭhi) nghĩa là sự thấy, nên cũng là từ chỉ sự hiểu biết. Trong giáo pháp, nó chỉ một cách nhìn, một quan điểm dùng để hiểu thế gian. Tự nó là trung tính, nhưng "các tà kiến" thì thường chỉ một mớ những cái thấy sai lệch.]
Này các vị, đó là sự hiểu biết về khổ, sự hiểu biết về nguồn gốc của khổ, sự hiểu biết về sự chấm dứt của khổ, sự hiểu biết về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ—
[Chú thích: Sự thật thứ tư là con đường, còn chi phần đầu tiên của con đường lại là bốn sự thật; hai lời dạy ấy là hai cách nhìn khác nhau về cùng một pháp. Vô minh được mô tả theo cách ngược lại.]
Đó, này các vị, được gọi là "chánh kiến".
Và này các vị, chánh tư duy là gì?
[Chú thích: Saṅkappa thường đồng nghĩa với vitakka trong kinh, nên có khi được dịch là "suy nghĩ". Nhưng nó không chỉ là lời nói trong đầu, mà là hướng tâm đang được đặt vào, nên ở đây dịch là "tư duy". Chi phần này là mặt cảm xúc của chánh kiến, bảo đảm con đường được thúc đẩy bởi tình thương và lòng bi mẫn.]
Đó là tư duy về xuất ly, tư duy về không sân hận, tư duy về không làm hại—
[Chú thích: Abyāpāda nghĩa là không có ý làm hại, tức lòng tốt với người khác.]
Đó, này các vị, được gọi là "chánh tư duy".
Và này các vị, chánh ngữ là gì?
[Chú thích: Các chi phần về lời nói và việc làm được định nghĩa chi tiết trong phần tu tập tuần tự ở MN 27 và trong mười đường nghiệp lành ở MN 41.]
Đó là sự không nói dối, sự không nói lời chia rẽ, sự không nói lời thô ác, sự không nói lời vô nghĩa—
Đó, này các vị, được gọi là "chánh ngữ".
Và này các vị, chánh nghiệp là gì?
Đó là sự không giết hại chúng sinh, sự không lấy của không cho, sự không tà hạnh trong các dục—
[Chú thích: Đây là ba giới đầu trong năm giới. Tà hạnh trong các dục là sự phản bội lòng tin, hoặc gây tổn hại trong quan hệ tình dục.]
Đó, này các vị, được gọi là "chánh nghiệp".
Và này các vị, chánh mạng là gì?
Này các vị, ở đây vị thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, nuôi sống mình bằng chánh mạng—
[Chú thích: Tà mạng được định nghĩa ở MN 117:29.2 và AN 5.177:1.3; với người xuất gia thì có bản chi tiết ở DN 2:56.1.]
Đó, này các vị, được gọi là "chánh mạng".
Và này các vị, chánh tinh tấn là gì?
[Chú thích: Phần này được mở rộng thành trọn một tương ưng trong SN 49.]
Này các vị, ở đây một tỳ-kheo khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, nâng cao tâm, và ra sức thực hành để các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi—
vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, nâng cao tâm, và ra sức thực hành để các pháp ác, bất thiện đã sinh được từ bỏ—
vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, nâng cao tâm, và ra sức thực hành để các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi—
vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, nâng cao tâm, và ra sức thực hành để các pháp thiện đã sinh được đứng vững, không bị quên mất, được lớn thêm, được sung mãn, được tu tập, và được viên mãn—
Đó, này các vị, được gọi là "chánh tinh tấn".
Và này các vị, chánh niệm là gì?
[Chú thích: Chi phần này được giảng chi tiết nhất trong SN 47 và MN 10, tức kinh Niệm Xứ.]
Này các vị, ở đây một tỳ-kheo sống quán thân trên thân, có nhiệt tâm, có tỉnh giác, có chánh niệm, sau khi đã loại bỏ lòng tham và nỗi bất mãn đối với cuộc đời.
Vị ấy sống quán cảm thọ trên các cảm thọ, có nhiệt tâm, có tỉnh giác, có chánh niệm, sau khi đã loại bỏ lòng tham và nỗi bất mãn đối với cuộc đời.
Vị ấy sống quán tâm trên tâm, có nhiệt tâm, có tỉnh giác, có chánh niệm, sau khi đã loại bỏ lòng tham và nỗi bất mãn đối với cuộc đời.
Vị ấy sống quán các pháp trên các pháp, có nhiệt tâm, có tỉnh giác, có chánh niệm, sau khi đã loại bỏ lòng tham và nỗi bất mãn đối với cuộc đời—
Đó, này các vị, được gọi là "chánh niệm".
Và này các vị, chánh định là gì?
[Chú thích: "Định" (samādhi) là trạng thái tâm được thu lại, lắng vào bên trong chính nó, kèm theo nghĩa phụ là sự chiếu sáng. Trước thời Đức Thế Tôn, từ này và các từ cùng gốc được dùng theo nghĩa gom củi cho lửa. Bản dịch dùng "định" cho samādhi và "thiền-na" cho jhāna.]
Này các vị, ở đây một tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ nhất (tầng thiền định thứ nhất), một trạng thái có tầm có tứ, với hỷ và lạc sinh từ viễn ly—
[Chú thích: Thiền-na là trạng thái tâm thức được nâng cao, nên các từ ở đây mang nghĩa tinh tế hơn nghĩa thường ngày. Dạng số nhiều cho thấy "các dục" gồm cả những gì mình tiếp xúc bằng giác quan; "các pháp bất thiện" là năm triền cái. "Tầm" và "tứ" vốn là từ chỉ suy nghĩ trong tâm thức thô, ở đây chỉ chức năng rất nhẹ của việc đặt tâm lên đề mục và giữ tâm nơi ấy.]
Do tầm và tứ lắng xuống, vị ấy đạt được sự an tịnh của tâm bên trong và sự nhất tâm, rồi chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ hai, một trạng thái không tầm không tứ, với hỷ và lạc sinh từ định—
[Chú thích: Mỗi tầng thiền bắt đầu đúng lúc khía cạnh thô nhất của tầng trước vừa lặng xuống. Đây không phải việc làm có chủ ý, mà là quá trình lắng lại tự nhiên; hành giả không còn cần đặt tâm nữa, tâm chỉ còn yên và hợp nhất.]
Do hỷ lắng xuống, vị ấy an trú trong xả, có chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận lạc bằng thân, rồi chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh gọi là "có xả, có chánh niệm, an trú trong lạc"—
[Chú thích: Hỷ chuyển dần từ cái rung nhẹ tinh tế sang thế đứng của xả. Chánh niệm có mặt trong mọi tầng thiền sâu, nhưng khi có xả thì nó trở nên nổi bật.]
Do từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, và do hỷ và ưu trước đó đã lặng mất, vị ấy chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh—
[Chú thích: Xả đưa cảm giác lạc lắng xuống thành cảm giác trung tính tinh tế hơn. Khổ và ưu đã được từ bỏ từ lâu, nhưng được nhắc lại ở đây vì đó là mặt đối ứng tinh tế của lạc.]
Đó, này các vị, được gọi là "chánh định".
Đó, này các vị, được gọi là "sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ".
Thưa các vị, tại Bārāṇasi, trong vườn nai Isipatana, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã chuyển vận bánh xe Pháp tối thượng; bánh xe ấy không thể bị chuyển ngược lại bởi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời, đó là—
việc nói rõ, giảng dạy, nêu ra, thiết lập, mở bày, phân tích và làm sáng tỏ bốn sự thật cao quý ấy.
Tôn giả Sāriputta nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy.
Kinh Phân Biệt Sự Thật, bài thứ mười một, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.