buppou

Trung Bộ Kinh · bài 128/152

Kinh Ô Nhiễm

Upakkilesa Sutta — bài kinh về những ô nhiễm vi tế của tâm và cách nhận ra chúng

37 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Ô Nhiễm (Upakkilesa Sutta) là bài thứ 128 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), tập 152 bài giảng cỡ vừa của Kinh tạng Pali. Bài kinh mở đầu bằng một chuyện buồn: các tỳ-kheo ở Kosambī đang cãi nhau gay gắt, lời qua tiếng lại như mũi giáo châm vào nhau. Đức Thế Tôn đến can ngăn ba lần, nhưng một vị trong nhóm chỉ xin Ngài cứ để mặc, nói rằng chuyện gây gổ ấy là việc của họ. Ngài không tranh cãi thêm. Sáng hôm sau, sau bữa khất thực, Ngài dọn dẹp chỗ ở, cầm bát và y, đứng ngay tại chỗ mà nói mấy bài kệ về sự chia rẽ, rồi lặng lẽ ra đi.

Từ đó, bài kinh chuyển sang một câu chuyện khác hẳn. Trên đường đi, Đức Thế Tôn ghé thăm những người bạn đồng tu cũ. Trước hết là đại đức Bhagu, một mình trong làng của những người làm muối. Rồi Ngài đến khu vườn Pācīnavaṁsadāya, nơi ba vị Anuruddha, Nandiya và Kimbila đang sống chung. Ba vị này là bạn cùng tu, cùng dòng tộc Sakya, và cách họ sống với nhau được kể lại rất tỉ mỉ: ai về trước thì trải chỗ ngồi và chuẩn bị nước, ai về sau thì dọn dẹp và quét nhà ăn, việc gì quá sức một người thì ra hiệu để người kia chung tay, và họ không vì thế mà mở lời. Năm ngày một lần, họ ngồi với nhau suốt đêm để nói chuyện Pháp.

Điều đáng chú ý là ba vị ấy không chỉ sống hòa thuận. Họ còn đang hành thiền rất sâu. Khi Đức Thế Tôn hỏi các ông có đạt được gì vượt trên mức thường hay chưa, đại đức Anuruddha kể một chuyện lạ: trong khi hành thiền, các ông nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc, nhưng chẳng bao lâu sau ánh sáng ấy và sự thấy ấy lại biến mất, và các ông không hiểu vì sao. Đức Thế Tôn bảo các ông phải tìm ra căn nguyên của hiện tượng ấy. Rồi Ngài kể lại chính kinh nghiệm của mình, từ thuở còn chưa giác ngộ, khi Ngài cũng gặp đúng những chuyện như vậy.

Phần còn lại của bài kinh là một danh sách, và đây là phần khó nhất với người đọc hôm nay. Khi ánh sáng và sự thấy các sắc vừa khởi lên thì cũng có những lỗi rất nhỏ của tâm xen vào và làm cho định rơi mất. Mười một lỗi ấy được gọi là "ô nhiễm của tâm": nghi ngờ; sự không tác ý, tức tâm không còn hướng đúng vào đề mục; dã dượi và buồn ngủ; khiếp sợ; phấn khích; khó chịu nơi thân; tinh tấn quá mức; tinh tấn quá lơi; mong cầu; tri giác về sự đa dạng; và quá chú mục vào các sắc mình đang thấy. Không thứ nào là tội lỗi đạo đức. Chúng chỉ là những dao động rất nhẹ, đủ để làm rơi mất một trạng thái định vừa mới chớm thành.

Đức Thế Tôn kể tiếp: sau khi nhận ra từng lỗi và từ bỏ nó, Ngài đã tu tập định theo nhiều cách khác nhau, rồi tri kiến khởi lên, và Ngài tuyên bố tâm đã giải thoát, không còn lay chuyển, đây là lần sinh cuối cùng. Bài kinh khép lại bằng câu ghi nhận của phẩm kinh. Có thể đọc bài này như một chương rất riêng trong kinh điển: không có giáo lý trừu tượng, không có tranh luận giáo phái, chỉ có một người thầy kể cho học trò nghe về những chỗ vấp rất tinh tế trên con đường mình đã đi, và một nhóm bạn trẻ đang cố đi cho tới cùng.


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này cho thấy một góc nhìn hiếm có về chính đời sống thiền định của Đức Thế Tôn. "Ô nhiễm" trong nhan đề là những lỗi vi tế của tâm, làm suy yếu thiền ngay khi nó vừa chạm tới định. Bài kinh này và MN 31 dường như chịu ảnh hưởng của Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.3, đoạn đối thoại nơi vua Janaka liên tục hỏi Yājñavalkya về ánh sáng của con người.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Kosambī (Kiều-thưởng-di), trong tịnh xá của Ghosita.

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo ở Kosambī đang gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau.

[Chú thích: Đây là cuộc cãi vã nổi tiếng ở Kosambī, cũng được nhắc tới ở MN 48:2.1. Diễn biến đầy đủ của vụ việc được chép trong Luật tạng, chương Khandhaka thứ mười.]

Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Ngài rồi đứng sang một bên. Đứng một bên, tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:

"Ở đây, bạch Thế Tôn, các tỳ-kheo ở Kosambī đang gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau.

Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn vì lòng thương xót mà đi đến chỗ các tỳ-kheo ấy."

Đức Thế Tôn nhận lời bằng sự im lặng.

[Chú thích: Ở đây cũng như trong MN 48, Đức Thế Tôn đều can thiệp để dàn xếp cuộc xung đột, nhưng ở đây Ngài tự đi đến chỗ họ, còn trong MN 48 Ngài cho gọi họ đến; phần tiếp theo của hai bài kinh vì thế cũng khác hẳn.]

Rồi Đức Thế Tôn đi đến chỗ các tỳ-kheo ấy; đến nơi, Ngài nói với họ:

"Thôi đủ rồi, này các tỳ-kheo! Đừng gây gổ, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh chấp nữa."

Khi Ngài nói vậy, một tỳ-kheo bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, xin Ngài chờ đã.

Đức Thế Tôn là chủ của Pháp;

bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn đừng bận tâm, cứ sống an trú an lạc ngay trong đời này;

chúng con sẽ được biết đến vì chuyện gây gổ, cãi vã, xung đột, tranh chấp này."

Đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo ấy lần thứ hai:

"Thôi đủ rồi, này các tỳ-kheo! Đừng gây gổ, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh chấp nữa."

Tỳ-kheo ấy lại bạch Đức Thế Tôn lần thứ hai:

"Bạch Thế Tôn, xin Ngài chờ đã.

Đức Thế Tôn là chủ của Pháp;

bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn đừng bận tâm, cứ sống an trú an lạc ngay trong đời này;

chúng con sẽ được biết đến vì chuyện gây gổ, cãi vã, xung đột, tranh chấp này."

Đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo ấy lần thứ ba:

"Thôi đủ rồi, này các tỳ-kheo! Đừng gây gổ, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh chấp nữa."

Tỳ-kheo ấy lại bạch Đức Thế Tôn lần thứ ba:

"Bạch Thế Tôn, xin Ngài chờ đã.

Đức Thế Tôn là chủ của Pháp;

bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn đừng bận tâm, cứ sống an trú an lạc ngay trong đời này;

chúng con sẽ được biết đến vì chuyện gây gổ, cãi vã, xung đột, tranh chấp này."

Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát và y, đi vào Kosambī để khất thực.

Khất thực ở Kosambī xong, sau bữa ăn, trên đường từ chuyến khất thực trở về, Ngài dọn dẹp chỗ ở, cầm bát và y, rồi đứng ngay tại chỗ ấy mà nói những bài kệ này:

Ồn ào tiếng nói, đám đông tụ họp,

[Chú thích: Những bài kệ này cũng có trong Luật tạng, Kd 10:3.1.3, và trong truyện bổn sanh Kosambiya, Ja 428:1.1.]

mà chẳng ai nghĩ mình là kẻ ngu;

giữa lúc Tăng đoàn đang bị chia rẽ,

họ chẳng ai nghĩ người khác hơn mình.

Kẻ mê lẫn mà tự cho là khôn ngoan,

nói những lời vượt khỏi phạm vi lời nói;

[Chú thích: Ở đây nên đọc là agocara, nghĩa là vượt ra ngoài phạm vi.]

miệng buông lời theo ý muốn,

bị dẫn đi đâu, họ cũng chẳng hay.

"Nó mắng tôi, nó đánh tôi,

[Chú thích: Bốn bài kệ này cũng có trong Pháp cú, kệ 3 đến 6.]

nó thắng tôi, nó cướp của tôi!"

Ai ôm giữ mối thù ấy,

thù hận của họ không lắng xuống.

"Nó mắng tôi, nó đánh tôi,

nó thắng tôi, nó cướp của tôi!"

Ai không ôm giữ mối thù ấy,

thù hận nơi họ lắng xuống.

Vì thù hận không bao giờ

được lắng xuống bằng thù hận ở đời này;

chỉ bằng không thù hận mới lắng xuống,

đó là pháp xưa nay.


Người khác không hiểu điều ấy,

chúng ta, những người hiểu, hãy tự chế ngự ở đây;

[Chú thích: Yamāmase là dạng mệnh lệnh ngôi thứ nhất số nhiều của yamati, nghĩa là "chúng ta hãy tự chế ngự"; so với SN 10.6:3.1: pāṇesu ca saṁyamāmase, "chúng ta hãy tự chế ngự đối với các chúng sinh".]

ai ở đó hiểu được điều ấy,

nhờ đó những cuộc xung đột lắng xuống.

Kẻ đập gãy xương, kẻ giết hại sinh mạng,

kẻ trộm bò, ngựa và của cải;

những kẻ cướp phá cả nước:

ngay cả chúng cũng có lúc gặp nhau,

cớ sao các ông lại không?

Nếu tìm được một người bạn khôn khéo,

một bậc trí cùng đi, cùng sống an vui;

hãy vượt qua mọi hiểm nguy,

và sống với người ấy, hoan hỷ, có chánh niệm.

Nếu không tìm được một người bạn khôn khéo,

một bậc trí cùng đi, cùng sống an vui;

thì như vua từ bỏ vương quốc đã chinh phục,

hãy đi một mình như voi chúa giữa rừng sâu.

Đi một mình là tốt hơn,

không có tình bạn với kẻ ngu;

hãy đi một mình và đừng làm điều ác,

sống thong dong như voi chúa giữa rừng sâu.

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi nói những bài kệ ấy ngay tại chỗ đang đứng, đi đến làng Bālakaloṇakāra.

[Chú thích: Bālakaloṇakāra nghĩa là "làng của những đứa trẻ làm muối", so với loṇakāradārako ở AN 4.188:5.3. Ở Ấn Độ, trẻ em vẫn được dùng để làm muối cho đến ngày nay.]

Lúc bấy giờ, đại đức Bhagu trú tại làng Bālakaloṇakāra.

[Chú thích: Bhagu là một trong những vị dòng Sakya xuất sắc đã xuất gia cùng với Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Kimbila, Devadatta và Upāli, theo Kd 17:1.4.1. Sau cuộc xung đột ở Kosambī, Đức Thế Tôn tìm đến chỗ các vị đồng hương Sakya: trước là Bhagu, rồi đến ba vị sau đây.]

Tôn giả Bhagu thấy Đức Thế Tôn từ đằng xa đi đến,

bèn trải chỗ ngồi và đặt nước để rửa chân.

Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ ngồi đã trải,

ngồi rồi rửa chân.

Tôn giả Bhagu đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Đức Thế Tôn nói với đại đức Bhagu đang ngồi một bên:

"Này tỳ-kheo, ông có khỏe không, có sống được yên ổn không, có gặp khó khăn gì về đồ ăn khất thực không?"

"Bạch Thế Tôn, con khỏe, con sống được yên ổn, và con không gặp khó khăn gì về đồ ăn khất thực."

Rồi Đức Thế Tôn dùng lời Pháp để chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ đại đức Bhagu; sau đó Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi đến khu vườn Pācīnavaṁsadāya.

Lúc bấy giờ, đại đức Anuruddha (A-na-luật-đà), đại đức Nandiya và đại đức Kimbila trú tại khu vườn Pācīnavaṁsadāya.

[Chú thích: Khu vườn này ở xứ Ceti, không xa Kosambī. Prācīnavaṁśa là một giảng đường hay nhà rạp dựng cho lễ nghi, với rui tre (vaṁśa) chạy về phía đông (prācīna). Ngoài bối cảnh, đoạn tiếp theo của bài kinh giống hệt MN 31:2.1 cho đến phần bàn về thiền định.]

Người giữ công viên thấy Đức Thế Tôn từ đằng xa đi đến,

[Chú thích: Người giữ công viên này rõ ràng không phải Phật tử, vì ông ta trông coi một nơi hành lễ của truyền thống Vệ-đà.]

thấy vậy, ông ta nói với Đức Thế Tôn:

"Này sa-môn vĩ đại, xin đừng vào khu rừng này.

[Chú thích: Bản Miến Điện và bản Xiêm đọc là mahāsamaṇa ở đây, còn bản PTS và các đoạn tương ứng ở MN 31:3.4 và Kd 10:4.2.3 chỉ đọc là samaṇa. Mahāsamaṇa, "sa-môn vĩ đại", là một danh hiệu hiếm của Đức Thế Tôn, chủ yếu thấy trong Luật tạng, và khó có chuyện người giữ công viên biết rõ Ngài là ai mà vẫn ngăn lại.]

Ở đây có ba người con trai nhà lành đang sống, bản tính của họ là tìm cầu tự ngã, tức chính mình.

[Chú thích của người dịch: Hậu tố -rūpa ở đây mang nghĩa "bản tính thật" chứ không phải "dường như"; lời này do người giữ công viên nói, một người không nhận ra Đức Thế Tôn và dùng lối nói nghiêng về truyền thống bà-la-môn.]

Xin đừng làm cho họ khó chịu."

Tôn giả Anuruddha nghe được lời người giữ công viên đang nói với Đức Thế Tôn,

nghe xong, đại đức ấy nói với người giữ công viên:

"Này ông bạn giữ công viên, xin đừng ngăn Đức Thế Tôn lại.

Đức Thế Tôn, bậc Đạo sư của chúng tôi, đã đến rồi."

Rồi đại đức Anuruddha đi đến chỗ đại đức Nandiya và đại đức Kimbila; đến nơi, đại đức ấy nói với đại đức Nandiya và đại đức Kimbila:

"Các đại đức hãy lại đây, các đại đức hãy lại đây! Đức Thế Tôn, bậc Đạo sư của chúng tôi, đã đến rồi."

Rồi đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila ra đón Đức Thế Tôn:

một vị nhận bát và y của Ngài, một vị trải chỗ ngồi, một vị chuẩn bị nước rửa chân.

Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ ngồi đã trải,

ngồi rồi rửa chân.

Các đại đức ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Đức Thế Tôn nói với đại đức Anuruddha đang ngồi một bên:


"Này Anuruddha, các ông có khỏe không, có sống được yên ổn không, có gặp khó khăn gì về đồ ăn khất thực không?"

"Bạch Thế Tôn, chúng con khỏe, chúng con sống được yên ổn, và chúng con không gặp khó khăn gì về đồ ăn khất thực."

"Này Anuruddha, các ông có đang sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương không?"

"Bạch Thế Tôn, đúng vậy, chúng con sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương."

"Này Anuruddha, các ông sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, ở đây con nghĩ rằng:

'Thật là lợi ích cho con, thật là lợi ích lành cho con,

khi con được sống cùng với những vị đồng phạm hạnh như thế này.'

Bạch Thế Tôn, đối với các đại đức này, con luôn hiện bày thân nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo;

khẩu nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo;

ý nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo.

Bạch Thế Tôn, con lại nghĩ rằng:

'Vậy thì con hãy gác lại tâm của mình mà sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.'

Bạch Thế Tôn, con gác lại tâm của mình và sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.

Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng tâm thì con nghĩ là một."

Tôn giả Nandiya cũng nói với Đức Thế Tôn như vầy: "Bạch Thế Tôn, ở đây con nghĩ rằng: 'Thật là lợi ích cho con, thật là lợi ích lành cho con, khi con được sống cùng với những vị đồng phạm hạnh như thế này.' Bạch Thế Tôn, đối với các đại đức này, con luôn hiện bày thân nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo; khẩu nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo; ý nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo. Bạch Thế Tôn, con lại nghĩ rằng: 'Vậy thì con hãy gác lại tâm của mình mà sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.' Bạch Thế Tôn, con gác lại tâm của mình và sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này. Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng tâm thì con nghĩ là một."

Tôn giả Kimbila cũng nói với Đức Thế Tôn như vầy:

"Bạch Thế Tôn, con cũng nghĩ rằng:

'Thật là lợi ích cho con, thật là lợi ích lành cho con,

khi con được sống cùng với những vị đồng phạm hạnh như thế này.'

Bạch Thế Tôn, đối với các đại đức này, con luôn hiện bày thân nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo;

khẩu nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo;

ý nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo.

Bạch Thế Tôn, con lại nghĩ rằng:

'Vậy thì con hãy gác lại tâm của mình mà sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.'

Bạch Thế Tôn, con gác lại tâm của mình và sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.

Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng tâm thì con nghĩ là một.

Bạch Thế Tôn, chúng con sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương, chính là như vậy."

"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!

Các ông có đang sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng không?"

"Bạch Thế Tôn, đúng vậy, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng."

"Này Anuruddha, các ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, ở đây, vị nào trong chúng con từ làng đi khất thực về trước thì trải chỗ ngồi, chuẩn bị nước uống và nước dùng, đặt sẵn chậu đựng rác.

Vị nào về sau, nếu còn đồ ăn thừa và nếu muốn thì ăn; nếu không muốn thì đổ ở chỗ ít cỏ mọc, hoặc dìm xuống nước không có chúng sinh.

Vị ấy dọn chỗ ngồi, dọn nước uống và nước dùng, rửa chậu đựng rác rồi cất đi, và quét nhà ăn.

Vị nào thấy ghè nước uống, ghè nước dùng hay ghè nước vệ sinh đã cạn trống thì chuẩn bị lại cho đầy.

Nếu việc ấy quá sức mình, chúng con ra hiệu bằng tay để gọi thêm một vị, rồi cùng chung tay nâng lên mà làm cho xong. Nhưng bạch Thế Tôn, chúng con không vì thế mà mở lời nói.

[Chú thích: Hatthavilaṅghaka là cách nâng vật bằng cách chìa tay cho người kia nắm lấy, như ở MN 125:9.2.]

Bạch Thế Tôn, cứ năm ngày một lần, chúng con ngồi lại suốt cả đêm để nói chuyện Pháp.

Bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng chính là như vậy."

"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!

Khi các ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng như vậy, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, không?"

[Chú thích: Như ở MN 31:10.3, Anuruddha phải được khơi dần mới chịu nói ra hết năng lực thiền định của mình; cả hai bài kinh đều có dáng dấp của sự dè dặt nơi Yājñavalkya khi vua Janaka hỏi. Chủ đề này cũng vọng lại từ Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.3: vua Janaka hỏi ánh sáng của con người là gì, và Yājñavalkya lần lượt trả lời là mặt trời, mặt trăng, lửa, rồi tiếng nói, trước khi thừa nhận ánh sáng thật chính là tự ngã.]

"Bạch Thế Tôn, ở đây, khi sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, chúng con nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc.

[Chú thích: Ba từ khóa ở đây là "nhận biết" (sañjānāma), "ánh sáng" (obhāsa) và "thấy các sắc" (dassanaṁ rūpānaṁ), những biến thể của chúng thường chỉ các dị tướng thấy được trong khi thiền. Ánh sáng là hào quang báo hiệu tâm đã lìa phiền não, còn "các sắc" có thể là những hiện tượng người hành thiền thấy được. Ở đây đặc biệt nói đến năng lực thiên nhãn, và về sau Anuruddha được tuyên bố là đệ nhất về năng lực này.]

Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy lại biến mất;

mà chúng con không thấu rõ được căn nguyên ấy."

[Chú thích: Ở dưới, Đức Thế Tôn truy xét theo "nhân và duyên", nên chú giải hiểu nimitta ở đây là căn nguyên. Cần phân biệt: "ánh sáng và sự thấy các sắc" ở câu trên không phải là nimitta, vì trong các văn bản sơ kỳ nimitta không mang nghĩa ấy.]

Này Anuruddha, các ông cần phải thấu rõ căn nguyên ấy.

Này Anuruddha, trước khi giác ngộ, khi ta còn chưa giác ngộ và đang là một vị bồ-tát, ta cũng nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc.

Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất.

[Chú thích: Đây là giai đoạn trên đường phát triển thiền định khi định chưa được củng cố vững chắc. Đó là lúc rất mong manh: những chướng ngại quen thuộc hiện ra dưới dạng vi tế mà vẫn đủ ngăn cản sự nhập định.]

Này Anuruddha, ta suy nghĩ:

"Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:


"Nghi ngờ khởi lên nơi ta, và vì nghi ngờ mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Khi định chưa được củng cố, chỉ một chút do dự về cách hành thiền cũng đủ làm xáo động. Nghi ngờ cũng có thể khởi lên về việc những gì mình thấy trong thiền có thật hay không, và cách đối trị là quyết định rõ đề mục ngay từ đầu. Ba câu này dùng thì rất chính xác: một sự việc được nhớ lại ở thì quá khứ, một nguyên lý được suy ra ở thì hiện tại, và một quyết tâm được lập ra ở thì tương lai.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc.

Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất.

Này Anuruddha, ta suy nghĩ:

"Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Sự không tác ý khởi lên nơi ta, và vì không tác ý mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Tâm trôi khỏi đề mục. Ở mức vi tế này, tâm có thể chưa phóng đi hay lạc mất, chỉ là sự chú tâm không còn chính xác.]

[Chú thích của người dịch: Tác ý (manasikāra) là sự hướng tâm chú ý đến một đối tượng; không tác ý là tâm không còn hướng đúng vào đề mục.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ và sự không tác ý không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất. Ta suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Dã dượi và buồn ngủ khởi lên nơi ta, và vì dã dượi và buồn ngủ mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Hành thiền đến mức này cần nhiều thời gian, và bất cứ ai cũng có lúc buồn ngủ, dù chỉ là thiếu một nguồn năng lượng thật sự trong sáng. Cách đối trị là hỷ, thứ nâng đỡ và khơi dậy tâm.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất. Ta suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Nỗi khiếp sợ khởi lên nơi ta, và vì khiếp sợ mà định của ta rơi mất.

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Này Anuruddha, ví như một người đang đi trên đường xa, bỗng có những con chim cút vụt bay lên từ hai bên, người ấy vì thế mà khiếp sợ;

[Chú thích: Chữ "khiếp sợ" nghe có vẻ mạnh so với chambhitatta trong ngữ cảnh này, nhưng ví dụ này cho thấy nó nghĩa là gì. Lúc ấy tâm được khuếch đại, nên những phản ứng nhỏ cũng có thể lan nhanh và mất kiểm soát; Đức Thế Tôn bàn thêm về điểm này trong MN 4:20.1.]

Này Anuruddha, cũng như vậy, nỗi khiếp sợ khởi lên nơi ta, và vì khiếp sợ mà định của ta rơi mất.

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ, khiếp sợ không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất. Ta suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Sự phấn khích khởi lên nơi ta, và vì phấn khích mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Điều này có thể xảy ra khi tâm bắt đầu tụ lại và người hành thiền mừng rỡ vì định sắp đến. Cách đối trị là suy nghĩ về sự cần thiết của lòng kiên nhẫn, và chú tâm hơn vào việc nuôi dưỡng sự an tĩnh ở những bước nền tảng.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Này Anuruddha, ví như một người đang tìm lối vào một kho báu, bỗng cùng một lúc tìm ra năm lối vào kho báu, người ấy vì thế mà phấn khích;

[Chú thích: Về hình ảnh kho báu trong thiền định, so với MN 52, tương đương AN 11.16.]

Này Anuruddha, cũng như vậy, sự phấn khích khởi lên nơi ta, và vì phấn khích mà định của ta rơi mất.

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ, khiếp sợ, phấn khích không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất. Ta suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Sự khó chịu nơi thân khởi lên nơi ta, và vì khó chịu nơi thân mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Ngồi lâu, ai cũng gặp sự khó chịu nơi thân. Cách xử lý là trước hết ngồi cho thật thoải mái trong mức có thể, rồi nuôi dưỡng cảm giác dễ chịu nơi thân; Anuruddha đã vượt qua đau nơi thân nhờ bốn niệm xứ, như ở SN 52.10:2.1.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ, khiếp sợ, phấn khích, khó chịu nơi thân không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất. Ta suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Sự tinh tấn quá mức khởi lên nơi ta, và vì tinh tấn quá mức mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Khi gắng quá sức trong thiền, thân và tâm có thể bị năng lượng kích động thái quá. Để tìm lại thế cân bằng, người hành thiền cần thư giãn và lùi lại khỏi đề mục một chút.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Này Anuruddha, ví như một người nắm quá chặt một con chim cút trong hai tay, con chim ấy chết ngay tại chỗ;

Này Anuruddha, cũng như vậy, sự tinh tấn quá mức khởi lên nơi ta, và vì tinh tấn quá mức mà định của ta rơi mất.

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ, khiếp sợ, phấn khích, khó chịu nơi thân, tinh tấn quá mức không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất. Ta suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Sự tinh tấn quá lơi khởi lên nơi ta, và vì tinh tấn quá lơi mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Ngược với trường hợp trước, ở đây tâm lùi lại quá xa khỏi đề mục. Người hành thiền không hẳn buồn ngủ, nhưng thiếu độ sắc bén để đi sâu hơn; khi ấy cần hướng tâm vào đề mục mạnh hơn một chút.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất."

Này Anuruddha, ví như một người nắm quá lỏng một con chim cút, con chim ấy vụt bay khỏi tay người ấy;


Này Anuruddha, cũng như vậy, sự tinh tấn quá lơi khởi lên nơi ta, và vì tinh tấn quá lơi mà định của ta rơi mất.

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ, khiếp sợ, phấn khích, khó chịu nơi thân, tinh tấn quá mức, tinh tấn quá lơi không còn khởi lên nơi ta nữa.

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất. Ta suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Sự mong cầu khởi lên nơi ta, và vì mong cầu mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Người hành thiền khao khát những chứng đắc tâm linh cao hơn, như ở Thag 19.1:16.1 hay AN 4.159:6.7. Đó là một động lực thiện, nhưng ở điểm này nó có thể làm xáo động thiền định.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ, khiếp sợ, phấn khích, khó chịu nơi thân, tinh tấn quá mức, tinh tấn quá lơi, mong cầu không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất. Ta suy nghĩ: "Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Tri giác về sự đa dạng khởi lên nơi ta, và vì tri giác về sự đa dạng mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Sự đa dạng có thể đến từ hoạt động của các giác quan, hoặc từ nhiều thứ "sắc" mà người hành thiền thấy. Dù theo cách nào, tâm cũng phải lắng xuống mới tìm được sự nhất như thật sự.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ, khiếp sợ, phấn khích, khó chịu nơi thân, tinh tấn quá mức, tinh tấn quá lơi, mong cầu, tri giác về sự đa dạng không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, nên ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc.

Nhưng chẳng bao lâu sau, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta lại biến mất.

Này Anuruddha, ta suy nghĩ:

"Do nhân gì, do duyên gì mà ánh sáng và sự thấy các sắc ấy biến mất nơi ta?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Sự quá chú mục vào các sắc khởi lên nơi ta, và vì quá chú mục vào các sắc mà định của ta rơi mất.

[Chú thích: Những "sắc" thấy trong thiền có thể rất hấp dẫn, như thoáng thấy các cõi khác, cảm nhận có chúng sinh hiện diện, hay hình ảnh của những đời trước. Nếu người hành thiền chú ý đến chúng quá nhiều thì sẽ mất sự tập trung vào chính việc thiền.]

Khi định rơi mất thì ánh sáng và sự thấy các sắc ấy cũng biến mất.

Ta sẽ làm như vậy để nghi ngờ, sự không tác ý, dã dượi và buồn ngủ, khiếp sợ, phấn khích, khó chịu nơi thân, tinh tấn quá mức, tinh tấn quá lơi, mong cầu, tri giác về sự đa dạng, quá chú mục vào các sắc không còn khởi lên nơi ta nữa."

Này Anuruddha, sau khi hiểu rằng "nghi ngờ là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ nghi ngờ, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "sự không tác ý là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ sự không tác ý, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "dã dượi và buồn ngủ là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ dã dượi và buồn ngủ, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "khiếp sợ là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ khiếp sợ, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "phấn khích là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ phấn khích, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "khó chịu nơi thân là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ khó chịu nơi thân, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "tinh tấn quá mức là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ tinh tấn quá mức, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "tinh tấn quá lơi là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ tinh tấn quá lơi, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "mong cầu là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ mong cầu, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "tri giác về sự đa dạng là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ tri giác về sự đa dạng, thứ ô nhiễm của tâm;

sau khi hiểu rằng "quá chú mục vào các sắc là ô nhiễm của tâm", ta đã từ bỏ quá chú mục vào các sắc, thứ ô nhiễm của tâm.

Này Anuruddha, khi sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, ta nhận biết được ánh sáng mà không thấy các sắc;

hoặc ta thấy được các sắc mà không nhận biết được ánh sáng:

suốt cả một đêm, suốt cả một ngày, suốt cả một đêm và một ngày.

Này Anuruddha, ta suy nghĩ:

"Do nhân gì, do duyên gì mà ta nhận biết được ánh sáng mà không thấy các sắc;

hoặc ta thấy được các sắc mà không nhận biết được ánh sáng —

suốt cả một đêm, suốt cả một ngày, suốt cả một đêm và một ngày?"

Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Khi nào ta không chú tâm đến căn nguyên của các sắc mà chú tâm đến căn nguyên của ánh sáng, thì lúc ấy ta nhận biết được ánh sáng mà không thấy các sắc.

[Chú thích: Câu này cho thấy nimitta mang nghĩa nhân quả; còn manasikāra, "sự chú tâm", thường được dùng khi nói đến việc hướng tâm đến các nhân.]

Nhưng khi nào ta không chú tâm đến căn nguyên của ánh sáng mà chú tâm đến căn nguyên của các sắc, thì lúc ấy ta thấy được các sắc mà không nhận biết được ánh sáng —

suốt cả một đêm, suốt cả một ngày, suốt cả một đêm và một ngày."

Này Anuruddha, khi sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng, ta nhận biết được ánh sáng có giới hạn và thấy được các sắc có giới hạn;

hoặc ta nhận biết được ánh sáng không giới hạn và thấy được các sắc không giới hạn:

suốt cả một đêm, suốt cả một ngày, suốt cả một đêm và một ngày.

Này Anuruddha, ta suy nghĩ:

"Do nhân gì, do duyên gì mà ta nhận biết được ánh sáng có giới hạn và thấy được các sắc có giới hạn;

hoặc ta nhận biết được ánh sáng không giới hạn và thấy được các sắc không giới hạn —

suốt cả một đêm, suốt cả một ngày, suốt cả một đêm và một ngày?"


Này Anuruddha, ta lại suy nghĩ:

"Khi định của ta có giới hạn, thì lúc ấy con mắt của ta cũng có giới hạn.

Với con mắt có giới hạn ấy, ta nhận biết được ánh sáng có giới hạn và thấy được các sắc có giới hạn.

Nhưng khi định của ta không giới hạn, thì lúc ấy con mắt của ta cũng không giới hạn.

Với con mắt không giới hạn ấy, ta nhận biết được ánh sáng không giới hạn và thấy được các sắc không giới hạn —

suốt cả một đêm, suốt cả một ngày, suốt cả một đêm và một ngày."

Này Anuruddha, sau khi hiểu rằng "nghi ngờ là ô nhiễm của tâm", nghi ngờ, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "sự không tác ý là ô nhiễm của tâm", sự không tác ý, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "dã dượi và buồn ngủ là ô nhiễm của tâm", dã dượi và buồn ngủ, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "khiếp sợ là ô nhiễm của tâm", khiếp sợ, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "phấn khích là ô nhiễm của tâm", phấn khích, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "khó chịu nơi thân là ô nhiễm của tâm", khó chịu nơi thân, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "tinh tấn quá mức là ô nhiễm của tâm", tinh tấn quá mức, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "tinh tấn quá lơi là ô nhiễm của tâm", tinh tấn quá lơi, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "mong cầu là ô nhiễm của tâm", mong cầu, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "tri giác về sự đa dạng là ô nhiễm của tâm", tri giác về sự đa dạng, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ;

sau khi hiểu rằng "quá chú mục vào các sắc là ô nhiễm của tâm", quá chú mục vào các sắc, thứ ô nhiễm của tâm ấy, đã được ta từ bỏ.

Này Anuruddha, ta suy nghĩ:

"Những ô nhiễm của tâm nơi ta đã được từ bỏ.

Nào, giờ ta hãy tu tập định theo ba cách."

Này Anuruddha, ta đã tu tập định có tầm có tứ; tu tập định không tầm mà chỉ có tứ; tu tập định không tầm không tứ; tu tập định có hỷ; tu tập định không hỷ; tu tập định đi cùng với lạc; tu tập định đi cùng với xả.

[Chú thích: Cách trình bày định theo ba hướng này chú trọng vào tầm và tứ, tức hai yếu tố đưa tâm vào và giữ tâm nơi đề mục, và nhìn kỹ cách chúng lắng xuống. Công thức thiền-na quen thuộc lại chú trọng vào sự tinh luyện của cảm thọ, nên theo cách nhìn ấy, hai tầng đầu ở đây thuộc về "hỷ và lạc do viễn ly sinh", còn tầng thứ ba mới là "hỷ và lạc do định sinh". Vì vậy hai cách mô tả được xem là hai góc nhìn bổ sung cho cùng một tiến trình định sâu dần.]

Này Anuruddha, khi định có tầm có tứ đã được ta tu tập, định không tầm mà chỉ có tứ đã được ta tu tập, định không tầm không tứ đã được ta tu tập, định có hỷ đã được ta tu tập, định không hỷ đã được ta tu tập, định đi cùng với lạc đã được ta tu tập, định đi cùng với xả đã được ta tu tập,

thì tri kiến khởi lên nơi ta:

"Tâm giải thoát của ta không còn lay chuyển. Đây là lần sinh cuối cùng; nay không còn đời sống nào nữa."

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Tôn giả Anuruddha hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Bài kinh Ô Nhiễm, bài thứ tám, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →