buppou

Trung Bộ Kinh · bài 127/152

Kinh Anuruddha

Anuruddha Sutta — bài kinh về sự tu tập tâm, về ánh sáng của chư thiên và các cõi tái sinh

24 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Anuruddha (Anuruddha Sutta) là bài kinh thứ 127 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), tập kinh gồm 152 bài thuộc Kinh tạng Pali, bộ văn bản cổ nhất còn giữ được nguyên văn của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy. Bài kinh mở đầu tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), và điều đầu tiên đáng chú ý là nó không bắt đầu bằng một buổi thuyết pháp long trọng mà bằng một bữa cơm. Một người thợ mộc giàu có tên Pañcakaṅga sai người đến thỉnh Tôn giả Anuruddha (A-na-luật) về nhà dùng bữa, dặn thêm rằng xin Ngài đến sớm hơn thường lệ vì ông còn nhiều việc phải làm cho vua.

Khi bữa ăn đã xong và hai người ngồi bên nhau, Pañcakaṅga hỏi một điều mà ông đã nghe hai nhóm vị trưởng lão dạy khác nhau. Nhóm này bảo ông hãy tu tập "giải thoát tâm vô lượng", nhóm kia bảo hãy tu tập "giải thoát tâm quảng đại". Hai cách nói ấy có cùng một nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt, hay là hai điều khác nhau thật? Tôn giả Anuruddha trả lời dứt khoát: chúng khác nhau cả về nghĩa lẫn cách nói, rồi lần lượt cắt nghĩa từng bên.

"Giải thoát tâm vô lượng" là bốn phép tu quen thuộc — trải lòng từ, lòng bi, hỷ và xả ra khắp mọi phương, khắp thế giới, không giới hạn. "Giải thoát tâm quảng đại" lại là một phép tu khác: mở rộng dần phạm vi mình trải tâm ra, bắt đầu từ một gốc cây, rồi hai ba gốc cây, một cánh đồng làng, hai ba cánh đồng làng, một vương quốc, hai ba vương quốc, cho đến cả vùng đất có biển bao quanh. Ở mỗi mức, kinh đều nói phép tu ấy cũng được gọi là "giải thoát tâm quảng đại"; cái tên không đo độ lớn, nó chỉ một hướng đi.

Từ đó bài kinh chuyển sang một chủ đề mà người mới đọc có thể thấy lạ: ánh sáng của chư thiên. Tôn giả Anuruddha kể bốn kiểu tái sinh gắn với bốn loại ánh sáng — hữu hạn, vô lượng, ô nhiễm, thanh tịnh — và giải thích rằng những vị thiên cùng ở một cõi vẫn có thể khác nhau về ánh sáng, tùy vào phạm vi và phẩm chất của phép tu họ đã thực hành. Hai hình ảnh được dùng để làm rõ điều ấy: nhiều ngọn đèn dầu trong cùng một căn nhà thì khác nhau về ngọn lửa nhưng hòa vào một thứ ánh sáng; và lũ ruồi bị khiêng đi trên đòn gánh thì không hề nghĩ rằng chỗ mình đang bám là vĩnh viễn, chúng chỉ thích chỗ ấy mà thôi.

Phần cuối là cuộc đối thoại với Tôn giả Sabhiya Kaccāna. Vị này hỏi tiếp: nếu cùng một cõi mà ánh sáng khác nhau, thì đâu là nguyên nhân? Tôn giả Anuruddha không giảng thêm mà hỏi ngược, dẫn ra từng cặp so sánh — một gốc cây với hai ba gốc cây, cánh đồng làng với vương quốc, vương quốc với cả vùng đất có biển bao quanh — để chính người nghe tự thấy cái nào rộng hơn. Rồi ngài dùng hình ảnh ngọn đèn dầu trong và đục để cắt nghĩa vì sao cùng một cõi mà có vị ánh sáng ô nhiễm, có vị ánh sáng thanh tịnh: dầu và bấc không sạch thì đèn cháy leo lét, dầu và bấc sạch thì đèn cháy sáng. Bài kinh khép lại ở một chi tiết nhỏ mà nặng: Tôn giả Sabhiya nhận xét rằng Tôn giả Anuruddha không nói "tôi nghe như vầy", cũng không nói "điều này hẳn phải như thế", mà nói như người từng chứng kiến. Tôn giả Anuruddha thừa nhận lời ấy hơi sỗ sàng, rồi xác nhận: đã từ lâu, ngài từng sống chung, từng nói chuyện, từng đàm luận với các vị thiên ấy. Với người hôm nay, bài kinh vì thế không chỉ là một bản giải thích kỹ thuật về thiền định và tái sinh; nó còn là ghi chép hiếm hoi về cách một vị đệ tử nói ra điều mình biết, và về ranh giới mong manh giữa lời chứng thực với lời tự phụ.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi thợ mộc Pañcakaṅga gọi một người đàn ông:

[Chú thích: Pañcakaṅga là thợ mộc bậc thầy, đồng thời đảm nhận nhiều việc cho vua; ông cũng xuất hiện trong MN 59.]

"Này anh kia, anh hãy đến chỗ Tôn giả Anuruddha (A-na-luật); đến rồi, nhân danh tôi, anh cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Anuruddha và thưa:

'Bạch Ngài, thợ mộc Pañcakaṅga cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Anuruddha.'

Và hãy thưa thế này:

'Xin Tôn giả Anuruddha nhận lời, bạch Ngài, dùng bữa ăn ngày mai tại nhà thợ mộc Pañcakaṅga, cùng với ba vị tỳ-kheo nữa, thành bốn vị;

và xin Tôn giả Anuruddha đến sớm hơn thường lệ, bạch Ngài;

vì thợ mộc Pañcakaṅga có nhiều việc, nhiều việc phải làm cho vua.'"

[Chú thích của người dịch: Attacatuttho nghĩa là với chính mình là người thứ tư, tức Tôn giả Anuruddha cùng ba vị tỳ-kheo nữa, thành bốn vị; người thỉnh không ở trong số ấy.]

"Thưa vâng." Người ấy vâng lời thợ mộc Pañcakaṅga, rồi đi đến chỗ Tôn giả Anuruddha; đến nơi, đảnh lễ Tôn giả Anuruddha rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Anuruddha:

"Bạch Ngài, thợ mộc Pañcakaṅga cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Anuruddha và thưa thế này:

'Xin Tôn giả Anuruddha nhận lời, bạch Ngài, dùng bữa ăn ngày mai tại nhà thợ mộc Pañcakaṅga, cùng với ba vị tỳ-kheo nữa, thành bốn vị;

và xin Tôn giả Anuruddha đến sớm hơn thường lệ, bạch Ngài;

vì thợ mộc Pañcakaṅga có nhiều việc, nhiều việc phải làm cho vua.'"

Tôn giả Anuruddha nhận lời bằng cách im lặng.

Khi đêm ấy qua đi, vào buổi sáng, Tôn giả Anuruddha mặc y, mang bát và y, đi đến nhà thợ mộc Pañcakaṅga; đến nơi, Ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn.

Thợ mộc Pañcakaṅga bèn tự tay dâng lên Tôn giả Anuruddha những món ăn cứng và món ăn mềm thượng hạng, làm Ngài vừa lòng và thỏa mãn.

Khi Tôn giả Anuruddha đã ăn xong, đã rửa tay và bát, thợ mộc Pañcakaṅga lấy một chỗ ngồi thấp, ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pañcakaṅga thưa với Tôn giả Anuruddha:

"Bạch Ngài, có những tỳ-kheo trưởng lão đến chỗ con và nói như vầy:

'Này gia chủ, ông hãy tu tập giải thoát tâm vô lượng.'

Một số vị trưởng lão thì nói:

'Này gia chủ, ông hãy tu tập giải thoát tâm quảng đại.'

Bạch Ngài, giải thoát tâm vô lượng ấy và giải thoát tâm quảng đại ấy —

những pháp này có nghĩa khác nhau và cách nói cũng khác nhau, hay là chúng cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về cách nói?"

[Chú thích: Một câu hỏi tương tự được Mahākoṭṭhita nêu với Sāriputta ở MN 43:29.5, và giữa Godatta với Citta ở SN 41.7.]

"Vậy thì, này gia chủ, ông hãy nói lên điều ông nghĩ về việc này; từ đây, điều ấy sẽ chắc chắn đúng với ông."

[Chú thích: Apaṇṇaka là bộ trọn vẹn, không có cái thứ năm, tức điều chắc chắn không sai. Anuruddha có thể đang chơi chữ với tên Pañcakaṅga, nghĩa là bộ năm.]

"Bạch Ngài, con nghĩ như vầy:

'giải thoát tâm vô lượng ấy và giải thoát tâm quảng đại ấy là cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về cách nói.'"

"Này gia chủ, giải thoát tâm vô lượng ấy và giải thoát tâm quảng đại ấy là những pháp có nghĩa khác nhau và cách nói cũng khác nhau.

Này gia chủ, có thể hiểu điều này qua một cách diễn đạt khác, rằng những pháp ấy khác nhau về nghĩa và khác nhau về cách nói."

"Và này gia chủ, thế nào là giải thoát tâm vô lượng?

[Chú thích: Appamāṇa nghĩa là vô lượng. Bốn phép tu ở đây về sau được gọi là bốn phạm trú (brahmavihāra) hay bốn vô lượng tâm (appamaññā).]

Ở đây, này gia chủ, một tỳ-kheo an trú, trải khắp một phương với tâm tràn đầy lòng từ; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên dưới, ngang dọc, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú, trải khắp cả thế giới với tâm tràn đầy lòng từ — rộng lớn, quảng đại, vô lượng, không hận thù, không làm hại.

Với tâm tràn đầy lòng bi, vị ấy an trú, trải khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên dưới, ngang dọc, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú, trải khắp cả thế giới với tâm tràn đầy lòng bi — rộng lớn, quảng đại, vô lượng, không hận thù, không làm hại.

Với tâm tràn đầy hỷ, vị ấy an trú, trải khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên dưới, ngang dọc, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú, trải khắp cả thế giới với tâm tràn đầy hỷ — rộng lớn, quảng đại, vô lượng, không hận thù, không làm hại.

Với tâm tràn đầy xả, vị ấy an trú, trải khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên dưới, ngang dọc, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú, trải khắp cả thế giới với tâm tràn đầy xả — rộng lớn, quảng đại, vô lượng, không hận thù, không làm hại.

Này gia chủ, đó gọi là giải thoát tâm vô lượng."

"Và này gia chủ, thế nào là giải thoát tâm quảng đại?

[Chú thích: Mahaggata nghĩa đen là đã lớn lên, tức quảng đại. Trạng thái này có mặt trong phép niệm xứ (MN 10:34.10) và trong các thần thông (MN 6:16.10).]

Ở đây, này gia chủ, một tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một gốc cây, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú.

[Chú thích: Phép tu này chỉ xuất hiện ở đây. Có thể hiểu việc trải khắp theo nghĩa như trong bốn phạm trú, tức mở rộng dần phạm vi của lòng từ; cuối cùng là vùng đất có biển bao quanh, và tâm trở nên vô lượng như biển lớn (MN 72:20.2). Như vậy, giải thoát quảng đại dẫn đến giải thoát vô lượng.]

Này gia chủ, đó gọi là giải thoát tâm quảng đại.

Lại nữa, này gia chủ, một tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba gốc cây, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú.

Này gia chủ, đó cũng gọi là giải thoát tâm quảng đại.

Lại nữa, này gia chủ, một tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một cánh đồng làng, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú.

Này gia chủ, đó cũng gọi là giải thoát tâm quảng đại.

Lại nữa, này gia chủ, một tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba cánh đồng làng, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú.

Này gia chủ, đó cũng gọi là giải thoát tâm quảng đại.

Lại nữa, này gia chủ, một tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một vương quốc lớn, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú.

Này gia chủ, đó cũng gọi là giải thoát tâm quảng đại.

Lại nữa, này gia chủ, một tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba vương quốc lớn, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú.

Này gia chủ, đó cũng gọi là giải thoát tâm quảng đại.

Lại nữa, này gia chủ, một tỳ-kheo trải khắp cho đến tận cả vùng đất có biển bao quanh, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú."


"Này gia chủ, đó cũng gọi là giải thoát tâm quảng đại.

Này gia chủ, chính qua cách ấy, có thể hiểu rằng những pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về cách nói."

"Này gia chủ, có bốn kiểu tái sinh trong đời sau.

[Chú thích: Bhavūpapatti là sự sinh vào một cõi tái sinh. Phần này giải thích cách phép tu tập tâm ảnh hưởng đến cõi tái sinh của người tu.]

Bốn là những gì?

Ở đây, này gia chủ, có người an trú, trải khắp với ý niệm 'ánh sáng hữu hạn'.

Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi của chư thiên có ánh sáng hữu hạn, cùng sống chung với các vị ấy.

[Chú thích: Chư thiên có ánh sáng hữu hạn được nhắc ở MN 41:18–42.22, nơi họ tái sinh nhờ tu tập thiền-na thứ hai ở mức hữu hạn.]

Lại nữa, này gia chủ, có người an trú, trải khắp với ý niệm 'ánh sáng vô lượng'.

Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi của chư thiên có ánh sáng vô lượng, cùng sống chung với các vị ấy.

Lại nữa, này gia chủ, có người an trú, trải khắp với ý niệm 'ánh sáng ô nhiễm'.

[Chú thích: Kinh điển thường phân biệt rõ tâm ô nhiễm phải được thanh lọc trước khi đạt đến ánh sáng của thiền-na; đoạn này lại cho thấy ranh giới ấy không phải lúc nào cũng rõ ràng.]

Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi của chư thiên có ánh sáng ô nhiễm, cùng sống chung với các vị ấy.

Lại nữa, này gia chủ, có người an trú, trải khắp với ý niệm 'ánh sáng thanh tịnh'.

Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi của chư thiên có ánh sáng thanh tịnh, cùng sống chung với các vị ấy.

Này gia chủ, đó là bốn kiểu tái sinh trong đời sau."

"Này gia chủ, có lúc các vị thiên ấy tụ họp lại một chỗ; khi tụ họp lại một chỗ, thì sự khác nhau về màu sắc của họ hiện rõ, nhưng sự khác nhau về ánh sáng thì không.

Ví như, này gia chủ, một người đem nhiều ngọn đèn dầu vào trong một căn nhà.

Khi chúng đã được đem vào một căn nhà, thì sự khác nhau về ngọn lửa hiện rõ, nhưng sự khác nhau về ánh sáng thì không.

Cũng vậy, này gia chủ, có lúc các vị thiên ấy tụ họp lại một chỗ; khi tụ họp lại một chỗ, thì sự khác nhau về màu sắc của họ hiện rõ, nhưng sự khác nhau về ánh sáng thì không."

"Này gia chủ, có lúc các vị thiên ấy rời khỏi đó; khi rời khỏi đó, thì sự khác nhau về màu sắc của họ hiện rõ, và sự khác nhau về ánh sáng cũng hiện rõ.

Ví như, này gia chủ, một người đem những ngọn đèn dầu ấy ra khỏi căn nhà đó.

Khi chúng đã được đem ra khỏi đó, thì sự khác nhau về ngọn lửa hiện rõ, và sự khác nhau về ánh sáng cũng hiện rõ.

Cũng vậy, này gia chủ, có lúc các vị thiên ấy rời khỏi đó; khi rời khỏi đó, thì sự khác nhau về màu sắc của họ hiện rõ, và sự khác nhau về ánh sáng cũng hiện rõ."

"Này gia chủ, các vị thiên ấy không nghĩ rằng:

'Điều này của chúng ta là thường còn, là bền vững, là vĩnh cửu.' Nhưng chỗ nào các vị thiên ấy bám vào, thì chính chỗ ấy các vị ấy vui thích.

Ví như, này gia chủ, khi những con ruồi bị khiêng đi trên đòn gánh hay trong cái sọt, chúng không nghĩ rằng:

'Điều này của chúng ta là thường còn, là bền vững, là vĩnh cửu.' Nhưng chỗ nào những con ruồi ấy bám vào, thì chính chỗ ấy chúng vui thích;

cũng vậy, này gia chủ, các vị thiên ấy không nghĩ rằng:

'Điều này của chúng ta là thường còn, là bền vững, là vĩnh cửu.' Nhưng chỗ nào các vị thiên ấy bám vào, thì chính chỗ ấy các vị ấy vui thích."

[Chú thích: Ví dụ này cho thấy lòng tham muốn tái sinh không nhất thiết phải là điều có ý thức.]

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sabhiya Kaccāna nói với Tôn giả Anuruddha:

[Chú thích: Tôn giả Sabhiya Kaccāna cũng xuất hiện ở SN 44.1, nơi ông được Vacchagotta hỏi; kệ của ông ở Thag 4.3. Việc một du sĩ tên Sabhiya quy y được ghi ở Snp 3.6, có thể là cùng một người.]

"Lành thay, thưa Ngài Anuruddha.

Con còn có điều muốn hỏi thêm về việc này.

Thưa Ngài, các vị thiên có ánh sáng ấy — có phải tất cả đều có ánh sáng hữu hạn, hay ở đó có một số vị thiên có ánh sáng vô lượng?"

"Này hiền giả Kaccāna, về phương diện ấy, ở đó có một số vị thiên có ánh sáng hữu hạn, và cũng có một số vị thiên có ánh sáng vô lượng."

[Chú thích: Tadaṅgena ở đây hiểu là về phương diện ấy, xét theo khía cạnh ấy.]

"Thưa Ngài Anuruddha, đâu là nhân, đâu là duyên khiến cho các vị thiên ấy, dù đã sinh vào cùng một chúng thiên, lại có một số vị thiên có ánh sáng hữu hạn và một số vị thiên có ánh sáng vô lượng?"

"Vậy thì, này hiền giả Kaccāna, tôi sẽ hỏi lại hiền giả về việc này. Hiền giả thấy thế nào thì trả lời như thế.

Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ sao:

một bên là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một gốc cây, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú; bên kia là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba gốc cây, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào quảng đại hơn?"

"Thưa Ngài, vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba gốc cây, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

thì chính sự tu tập tâm ấy, trong hai sự tu tập tâm, là quảng đại hơn."

"Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ sao:

một bên là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba gốc cây, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú; bên kia là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một cánh đồng làng, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào quảng đại hơn?"

"Thưa Ngài, vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một cánh đồng làng, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

thì chính sự tu tập tâm ấy, trong hai sự tu tập tâm, là quảng đại hơn."

"Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ sao: một bên là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một cánh đồng làng, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú; bên kia là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba cánh đồng làng, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào quảng đại hơn?"

"Thưa Ngài, vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba cánh đồng làng, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

thì chính sự tu tập tâm ấy, trong hai sự tu tập tâm, là quảng đại hơn."

"Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ sao: một bên là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba cánh đồng làng, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú; bên kia là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một vương quốc lớn, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào quảng đại hơn?"


"Thưa Ngài, vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một vương quốc lớn, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

thì chính sự tu tập tâm ấy, trong hai sự tu tập tâm, là quảng đại hơn."

"Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ sao: một bên là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận một vương quốc lớn, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú; bên kia là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba vương quốc lớn, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào quảng đại hơn?"

"Thưa Ngài, vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba vương quốc lớn, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

thì chính sự tu tập tâm ấy, trong hai sự tu tập tâm, là quảng đại hơn."

"Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ sao: một bên là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận hai hay ba vương quốc lớn, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú; bên kia là vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận cả vùng đất có biển bao quanh, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào quảng đại hơn?"

"Thưa Ngài, vị tỳ-kheo trải khắp cho đến tận cả vùng đất có biển bao quanh, hướng tâm vào đó với ý niệm 'quảng đại', và an trú —

thì chính sự tu tập tâm ấy, trong hai sự tu tập tâm, là quảng đại hơn."

"Này hiền giả Kaccāna, đó là nhân, đó là duyên khiến cho các vị thiên ấy, dù đã sinh vào cùng một chúng thiên, lại có một số vị thiên có ánh sáng hữu hạn và một số vị thiên có ánh sáng vô lượng."

"Lành thay, thưa Ngài Anuruddha.

Con còn có điều muốn hỏi thêm về việc này.

Thưa Ngài, các vị thiên có ánh sáng ấy — có phải tất cả đều có ánh sáng ô nhiễm, hay ở đó có một số vị thiên có ánh sáng thanh tịnh?"

"Này hiền giả Kaccāna, về phương diện ấy, ở đó có một số vị thiên có ánh sáng ô nhiễm, và cũng có một số vị thiên có ánh sáng thanh tịnh."

"Thưa Ngài Anuruddha, đâu là nhân, đâu là duyên khiến cho các vị thiên ấy, dù đã sinh vào cùng một chúng thiên, lại có một số vị thiên có ánh sáng ô nhiễm và một số vị thiên có ánh sáng thanh tịnh?"

"Vậy thì, này hiền giả Kaccāna, tôi sẽ nêu một ví dụ cho hiền giả.

Nhờ một ví dụ, một số người hiểu biết cũng hiểu được ý nghĩa của điều được nói.

Ví như, này hiền giả Kaccāna, một ngọn đèn dầu đang cháy với dầu không trong sạch và bấc không trong sạch.

Vì dầu không trong sạch và bấc không trong sạch, nên nó cháy leo lét như thể bị mù.

Cũng vậy, này hiền giả Kaccāna, ở đây có một tỳ-kheo an trú, trải khắp với ý niệm 'ánh sáng ô nhiễm';

nơi vị ấy, sự nặng nề của thân chưa được hoàn toàn lắng dịu, hôn trầm thụy miên chưa được hoàn toàn xóa sạch, trạo cử và hối hận chưa được hoàn toàn trừ bỏ.

Vì sự nặng nề của thân chưa được hoàn toàn lắng dịu, vì hôn trầm thụy miên chưa được hoàn toàn xóa sạch, vì trạo cử và hối hận chưa được hoàn toàn trừ bỏ, nên vị ấy hành thiền một cách mù mịt như thế.

[Chú thích của người dịch: Chữ jhāyati trong Pali vừa có nghĩa là cháy, vừa có nghĩa là hành thiền; ở đây cả hai nghĩa cùng được dùng, nên ngọn đèn cháy leo lét cũng là người tu hành thiền mờ tối.]

Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sinh vào cõi của chư thiên có ánh sáng ô nhiễm, cùng sống chung với các vị ấy.

Ví như, này hiền giả Kaccāna, một ngọn đèn dầu đang cháy với dầu trong sạch và bấc trong sạch.

Vì dầu trong sạch và bấc trong sạch, nên nó không cháy leo lét như thể bị mù.

Cũng vậy, này hiền giả Kaccāna, ở đây có một tỳ-kheo an trú, trải khắp với ý niệm 'ánh sáng thanh tịnh'.

Nơi vị ấy, sự nặng nề của thân được hoàn toàn lắng dịu, hôn trầm thụy miên được hoàn toàn xóa sạch, trạo cử và hối hận được hoàn toàn trừ bỏ.

Vì sự nặng nề của thân được hoàn toàn lắng dịu, vì hôn trầm thụy miên được hoàn toàn xóa sạch, vì trạo cử và hối hận được hoàn toàn trừ bỏ, nên vị ấy không hành thiền một cách mù mịt như thế.

Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sinh vào cõi của chư thiên có ánh sáng thanh tịnh, cùng sống chung với các vị ấy.

Này hiền giả Kaccāna, đó là nhân, đó là duyên khiến cho các vị thiên ấy, dù đã sinh vào cùng một chúng thiên, lại có một số vị thiên có ánh sáng ô nhiễm và một số vị thiên có ánh sáng thanh tịnh."

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sabhiya Kaccāna nói với Tôn giả Anuruddha:

"Lành thay, thưa Ngài Anuruddha.

Thưa Ngài, Tôn giả Anuruddha không nói:

'Tôi nghe như vầy' hay 'Điều này hẳn phải như thế';

mà thưa Ngài, Tôn giả Anuruddha lại nói: 'Các vị thiên ấy là thế này, các vị thiên ấy là thế kia.'

Thưa Ngài, con nghĩ rằng:

'Hẳn là Tôn giả Anuruddha đã từng sống chung với các vị thiên ấy, đã từng nói chuyện, đã từng cùng nhau đàm luận.'"

[Chú thích: Câu Tôi nghe như vầy là câu mở đầu quen thuộc của các bài kinh; ở đây nó cho thấy người nói không có mặt tại sự kiện mà chỉ nghe lại. Khác với câu con đã nghe và thọ nhận ngay trước mặt, dùng khi thuật lại điều nghe trực tiếp từ Đức Thế Tôn.]

"Này hiền giả Kaccāna, quả thật lời ấy đã được nói ra một cách sỗ sàng và xúc phạm,

[Chú thích: Sabhiya đang hỏi thẳng về thành tựu thiền định của Anuruddha; nói ra điều ấy cho người tại gia nghe là một lỗi nhẹ, nhưng giữa các tỳ-kheo thì có thể bàn. Ở đây Anuruddha trả lời một vị xuất gia, trong khi có người tại gia nghe được.]

nhưng tôi sẽ trả lời cho hiền giả:

'Này hiền giả Kaccāna, đã từ lâu, tôi đã từng sống chung với các vị thiên ấy, đã từng nói chuyện, đã từng cùng nhau đàm luận.'"

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sabhiya Kaccāna nói với thợ mộc Pañcakaṅga:

"Thật là điều lợi lạc cho ông, này gia chủ; ông đã được điều lợi lạc lớn, này gia chủ,

khi chính ông đã từ bỏ được mối hoài nghi ấy, và chúng tôi đã có được cơ hội nghe bài giảng pháp này."

Kinh Anuruddha, bài thứ bảy, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →