buppou

Trung Bộ Kinh · bài 41/152

Kinh Sāleyyaka

Sāleyyaka Sutta — bài kinh về những người dân làng Sālā

24 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Sāleyyaka (Sāleyyaka Sutta) là bài kinh thứ 41 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh được giảng tại làng Sālā, một làng của các bà-la-môn trong xứ Kosala, khi Đức Thế Tôn đang du hành qua đó cùng với một Tăng đoàn tỳ-kheo đông đảo. Dân làng nghe tiếng tốt về Ngài rồi kéo đến ngồi một bên, và họ hỏi một câu mà người đời nào cũng hỏi: vì sao có người sau khi chết lại đi vào cảnh khổ, có người lại đi vào cảnh lành?

Câu trả lời đầu tiên của Đức Thế Tôn rất ngắn: do hạnh phi pháp và tà vạy nên chúng sinh đi vào cảnh khổ; do hạnh đúng pháp và bình đẳng nên chúng sinh đi vào cảnh lành. Mấy người trong làng không hiểu, bèn xin Ngài giảng rộng. Đức Thế Tôn nhận lời, và phần lớn bài kinh là lời giảng rộng ấy. Cách Ngài giảng cũng dễ theo: Ngài chia hạnh của một con người thành ba cửa là thân, lời nói và ý, rồi lần lượt chỉ ra những gì đi qua mỗi cửa.

Qua thân có ba việc: giết hại sinh mạng, lấy của không được cho, và tà hạnh trong các dục. Qua lời nói có bốn việc: nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm. Qua ý có ba việc: tham muốn của người, sân hận muốn người khác bị hại, và cái thấy sai lệch về đời sống đạo đức. Mười việc ấy, khi làm theo chiều xấu, là mười đường bất thiện; khi làm theo chiều ngược lại — không giết hại, không trộm cắp, không tà hạnh, nói thật, nói lời hòa hợp, nói lời dịu dàng, nói lời có ích, không tham, không sân, có cái thấy đúng — thì thành mười đường thiện. Điều đáng chú ý là bài kinh không chỉ liệt kê tội và phước; nó còn chỉ rõ cái gì được gọi là tốt, cái gì được gọi là xấu, bằng những tiêu chí rất cụ thể của lời nói và ý nghĩ, chứ không chỉ của hành vi bên ngoài.

Phần sau của bài kinh là một loạt lời ước. Người sống đúng pháp và bình đẳng có thể ước được sinh lại giữa những người giàu sang, giữa các bà-la-môn hay gia chủ giàu có, hoặc trong các cõi trời từ thấp đến cao, cho đến tầng định vô sắc. Mỗi lần như vậy, Đức Thế Tôn đều nói: điều ấy có thể xảy ra, và lý do chỉ có một — vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng. Cuối cùng là lời ước cao nhất: ngay trong đời này, do lậu hoặc đã tận, tự mình chứng đắc tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Người nghe hiểu ra, tán thán Pháp và xin quy y.

Với người mới tìm hiểu kinh điển, bài này là một bản đồ đạo đức rất gọn. Nó không ra lệnh từ bên ngoài, cũng không hứa hẹn bằng quyền lực của một đấng nào; nó nói rằng cách mình sống, cách mình nói và cách mình nghĩ chính là cái đưa mình đi. Và nó kết thúc bằng một cảnh rất đời: những người đã nghe hiểu thì tự mình đứng lên, nói lời cảm ơn và xin nương tựa. Đó cũng là lý do bài kinh này vẫn dễ đọc sau hơn hai nghìn năm — vì câu hỏi của dân làng Sālā vẫn là câu hỏi của chúng ta.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn tỳ-kheo đông đảo, Ngài đi đến một làng bà-la-môn của người Kosala tên là Sālā.

[Chú thích: Có thể ngôi làng này gắn với Śālagrāma, nơi về sau nổi tiếng là nguồn của những viên đá hóa thạch amonit trên sông Gaṇḍakī, được thờ như hình thức không tượng của Vishnu; nhưng Śālagrāma ở quá xa về phía đông bắc, dù ta không biết chắc biên giới xứ Kosala. Đuôi giống cái của dạng Pali gợi rằng tên ấy nghĩa là "sảnh đường", còn nguồn Sanskrit lại truy tên ấy về rừng cây sālā mọc nhiều ở chân dãy Himalaya. Khung truyện này lặp lại ở MN 60, nơi cũng bàn về tái sinh.]

Các bà-la-môn và gia chủ làng Sālā nghe rằng:

Thưa các ngài, sa-môn Gotama, dòng dõi Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn tỳ-kheo đông đảo, nay đã đến làng Sālā.

Về bậc Tôn giả Gotama ấy, tiếng tốt đã vang xa như vầy:

"Ngài là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.

Ngài đã tự mình chứng biết bằng thắng trí thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, cùng với chúng sa-môn, bà-la-môn, trời và người, rồi truyền dạy cho người khác.

Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và có văn cú.

Ngài làm sáng tỏ đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh.

Thật tốt lành thay khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy."

Rồi các bà-la-môn và gia chủ làng Sālā đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Khi đến, một số người đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số người chào hỏi, nói những lời thăm hỏi thân thiện rồi ngồi xuống một bên; một số người chắp tay hướng về Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số người xưng tên họ trước Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số người im lặng ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các bà-la-môn và gia chủ làng Sālā thưa với Đức Thế Tôn:

Thưa ngài Gotama, đâu là nhân, đâu là duyên khiến một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục?

[Chú thích: Trong các văn bản Bà-la-môn có nhiều thuyết về tái sinh. Chẳng hạn Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.4.5 nói tái sinh tùy vào việc lành hay dữ, nhưng có ghi ý kiến khác rằng chỉ ước muốn là đủ; Chāndogya Upaniṣad 5.10.1–5 mô tả hai con đường, người tu khổ hạnh trong rừng đi đến cõi Phạm Thiên, còn người làm lễ tế đi đến mặt trăng, từ đó người làm việc lành được sinh lại làm người trong giai cấp tốt, người làm việc dữ sinh làm kẻ cùng đinh, heo hay chó, còn người không theo con đường nào thì sinh làm loài vật nhỏ hay côn trùng.]

Và thưa ngài Gotama, đâu là nhân, đâu là duyên khiến một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào đường lành, cõi trời?

Này các gia chủ, do nhân hạnh phi pháp và tà vạy mà một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.

Này các gia chủ, do nhân hạnh đúng pháp và bình đẳng mà một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào đường lành, cõi trời.

Thưa ngài, chúng con không hiểu ý nghĩa lời ngài Gotama dạy vắn tắt, khi ý nghĩa ấy chưa được giảng rộng.

Lành thay, xin ngài Gotama thuyết Pháp cho chúng con, để chúng con hiểu được ý nghĩa lời ngài dạy vắn tắt, khi ý nghĩa ấy chưa được giảng rộng.

Vậy thì, này các gia chủ, các ông hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

"Thưa vâng, thưa ngài", các bà-la-môn và gia chủ làng Sālā đáp lại Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các gia chủ, hạnh phi pháp và tà vạy có ba loại qua thân, có bốn loại qua lời nói, có ba loại qua ý.

[Chú thích: Cách phân tích này xuất hiện nhiều trong các bài kinh và về sau được gọi là mười đường nghiệp lành. Nó cũng được tiếp nhận trong phần bàn về nghiệp của Luật Manu 12, nơi có cách chia rất giống thành mười đặc điểm.]

Và này các gia chủ, thế nào là hạnh phi pháp và tà vạy có ba loại qua thân?

Này các gia chủ, ở đây có người sát sinh, hung dữ, tay vấy máu, chuyên tâm vào việc giết hại, không có lòng thương xót đối với các chúng sinh.

[Chú thích: Lời mô tả này cũng được dùng cho kẻ giết người hàng loạt khét tiếng Aṅgulimāla ở MN 86:2.1. Những định nghĩa này nêu các trường hợp vi phạm rõ ràng, không nhằm bao quát mọi vùng xám. Giới luật của Tăng đoàn phân tích những lỗi này chi tiết hơn khi áp dụng cho đời sống xuất gia.]

Người ấy trộm cắp. Người ấy lấy của cải và vật dụng của người khác, dù ở làng hay ở rừng, khi món ấy chưa được cho, với ý định trộm cắp.

Người ấy tà hạnh trong các dục. Người ấy có quan hệ với những nữ nhân được mẹ che chở, được cha che chở, được cả mẹ lẫn cha che chở, được anh trai che chở, được chị gái che chở, được bà con che chở, được dòng họ che chở, được Pháp che chở, hoặc đã có chồng, hoặc ai xâm phạm sẽ bị hình phạt, cho đến những người chỉ mới được đeo vòng hoa làm dấu hẹn hôn.

[Chú thích: Định nghĩa này bao gồm một số vi phạm tình dục theo cái nhìn dị tính nam, mà nếu tính đến thay đổi xã hội thì ngày nay cũng được xem là không thích hợp: quan hệ với người đã kết hôn hoặc đã đính hôn, quan hệ phi pháp, hay với người còn dưới sự giám hộ như trẻ em, thiếu niên. Ở chỗ khác, kinh điển kể thêm nhiều hành vi tình dục bất chính khác, như hiếp dâm, xâm hại trẻ em, loạn luân, giao cấu với súc vật, với người đã chết, và thói đa tình nói chung. Đáng chú ý là không có lời chỉ trích nào đối với đồng tính luyến ái, quan hệ ngoài hôn nhân, quan hệ với hơn hai người, mại dâm, thủ dâm hay những hành vi tình dục cụ thể.]

Này các gia chủ, hạnh phi pháp và tà vạy có ba loại qua thân là như vậy.

Và này các gia chủ, thế nào là hạnh phi pháp và tà vạy có bốn loại qua lời nói?

Này các gia chủ, ở đây có người nói dối. Người ấy bị gọi đến giữa hội chúng, giữa đám đông, giữa bà con, giữa phường hội, hay giữa triều đình, và bị hỏi làm chứng: "Này ông bạn, ông hãy nói điều ông biết." Không biết, người ấy nói: "Tôi biết." Biết, người ấy nói: "Tôi không biết." Không thấy, người ấy nói: "Tôi thấy." Thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy." Như vậy, vì lợi cho mình, vì lợi cho người, hay vì một chút lợi lộc vật chất, người ấy nói dối một cách biết rõ.

[Chú thích: Khai man trước tòa là một trường hợp nói dối nặng.]

Người ấy nói lời hai lưỡi. Nghe ở chỗ này, người ấy đem kể ở chỗ khác để chia rẽ những người ở đây; hoặc nghe ở chỗ khác, người ấy đem kể ở chỗ này để chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy chia rẽ những người đang hòa hợp, lại tiếp tay cho những người đã chia rẽ; ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích thú chia rẽ, nói những lời gây chia rẽ.

Người ấy nói lời thô ác. Những lời nào cay nghiệt, thô lỗ, làm đau người khác, khiến người khác phẫn nộ, gần với giận dữ, không đưa đến định, thì người ấy nói những lời như vậy.

Người ấy nói lời phù phiếm. Người ấy nói không đúng lúc, nói điều không thật, nói điều vô ích, nói trái Pháp, nói trái Luật. Người ấy nói những lời không đáng giữ, không đúng lúc, không có căn cứ, không có giới hạn, không đem lại lợi ích.

Này các gia chủ, hạnh phi pháp và tà vạy có bốn loại qua lời nói là như vậy.

Và này các gia chủ, thế nào là hạnh phi pháp và tà vạy có ba loại qua ý?

[Chú thích: Ba thứ này tương ứng với ba phiền não là tham, sân, si.]

Này các gia chủ, ở đây có người tham lam. Người ấy tham muốn của cải và vật dụng của người khác: "Ước gì những gì của người khác ấy trở thành của mình!"

Người ấy có tâm sân hận, có ý nghĩ ác độc: "Mong những chúng sinh này bị giết, bị tàn sát, bị chặt đứt, bị tiêu diệt, hoặc mong chúng không còn tồn tại!"

Người ấy có tà kiến, có cái thấy đảo ngược:

"Không có quả của bố thí, không có quả của tế lễ, không có quả của cúng tế; không có quả báo của các nghiệp lành và nghiệp dữ; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có những chúng sinh hóa sinh; không có những sa-môn và bà-la-môn trên đời đã đi đúng đường, đã thực hành đúng đắn, đã tự mình chứng biết bằng thắng trí đời này và đời sau rồi truyền dạy."

[Chú thích: Đây là tà kiến cho rằng không có đời sau, và còn đi xa hơn khi chủ trương hư vô về đạo đức.]

Này các gia chủ, hạnh phi pháp và tà vạy có ba loại qua ý là như vậy.

Này các gia chủ, do nhân hạnh phi pháp và tà vạy như vậy mà một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.

Này các gia chủ, hạnh đúng pháp và bình đẳng có ba loại qua thân, có bốn loại qua lời nói, có ba loại qua ý.

Và này các gia chủ, thế nào là hạnh đúng pháp và bình đẳng có ba loại qua thân?

Này các gia chủ, ở đây có người từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, đã đặt xuống gậy gộc và vũ khí, biết hổ thẹn, có lòng thương xót, sống thương tưởng đến lợi ích của mọi chúng sinh.

Người ấy từ bỏ trộm cắp, tránh xa trộm cắp. Người ấy không lấy của cải và vật dụng của người khác, dù ở làng hay ở rừng, khi món ấy chưa được cho, với ý định trộm cắp.

Người ấy từ bỏ tà hạnh trong các dục, tránh xa tà hạnh trong các dục. Người ấy không có quan hệ với những nữ nhân được mẹ che chở, được cha che chở, được cả mẹ lẫn cha che chở, được anh trai che chở, được chị gái che chở, được bà con che chở, được dòng họ che chở, được Pháp che chở, hoặc đã có chồng, hoặc ai xâm phạm sẽ bị hình phạt, cho đến những người chỉ mới được đeo vòng hoa làm dấu hẹn hôn.

Này các gia chủ, hạnh đúng pháp và bình đẳng có ba loại qua thân là như vậy.

Và này các gia chủ, thế nào là hạnh đúng pháp và bình đẳng có bốn loại qua lời nói?

Này các gia chủ, ở đây có người từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối. Người ấy bị gọi đến giữa hội chúng, giữa đám đông, giữa bà con, giữa phường hội, hay giữa triều đình, và bị hỏi làm chứng: "Này ông bạn, ông hãy nói điều ông biết." Không biết, người ấy nói: "Tôi không biết." Biết, người ấy nói: "Tôi biết." Không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy." Thấy, người ấy nói: "Tôi thấy." Như vậy, vì lợi cho mình, vì lợi cho người, hay vì một chút lợi lộc vật chất, người ấy không nói dối một cách biết rõ.

Người ấy từ bỏ lời hai lưỡi, tránh xa lời hai lưỡi. Nghe ở chỗ này, người ấy không đem kể ở chỗ khác để chia rẽ những người ở đây; hoặc nghe ở chỗ khác, người ấy không đem kể ở chỗ này để chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy hòa giải những người đã chia rẽ, khuyến khích những người đang hòa hợp; ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.

Người ấy từ bỏ lời thô ác, tránh xa lời thô ác. Người ấy nói những lời dịu dàng, êm tai, dễ mến, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, được nhiều người vừa ý.

Người ấy từ bỏ lời phù phiếm, tránh xa lời phù phiếm. Người ấy nói đúng lúc, nói điều thật, nói điều có lợi ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; nói những lời đáng giữ, đúng lúc, có căn cứ, có giới hạn, đem lại lợi ích.


Này các gia chủ, hạnh đúng pháp và bình đẳng có bốn loại qua lời nói là như vậy.

Và này các gia chủ, thế nào là hạnh đúng pháp và bình đẳng có ba loại qua ý?

Này các gia chủ, ở đây có người không tham lam. Người ấy không tham muốn của cải và vật dụng của người khác: "Ước gì những gì của người khác ấy trở thành của mình!"

Người ấy có tâm không sân hận, có ý nghĩ không ác độc: "Mong những chúng sinh này không oán thù, không não hại, không khổ não, được sống an vui!"

Người ấy có chánh kiến, có cái thấy không đảo ngược:

"Có quả của bố thí, có quả của tế lễ, có quả của cúng tế; có quả báo của các nghiệp lành và nghiệp dữ; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có những chúng sinh hóa sinh; có những sa-môn và bà-la-môn trên đời đã đi đúng đường, đã thực hành đúng đắn, đã tự mình chứng biết bằng thắng trí đời này và đời sau rồi truyền dạy."

Này các gia chủ, hạnh đúng pháp và bình đẳng có ba loại qua ý là như vậy.

Này các gia chủ, do nhân hạnh đúng pháp và bình đẳng như vậy mà một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào đường lành, cõi trời.

Này các gia chủ, người sống đúng pháp và bình đẳng có thể ước rằng:

"Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ những người vua chúa giàu có!"

[Chú thích: Đức Thế Tôn dĩ nhiên không đề nghị điều này mà chỉ chấp nhận nó. Ở đây mười đường nghiệp lành vừa cần vừa đủ cho kết quả mong muốn. Điều ấy thay đổi ở các cõi cao hơn, nơi còn cần thiền-na, và với sự chứng đắc A-la-hán, là quả cần trọn vẹn Bát chánh đạo.]

Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ những người vua chúa giàu có.

Vì sao vậy?

Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Này các gia chủ, người sống đúng pháp và bình đẳng có thể ước rằng:

"Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ những bà-la-môn giàu có!" Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ những bà-la-môn giàu có. Vì sao vậy? Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Người ấy lại có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ những gia chủ giàu có!"

Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ những gia chủ giàu có.

Vì sao vậy?

Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Này các gia chủ, người sống đúng pháp và bình đẳng có thể ước rằng:

"Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Cātumahārājika (Tứ đại thiên vương)!"

Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Cātumahārājika.

Vì sao vậy?

Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Người ấy lại có thể ước rằng:

"Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Tāvatiṁsa (Đao Lợi)!" Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Vì sao vậy? Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Người ấy cũng có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Yāma (Dạ-ma)!"

Người ấy có thể ước tiếp: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Tusita (Đâu-suất)!"

Người ấy còn có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Nimmānarati (Hóa lạc)!"

Người ấy lại có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Paranimmitavasavatti (Tha hóa tự tại)!"

Người ấy cũng có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Brahmakāyika (Phạm chúng)!"

[Chú thích: Tái sinh vào cõi này và các cõi cao hơn được nói là không chỉ nhờ mười đường nghiệp lành mà còn nhờ tu tập thiền-na. Có khi điều ấy được diễn đạt là ly dục, một điều kiện thật ra được nêu rõ trong bản Hán tương đương của bài kinh này là SA 1042, T ii 273a13.]

Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Brahmakāyika.

Vì sao vậy?

Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Người ấy lại có thể ước rằng:

"Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Ābhā!"

[Chú thích: Chư thiên cõi Ābhā sinh lên nhờ thiền-na thứ hai. Ba hạng chư thiên tiếp theo có chữ ánh sáng trong tên là những nhóm nhỏ của chư thiên cõi Ābhā.]

Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Ābhā.

Vì sao vậy?

Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Người ấy lại có thể ước rằng:

"Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Parittābhā!" Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Parittābhā. Vì sao vậy? Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Người ấy cũng có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Appamāṇābhā!"

Người ấy có thể ước tiếp: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Ābhassarā (Quang âm)!"

Người ấy lại có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Parittasubhā!"

[Chú thích: Ba hạng chư thiên có chữ sắc đẹp trong tên sinh lên nhờ thiền-na thứ ba. Một số bản có thêm một hạng chư thiên xinh đẹp riêng, và ba hạng này là những nhóm nhỏ của hạng ấy, theo cùng khuôn mẫu với chư thiên cõi ánh sáng.]

Người ấy cũng có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Appamāṇasubhā!"

Người ấy có thể ước tiếp: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Subhakiṇhā (Biến tịnh)!"

Người ấy lại có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Vehapphalā (Quảng quả)!"

[Chú thích: Cõi này tương ứng với thiền-na thứ tư.]

Người ấy cũng có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Avihā (Vô phiền)!"

[Chú thích: Năm cõi này là Ngũ tịnh cư, nơi chỉ các bậc Bất hoàn mới sinh đến.]

Người ấy có thể ước tiếp: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Atappā (Vô nhiệt)!"

Người ấy lại có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Sudassā (Thiện kiến)!"


Người ấy cũng có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Sudassī (Thiện hiện)!"

Người ấy có thể ước tiếp: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Akaniṭṭhā (Sắc cứu cánh)!"

Người ấy lại có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Ākāsānañcāyatana (Không vô biên xứ)!"

[Chú thích: Bốn cõi này tương ứng với bốn tầng định vô sắc.]

Người ấy cũng có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Viññāṇañcāyatana (Thức vô biên xứ)!"

Người ấy có thể ước tiếp: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Ākiñcaññāyatana (Vô sở hữu xứ)!"

Người ấy lại có thể ước: "Ước gì sau khi thân hoại mạng chung, con được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Nevasaññānāsaññāyatana (Phi tưởng phi phi tưởng xứ)!"

Điều ấy quả có thể xảy ra: sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sinh vào hàng ngũ chư thiên cõi Nevasaññānāsaññāyatana.

Vì sao vậy?

Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Này các gia chủ, người sống đúng pháp và bình đẳng có thể ước rằng:

"Ước gì do các lậu hoặc đã tận, con tự mình chứng biết bằng thắng trí ngay trong đời này, chứng đắc và trú trong tâm giải thoát vô lậu và tuệ giải thoát!"

Điều ấy quả có thể xảy ra: do các lậu hoặc đã tận, người ấy tự mình chứng biết bằng thắng trí ngay trong đời này, chứng đắc và trú trong tâm giải thoát vô lậu và tuệ giải thoát.

Vì sao vậy?

Vì người ấy sống đúng pháp và bình đẳng.

Khi nghe như vậy, các bà-la-môn và gia chủ làng Sālā thưa với Đức Thế Tôn:

"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời!

Thưa ngài Gotama, ví như có người dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc. Cũng vậy, ngài Gotama đã dùng nhiều cách để làm sáng tỏ Pháp.

Chúng con quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo.

Xin ngài Gotama nhận chúng con làm những người cư sĩ đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời."

Kinh Sāleyyaka, bài thứ nhất, đã hoàn tất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →