buppou

Trung Bộ Kinh · bài 129/152

Kinh Kẻ Ngu và Người Trí

Bālapaṇḍita Sutta — bài kinh về kẻ ngu và người trí

43 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Kẻ Ngu và Người Trí (Bālapaṇḍita Sutta, quen gọi: Kinh Hiền Ngu) là bài kinh thứ 129 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại khu rừng Jeta gần thành Sāvatthī, nơi Đức Thế Tôn đang trú cùng Tăng đoàn. Ngài gọi các tỳ-kheo lại và mở đầu bằng một câu hỏi rất giản dị: làm sao người ta nhận ra một kẻ ngu? Câu trả lời không dựa vào trí thông minh bẩm sinh, học vấn hay địa vị, mà dựa vào ba việc ai cũng làm mỗi ngày: suy nghĩ, nói năng và hành động.

Nửa đầu bài kinh nói về kẻ ngu. Ba dấu hiệu của họ là suy nghĩ điều ác, nói lời ác, làm việc ác; chính vì thế mà người khác nhận ra họ, chứ không phải vì họ kém thông minh. Rồi bài kinh kể ba nỗi khổ mà kẻ ngu phải chịu ngay trong đời này. Thứ nhất, khi ngồi ở hội trường, ngoài đường hay ở ngã tư, nghe người ta bàn những chuyện hợp với việc ấy, họ chợt nhận ra những điều xấu ấy đang có nơi mình. Thứ hai, khi thấy vua chúa bắt một tên trộm cướp và hành hạ đủ cách, họ biết mình cũng phạm đúng những việc ấy và có thể bị xử như vậy. Thứ ba, khi ngồi trên ghế, nằm trên giường hay nằm trên đất, những việc ác cũ hiện về, buông xuống trên họ như bóng núi lớn đổ xuống mặt đất lúc chiều tà.

Sau khi chết, kẻ ngu sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục. Phần mô tả địa ngục là phần nặng nề nhất của bài kinh, và Đức Thế Tôn dùng một phép so sánh để nói rằng mọi hình dung của con người đều quá nhỏ: một người bị ba trăm ngọn giáo đâm trong một ngày đau đến đâu, nỗi đau ấy vẫn không đáng kể so với khổ ở địa ngục. Tiếp theo là cảnh ngục tốt đóng cọc sắt vào tay, chân và ngực, chặt bằng rìu, treo ngược, cột vào xe kéo qua nền đất cháy, ném lên núi than hồng, luộc trong nồi đồng đỏ, rồi quăng vào Đại địa ngục với bốn góc, bốn cửa và bức tường sắt.

Từ địa ngục, bài kinh đi xuống các loài thú: loài ăn cỏ, loài ăn phân, loài sinh sống và chết trong bóng tối, trong nước, trong uế vật. Rồi có hình ảnh nổi tiếng về con rùa mù một mắt trồi lên mặt biển mỗi trăm năm một lần, giữa biển cả có một cái ách chỉ một lỗ. Rùa ấy còn có thể chui đầu qua lỗ ách dễ hơn một kẻ ngu đã rơi xuống đọa xứ có thể trở lại làm người. Lý do được nêu rõ: ở nơi ấy không có hạnh sống có nguyên tắc, không có việc làm lành, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, mạnh hiếp yếu.

Nửa sau bài kinh là tấm gương soi ngược lại. Người trí suy nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành, và cũng có ba niềm vui ngay trong đời này: nghe người ta bàn chuyện tốt và biết những điều tốt ấy có nơi mình; thấy người phạm tội bị hành hạ và biết mình không phạm những việc ấy; nằm yên và thấy những việc lành cũ buông xuống trên mình như bóng núi chiều, lòng không sầu muộn, không than khóc, không mê loạn. Sau khi chết, người trí sinh vào cõi lành, cõi trời. Để nói cõi trời vui đến đâu, bài kinh dựng lên hình ảnh một vị vua Chuyển luân với bảy báu vật — bánh xe, voi, ngựa, ngọc, người nữ, gia chủ và vị tướng — cùng bốn sự thành tựu là dung sắc, tuổi thọ, sức khỏe và sự yêu mến của dân chúng. Cả gia tài ấy, so với niềm vui cõi trời, cũng chỉ như hòn đá nhỏ trong lòng bàn tay đặt cạnh núi Himavā.

Bài kinh khép lại bằng hai câu cân xứng: đây là toàn bộ cảnh giới của kẻ ngu, trọn vẹn không thiếu; đây là toàn bộ cảnh giới của người trí, trọn vẹn không thiếu. Cách kết ấy cho thấy ý chính của cả bài: kẻ ngu và người trí không phải hai loại người được định sẵn từ lúc sinh ra, mà là hai nẻo đường ai cũng đang đi, và điều phân biệt họ nằm ngay trong ba cánh cửa thân, khẩu, ý mà mỗi người mở ra hay đóng lại hằng ngày.


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này là một trong những lời dạy nền tảng về vai trò của nghiệp. Nó nhận diện kẻ ngu qua việc làm ác, rồi mô tả những khổ đau đang chờ họ trong đời này và đời sau. Ngược lại, người trí làm lành sẽ được hưởng vô số niềm vui.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, có ba đặc điểm, ba dấu hiệu và ba biểu hiện của kẻ ngu.

[Chú thích: "Kẻ ngu" là bāla, nguyên nghĩa là "đứa trẻ sơ sinh". Một bản trình bày giản lược hơn nhiều về đề tài này có trong Tăng Chi Bộ Kinh 3.3.]

Ba là những gì?

Này các tỳ-kheo, ở đây kẻ ngu suy nghĩ điều ác, nói lời ác, làm việc ác.

Này các tỳ-kheo, nếu kẻ ngu không suy nghĩ điều ác, không nói lời ác, không làm việc ác, thì những người trí lấy gì mà biết được nó rằng:

"Vị này là kẻ ngu, là người xấu"?

Nhưng này các tỳ-kheo, vì kẻ ngu suy nghĩ điều ác, nói lời ác, làm việc ác, nên những người trí biết được nó rằng:

"Vị này là kẻ ngu, là người xấu".

Này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy trải qua ba loại khổ đau và buồn phiền ngay trong đời này.

Này các tỳ-kheo, giả sử kẻ ngu đang ngồi ở hội trường, hay ngồi ở đường phố, hay ngồi ở ngã tư;

và ở đó người ta đang bàn những chuyện hợp với việc ấy.

Này các tỳ-kheo, giả sử kẻ ngu ấy là người sát sinh, là người trộm cắp, là người tà dâm, là người nói dối, là người uống rượu và các chất say;

bấy giờ, này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy nghĩ rằng:

"Những chuyện người ta đang bàn đây là những chuyện hợp với việc ấy.

Nhưng những điều ấy đang có nơi ta, và ta cũng hiện rõ những điều ấy!"

Này các tỳ-kheo, đó là loại khổ đau và buồn phiền thứ nhất mà kẻ ngu trải qua ngay trong đời này.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ ngu thấy vua chúa bắt một tên trộm cướp có tội, rồi thi hành nhiều hình phạt khác nhau:

đánh bằng roi, bằng dây, bằng gậy; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; thi hành hình phạt nồi cháo, cạo vỏ sò, miệng Rāhu, vòng hoa lửa, tay cháy, bện cói, áo vỏ cây, linh dương, móc thịt, đồng tiền, nước tro ăn da, cột xoay, chiếu rơm; tưới dầu sôi lên thân, cho chó ăn thịt, dựng sống trên cọc, chém đầu bằng gươm.

[Chú thích: Chú giải các tên hình phạt này nằm trong bài kinh số 13, đoạn 14.3, nơi cùng danh sách ấy xuất hiện.]

Bấy giờ, này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy nghĩ rằng:

"Vì những ác nghiệp như thế, vua chúa bắt một tên trộm cướp có tội rồi thi hành nhiều hình phạt khác nhau:

đánh bằng roi, bằng dây, bằng gậy; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; thi hành hình phạt nồi cháo, cạo vỏ sò, miệng Rāhu, vòng hoa lửa, tay cháy, bện cói, áo vỏ cây, linh dương, móc thịt, đồng tiền, nước tro ăn da, cột xoay, chiếu rơm; tưới dầu sôi lên thân, cho chó ăn thịt, dựng sống trên cọc, chém đầu bằng gươm.

Những điều ấy đang có nơi ta, và ta cũng hiện rõ những điều ấy.

Nếu vua chúa biết được ta, thì vua chúa cũng sẽ bắt ta và thi hành nhiều hình phạt khác nhau:

đánh bằng roi, bằng dây, bằng gậy; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; thi hành hình phạt nồi cháo, cạo vỏ sò, miệng Rāhu, vòng hoa lửa, tay cháy, bện cói, áo vỏ cây, linh dương, móc thịt, đồng tiền, nước tro ăn da, cột xoay, chiếu rơm; tưới dầu sôi lên thân, cho chó ăn thịt, dựng sống trên cọc, chém đầu bằng gươm."

Này các tỳ-kheo, đó là loại khổ đau và buồn phiền thứ hai mà kẻ ngu trải qua ngay trong đời này.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, khi kẻ ngu ngồi trên ghế, nằm trên giường, hay nằm trên đất, thì những ác nghiệp trước đây nó đã làm — thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác — vào lúc ấy buông xuống trên nó, đổ xuống trên nó, trùm xuống trên nó.

Này các tỳ-kheo, cũng như vào buổi chiều, bóng của những đỉnh núi lớn buông xuống mặt đất, đổ xuống mặt đất, trùm xuống mặt đất.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi kẻ ngu ngồi trên ghế, nằm trên giường, hay nằm trên đất, thì những ác nghiệp trước đây nó đã làm — thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác — vào lúc ấy buông xuống trên nó, đổ xuống trên nó, trùm xuống trên nó.

Bấy giờ, này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy nghĩ rằng:

"Than ôi, ta đã không làm điều lành, không làm điều thiện, không làm điều che chở khỏi sợ hãi;

còn ta đã làm điều ác, điều tàn bạo, điều ô uế.

Những ai đã không làm điều lành, không làm điều thiện, không làm điều che chở khỏi sợ hãi, mà lại làm điều ác, điều tàn bạo, điều ô uế — sau khi chết, họ đi đến chỗ nào, thì ta cũng sẽ đi đến chỗ ấy."

Nó sầu muộn, mệt mỏi, than van, đấm ngực gào khóc, rơi vào mê loạn.

Này các tỳ-kheo, đó là loại khổ đau và buồn phiền thứ ba mà kẻ ngu trải qua ngay trong đời này.

Này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy, sau khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, khi thân hoại mạng chung, thì sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.

Này các tỳ-kheo, nếu có điều gì mà người nói đúng sự thật có thể nói là:

"hoàn toàn không đáng ưa, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không vừa ý" — thì người nói đúng sự thật sẽ nói rằng đó chính là địa ngục:

[Chú thích: "Địa ngục" là niraya, nghĩa là "nơi thiếu vắng những điều tốt lành".]

"hoàn toàn không đáng ưa, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không vừa ý".

Và này các tỳ-kheo, địa ngục khổ đến mức khó có thể đưa ra một ví dụ để so sánh.

Khi Ngài nói như vậy, một vị tỳ-kheo bạch Đức Thế Tôn rằng:

"Bạch Thế Tôn, nhưng có thể đưa ra một ví dụ được không?"

"Có thể, này các tỳ-kheo," Đức Thế Tôn nói.

Này tỳ-kheo, giả sử người ta bắt một tên trộm cướp có tội, dẫn đến trước vua và nói rằng:

[Chú thích: Tại Tương Ưng Bộ Kinh 12.63, đoạn 6.5, ví dụ này được áp dụng cho thức như một loại nhiên liệu hay dưỡng chất; còn ở Tương Ưng Bộ Kinh 56.35 thì áp dụng cho khổ của sự luân hồi.]

"Thưa đại vương, đây là tên trộm cướp có tội. Xin đại vương ra hình phạt tùy ý."

Vua sẽ nói với nó rằng:


"Hãy đi, này các người, đánh tên ấy một trăm ngọn giáo vào buổi sáng."

Người ta đánh tên ấy một trăm ngọn giáo vào buổi sáng.

Rồi vào giữa trưa, vua sẽ nói rằng:

"Này, tên ấy thế nào rồi?"

"Thưa đại vương, nó vẫn còn sống."

Vua sẽ nói với nó rằng:

"Hãy đi, này các người, đánh tên ấy một trăm ngọn giáo vào giữa trưa."

Người ta đánh tên ấy một trăm ngọn giáo vào giữa trưa.

Rồi vào buổi chiều, vua sẽ nói rằng:

"Này, tên ấy thế nào rồi?"

"Thưa đại vương, nó vẫn còn sống."

Vua sẽ nói với nó rằng:

"Hãy đi, này các người, đánh tên ấy một trăm ngọn giáo vào buổi chiều."

Người ta đánh tên ấy một trăm ngọn giáo vào buổi chiều.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao?

Một người bị ba trăm ngọn giáo đâm như vậy, có cảm thọ khổ đau và buồn phiền do nhân ấy không?

"Bạch Thế Tôn, chỉ bị một ngọn giáo đâm thôi, người ấy đã cảm thọ khổ đau và buồn phiền do nhân ấy rồi, huống chi là bị ba trăm ngọn giáo!"

Rồi Đức Thế Tôn nhặt một hòn đá nhỏ bằng bàn tay, gọi các tỳ-kheo:

[Chú thích: Những ví dụ tương tự được tập hợp trong Tương Ưng Bộ Kinh 13.1 trở đi và 56.49 trở đi; riêng ví dụ này thì chỉ có ở đây.]

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao?

Cái nào lớn hơn: hòn đá nhỏ bằng bàn tay mà ta vừa nhặt lên, hay núi Himavā (Tuyết Sơn), vua của các ngọn núi?

"Bạch Thế Tôn, hòn đá nhỏ bằng bàn tay mà Đức Thế Tôn nhặt lên thật là bé nhỏ. So với núi Himavā, vua của các ngọn núi, nó không đáng kể, không đáng một phần nhỏ, không thể so sánh được."

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, nỗi khổ đau và buồn phiền mà người ấy cảm thọ do bị ba trăm ngọn giáo đâm, so với khổ của cõi địa ngục, thì không đáng kể, không đáng một phần nhỏ, không thể so sánh được.

Này các tỳ-kheo, các ngục tốt ở địa ngục thi hành hình phạt gọi là đóng năm cọc lên nó:

[Chú thích: Truyền thống Phật giáo không thoải mái với ý niệm rằng các ngục tốt ở địa ngục là chúng sinh, vì như vậy thì họ không chỉ đang trả quả báo của mình mà còn tạo nghiệp ác mới. Chú giải dẫn lời "một số trưởng lão" cho rằng không có ngục tốt, vì nghiệp tự vận hành như một cỗ máy; các vị ấy có lẽ thuộc phái Đại chúng bộ ở vùng Andhra. Các nhà chú giải Thượng tọa bộ trả lời bằng một so sánh: ở cõi người cũng có những kẻ thi hành hình phạt.]

Chúng đóng một cọc sắt nung đỏ vào bàn tay này, đóng một cọc sắt nung đỏ vào bàn tay kia, đóng một cọc sắt nung đỏ vào bàn chân này, đóng một cọc sắt nung đỏ vào bàn chân kia, đóng một cọc sắt nung đỏ vào giữa ngực.

Ở đó nó cảm thọ những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, gay gắt, đau đớn; nhưng nó chưa chết ngay cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, các ngục tốt quật nó xuống rồi bửa nó bằng những chiếc rìu.

Ở đó nó cảm thọ những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, gay gắt, đau đớn; nhưng nó chưa chết ngay cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, các ngục tốt túm lấy nó, dựng ngược đầu xuống, rồi bào nó bằng những chiếc rìu nhỏ.

Ở đó nó cảm thọ những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, gay gắt, đau đớn; nhưng nó chưa chết ngay cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, các ngục tốt cột nó vào một cỗ xe, rồi cho xe kéo nó qua lại trên nền đất cháy rực, bốc lửa ngùn ngụt.

Ở đó nó cảm thọ những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, gay gắt, đau đớn; nhưng nó chưa chết ngay cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, các ngục tốt bắt nó trèo lên rồi tuột xuống một ngọn núi than hồng lớn cháy rực, bốc lửa ngùn ngụt.

Ở đó nó cảm thọ những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, gay gắt, đau đớn; nhưng nó chưa chết ngay cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, các ngục tốt túm lấy nó, dựng ngược đầu xuống, rồi ném vào một cái nồi đồng nung đỏ, cháy rực, bốc lửa ngùn ngụt.

Ở đó nó bị nấu đến mức bọt sôi trào lên khắp thân.

Ở đó, trong lúc bị nấu đến mức bọt sôi trào, nó có lúc nổi lên trên, có lúc chìm xuống dưới, có lúc trôi ngang.

Ở đó nó cảm thọ những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, gay gắt, đau đớn; nhưng nó chưa chết ngay cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, các ngục tốt quăng nó vào Đại địa ngục.

[Chú thích: Chú giải đồng nhất Đại địa ngục với địa ngục Avīci. Kinh Itivuttaka 89, đoạn 5.3, cũng nhắc đến Avīci với bốn cửa.]

Này các tỳ-kheo, còn Đại địa ngục ấy thì:

[Chú thích: Đoạn này có vẻ là một câu kệ được trích dẫn.]

Bốn góc, bốn cửa,

chia đều từng phần, đo đạc cân xứng;

bao quanh bằng tường sắt,

mái cũng bằng sắt.

Nền của nó làm bằng sắt,

cháy rực với sức nóng;

sức nóng ấy tỏa ra một trăm do-tuần,

và cứ thế mãi mãi.

Này các tỳ-kheo, ta có thể nói về địa ngục bằng nhiều cách khác nhau;

[Chú thích: Từ chỗ đóng năm cọc cho đến đây cũng có trong Tăng Chi Bộ Kinh 3.36, đoạn 13.2. Trong bài kinh số 130, đoạn 10.1 trở đi, Đức Thế Tôn thực hiện lời hứa ở đây và mở rộng phần mô tả các địa ngục.]

nhưng này các tỳ-kheo, khổ của địa ngục nhiều đến mức khó có thể nói ra cho hết.

Này các tỳ-kheo, có những chúng sinh thuộc loài thú ăn cỏ.


Chúng ăn cỏ tươi hay cỏ khô, cắn đứt bằng răng.

Và này các tỳ-kheo, những chúng sinh thuộc loài thú ăn cỏ là những ai?

Voi, ngựa, bò, lừa, dê, hươu, và nhiều loài thú khác nữa ăn cỏ.

Này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy trước đây ở đời này ham thích vị ngon, đã làm những ác nghiệp, nên khi thân hoại mạng chung, sinh vào chung với những chúng sinh ăn cỏ ấy.

Này các tỳ-kheo, có những chúng sinh thuộc loài thú ăn phân.

Chúng ngửi thấy mùi phân từ xa đã chạy đến:

"Ở đây ta sẽ ăn! Ở đây ta sẽ ăn!"

Cũng như các bà-la-môn ngửi thấy mùi của lễ vật cúng tế liền chạy đến:

"Ở đây ta sẽ ăn! Ở đây ta sẽ ăn!" —

[Chú thích: So sánh Chāndogya Upaniṣad 1.12.5, nơi những con chó trắng tụng thánh ca để xin ăn. Truyền thống bà-la-môn không xem câu chuyện ấy là chuyện chê bai; ở đó, những con chó ấy là các hiền giả cải trang, và câu chuyện cho thấy ngay cả loài chó cũng tránh ăn thức ăn không thanh tịnh.]

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, có những chúng sinh thuộc loài thú ăn phân,

chúng ngửi thấy mùi phân từ xa đã chạy đến:

"Ở đây ta sẽ ăn! Ở đây ta sẽ ăn!"

Và này các tỳ-kheo, những chúng sinh thuộc loài thú ăn phân là những ai?

Gà, lợn, chó, chó rừng, và nhiều loài thú khác nữa ăn phân.

Này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy trước đây ở đời này ham thích vị ngon, đã làm những ác nghiệp, nên khi thân hoại mạng chung, sinh vào chung với những chúng sinh ăn phân ấy.

Này các tỳ-kheo, có những chúng sinh thuộc loài thú sinh ra trong bóng tối, sống trong bóng tối, chết trong bóng tối.

Và này các tỳ-kheo, những chúng sinh thuộc loài thú sinh ra trong bóng tối, sống trong bóng tối, chết trong bóng tối là những ai?

Côn trùng, giòi, giun đất, và nhiều loài thú khác nữa sinh ra trong bóng tối, sống trong bóng tối, chết trong bóng tối.

Này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy trước đây ở đời này ham thích vị ngon, đã làm những ác nghiệp, nên khi thân hoại mạng chung, sinh vào chung với những chúng sinh vốn sinh ra trong bóng tối, sống trong bóng tối, chết trong bóng tối.

Này các tỳ-kheo, có những chúng sinh thuộc loài thú sinh ra trong nước, sống trong nước, chết trong nước.

Và này các tỳ-kheo, những chúng sinh thuộc loài thú sinh ra trong nước, sống trong nước, chết trong nước là những ai?

Cá, rùa, cá heo, và nhiều loài thú khác nữa sinh ra trong nước, sống trong nước, chết trong nước.

[Chú thích: Susumāra, nghĩa đen là "kẻ giết trẻ con", có thể là cá heo sông Hằng hoặc cá sấu. Vì cá sấu đẻ trứng trên đất khô, nên ở đây có lẽ muốn nói đến cá heo.]

Này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy trước đây ở đời này ham thích vị ngon, đã làm những ác nghiệp, nên khi thân hoại mạng chung, sinh vào chung với những chúng sinh vốn sinh ra trong nước, sống trong nước, chết trong nước.

Này các tỳ-kheo, có những chúng sinh thuộc loài thú sinh ra trong uế vật, sống trong uế vật, chết trong uế vật.

Và này các tỳ-kheo, những chúng sinh thuộc loài thú sinh ra trong uế vật, sống trong uế vật, chết trong uế vật là những ai?

Này các tỳ-kheo, những chúng sinh nào sinh ra trong cá thối, sống trong cá thối, chết trong cá thối; sinh ra trong xác chết thối, sống trong xác chết thối, chết trong xác chết thối;

sinh ra trong cháo thối, sống trong cháo thối, chết trong cháo thối;

sinh ra trong cống rãnh, sống trong cống rãnh, chết trong cống rãnh;

hay sinh ra trong hố phân; và bất cứ loài thú nào khác sinh ra trong uế vật, sống trong uế vật, chết trong uế vật.

Này các tỳ-kheo, kẻ ngu ấy trước đây ở đời này ham thích vị ngon, đã làm những ác nghiệp, nên khi thân hoại mạng chung, sinh vào chung với những chúng sinh vốn sinh ra trong uế vật, sống trong uế vật, chết trong uế vật.

Này các tỳ-kheo, ta có thể nói về loài thú bằng nhiều cách khác nhau;

nhưng này các tỳ-kheo, khổ của loài thú nhiều đến mức khó có thể nói ra cho hết.

Này các tỳ-kheo, giả sử một người ném xuống biển lớn một cái ách có một lỗ.

[Chú thích: Xem Tương Ưng Bộ Kinh 56.47 và 56.48.]

Gió đông cuốn nó về phía tây, gió tây cuốn nó về phía đông, gió bắc cuốn nó về phía nam, gió nam cuốn nó về phía bắc.

Và ở đó có một con rùa mù một mắt, cứ mỗi trăm năm mới trồi lên một lần.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao?

Con rùa mù một mắt ấy có thể chui cổ qua lỗ của cái ách ấy không?

"Bạch Thế Tôn, không."

"Chỉ có thể, bạch Thế Tôn, sau một quãng thời gian rất dài, nếu có khi nào."

Này các tỳ-kheo, còn khó hơn thế nữa là việc một kẻ ngu đã một lần rơi xuống đọa xứ được sinh lại làm người — ta nói như vậy.

Vì sao vậy?

Này các tỳ-kheo, vì ở đó không có hạnh sống đúng Pháp, không có hạnh sống bình đẳng, không có việc làm thiện, không có việc tạo phước.

Này các tỳ-kheo, ở đó chỉ có chuyện ăn thịt lẫn nhau, kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu.

Này các tỳ-kheo, nếu kẻ ngu ấy, sau một quãng thời gian rất dài, có khi nào trở lại làm người, thì nó sẽ sinh vào những gia đình thấp hèn:

gia đình cùng đinh, gia đình thợ săn, gia đình thợ đan lát, gia đình thợ đóng xe, hay gia đình người hốt rác.

Nó sinh vào một gia đình như vậy: nghèo khó, ít ăn ít uống, sống vất vả, nơi mà cơm ăn áo mặc phải tìm rất khó khăn.

Nó lại xấu xí, khó nhìn, dị dạng, nhiều bệnh tật — mù một mắt, què tay, còng lưng, hay bại liệt nửa người; nó không được ăn, uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm và phấn sáp, giường, nhà ở và đèn đuốc.

Nó thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác.

Nó, sau khi thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, khi thân hoại mạng chung, thì sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.

Này các tỳ-kheo, giả sử một con bạc, ngay ván đầu thua, đã mất con, mất vợ, mất tất cả tài sản, và còn bị gông cùm thêm.


Này các tỳ-kheo, ván thua ấy là nhỏ bé, so với ván thua này:

Ván thua lớn hơn nhiều là cái này: kẻ ngu ấy thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, và khi thân hoại mạng chung thì sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.

Này các tỳ-kheo, đây là toàn bộ cảnh giới của kẻ ngu, trọn vẹn không thiếu.

Này các tỳ-kheo, có ba đặc điểm, ba dấu hiệu và ba biểu hiện của người trí.

[Chú thích: "Người trí" là paṇḍita, một từ vốn được dùng cho người có học.]

Ba là những gì?

Này các tỳ-kheo, ở đây người trí suy nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành.

Này các tỳ-kheo, nếu người trí không suy nghĩ điều lành, không nói lời lành, không làm việc lành, thì những người trí lấy gì mà biết được người ấy rằng:

"Người này là người trí, là người tốt"?

Nhưng này các tỳ-kheo, vì người trí suy nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành, nên những người trí biết được người ấy rằng:

"Người này là người trí, là người tốt".

Này các tỳ-kheo, người trí ấy trải qua ba loại an vui và hoan hỷ ngay trong đời này.

Này các tỳ-kheo, giả sử người trí đang ngồi ở hội trường, hay ngồi ở đường phố, hay ngồi ở ngã tư;

và ở đó người ta đang bàn những chuyện hợp với việc ấy.

Này các tỳ-kheo, giả sử người trí ấy không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và các chất say;

bấy giờ, này các tỳ-kheo, người trí ấy nghĩ rằng:

"Những chuyện người ta đang bàn đây là những chuyện hợp với việc ấy.

Nhưng những điều ấy đang có nơi ta, và ta cũng hiện rõ những điều ấy."

Này các tỳ-kheo, đó là loại an vui và hoan hỷ thứ nhất mà người trí trải qua ngay trong đời này.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, người trí thấy vua chúa bắt một tên trộm cướp có tội, rồi thi hành nhiều hình phạt khác nhau:

đánh bằng roi, bằng dây, bằng gậy; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; thi hành hình phạt nồi cháo, cạo vỏ sò, miệng Rāhu, vòng hoa lửa, tay cháy, bện cói, áo vỏ cây, linh dương, móc thịt, đồng tiền, nước tro ăn da, cột xoay, chiếu rơm; tưới dầu sôi lên thân, cho chó ăn thịt, dựng sống trên cọc, chém đầu bằng gươm.

Bấy giờ, này các tỳ-kheo, người trí ấy nghĩ rằng:

"Vì những ác nghiệp như thế, vua chúa bắt một tên trộm cướp có tội rồi thi hành nhiều hình phạt khác nhau: đánh bằng roi, bằng dây, bằng gậy; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; thi hành hình phạt nồi cháo, cạo vỏ sò, miệng Rāhu, vòng hoa lửa, tay cháy, bện cói, áo vỏ cây, linh dương, móc thịt, đồng tiền, nước tro ăn da, cột xoay, chiếu rơm; tưới dầu sôi lên thân, cho chó ăn thịt, dựng sống trên cọc, chém đầu bằng gươm — thì những điều ấy không có nơi ta, và ta cũng không hiện rõ những điều ấy!"

Này các tỳ-kheo, đó là loại an vui và hoan hỷ thứ hai mà người trí trải qua ngay trong đời này.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, khi người trí ngồi trên ghế, nằm trên giường, hay nằm trên đất, thì những thiện nghiệp trước đây người ấy đã làm — thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành — vào lúc ấy buông xuống trên người ấy, đổ xuống trên người ấy, trùm xuống trên người ấy.

Này các tỳ-kheo, cũng như vào buổi chiều, bóng của những đỉnh núi lớn buông xuống mặt đất, đổ xuống mặt đất, trùm xuống mặt đất.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi người trí ngồi trên ghế, nằm trên giường, hay nằm trên đất, thì những thiện nghiệp trước đây người ấy đã làm — thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành — vào lúc ấy buông xuống trên người ấy, đổ xuống trên người ấy, trùm xuống trên người ấy.

Bấy giờ, này các tỳ-kheo, người trí ấy nghĩ rằng:

"May thay, ta đã không làm điều ác, không làm điều tàn bạo, không làm điều ô uế;

còn ta đã làm điều lành, điều thiện, điều che chở khỏi sợ hãi.

Những ai đã không làm điều ác, không làm điều tàn bạo, không làm điều ô uế, mà lại làm điều lành, điều thiện, điều che chở khỏi sợ hãi — sau khi chết, họ đi đến chỗ nào, thì ta cũng sẽ đi đến chỗ ấy."

Người ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than van, không đấm ngực gào khóc, không rơi vào mê loạn.

Này các tỳ-kheo, đó là loại an vui và hoan hỷ thứ ba mà người trí trải qua ngay trong đời này.

Này các tỳ-kheo, người trí ấy, sau khi thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, khi thân hoại mạng chung, thì sinh vào cõi lành, cõi trời.

Này các tỳ-kheo, nếu có điều gì mà người nói đúng sự thật có thể nói là:

"hoàn toàn đáng ưa, hoàn toàn đáng yêu, hoàn toàn vừa ý" — thì người nói đúng sự thật sẽ nói rằng đó chính là cõi trời:

"hoàn toàn đáng ưa, hoàn toàn đáng yêu, hoàn toàn vừa ý".

Và này các tỳ-kheo, cõi trời vui đến mức khó có thể đưa ra một ví dụ để so sánh.

Khi Ngài nói như vậy, một vị tỳ-kheo bạch Đức Thế Tôn rằng:

"Bạch Thế Tôn, nhưng có thể đưa ra một ví dụ được không?"

"Có thể, này các tỳ-kheo," Đức Thế Tôn nói.

Này các tỳ-kheo, giả sử có một vị vua Chuyển luân vương có bảy báu vật và bốn sự thành tựu, nhờ đó mà cảm thọ an vui và hoan hỷ.

Bảy ấy là những gì?

Này các tỳ-kheo, ở đây, vào ngày trai giới thứ mười lăm, một vị vua thuộc giai cấp vua chúa đã làm lễ quán đảnh, sau khi gội đầu và thọ trì trai giới, đang ngồi trên tầng trên của lâu đài, thì một bánh xe báu trên trời hiện ra: có nghìn nan hoa, có vành, có trục, đầy đủ mọi bộ phận.

[Chú thích: Bánh xe ấy trước hết là mặt trời, sau đó là bánh xe của những cỗ chiến xa đã đưa người Ấn-Âu đi chinh phục. Nó là biểu hiện của một quyền lực không thể cản, và cả câu chuyện phản ánh giấc mơ của người Ấn-Âu về sự thống trị toàn cầu. So sánh Trường Bộ Kinh 17, đoạn 1.7.3, và Trường Bộ Kinh 26.]

Thấy vậy, vị vua ấy nghĩ rằng:

"Ta có nghe nói rằng: vị vua nào thuộc giai cấp vua chúa, đã làm lễ quán đảnh, vào ngày trai giới thứ mười lăm, sau khi gội đầu và thọ trì trai giới, ngồi trên tầng trên của lâu đài, mà có bánh xe báu trên trời hiện ra với nghìn nan hoa, có vành, có trục, đầy đủ mọi bộ phận, thì vị ấy là vua Chuyển luân vương.

Vậy có phải ta là vua Chuyển luân vương không?"

Rồi này các tỳ-kheo, vị vua thuộc giai cấp vua chúa đã làm lễ quán đảnh lấy một bình nước lễ bằng tay trái, rồi dùng tay phải rưới nước lên bánh xe báu và nói rằng:

[Chú thích: Nhiều chi tiết trong câu chuyện này lặp lại lễ tế ngựa của bà-la-môn; vì ngựa là nguồn gốc chính của quyền lực Ấn-Âu, lễ tế ngựa dùng để hợp thức hóa quyền lực của vua, và chỉ những vị đại đế mới dám cử hành nghi lễ tốn kém và nguy hiểm ấy. Các từ bhiṅkāra, nghĩa là bình nước lễ, và abbhukkirati, nghĩa là rưới nước, đều là những từ trang trọng.]

"Xin bánh xe báu hãy lăn tới! Xin bánh xe báu hãy chinh phục!"

Rồi này các tỳ-kheo, bánh xe báu ấy lăn về phía đông. Vua Chuyển luân vương theo sát ngay sau, cùng với bốn đạo quân. Và này các tỳ-kheo, tại chỗ nào bánh xe báu dừng lại, thì tại chỗ ấy vua Chuyển luân vương dừng chân, cùng với bốn đạo quân.

[Chú thích: Trong lễ tế ngựa, con ngựa được thả đi trong một năm, còn vua theo sau cùng quân đội, và bất cứ vùng đất nào con ngựa đi qua đều được xem là của vua.]

Và này các tỳ-kheo, những vị vua đối lập ở phương đông đến gặp vua Chuyển luân vương và nói rằng:


"Xin mời đại vương. Kính chào đại vương! Tất cả đều thuộc về đại vương. Xin đại vương chỉ dạy."

Vua Chuyển luân vương nói rằng:

"Không được giết hại chúng sinh. Không được lấy của không cho. Không được tà hạnh trong các dục. Không được nói dối. Không được uống rượu. Và hãy giữ mức thuế như cũ."

[Chú thích: Câu yathābhuttañca bhuñjatha thường được dịch là "hãy ăn", "hãy hưởng thụ" hay "hãy cai trị"; nhưng bhuñjati ở đây mang nghĩa cổ là "dùng, hưởng lợi từ đất đai", như chữ "use" trong tiếng Anh cổ. Vì vậy câu này có nghĩa là "hãy dùng như đã được dùng", tức là giữ nguyên mức thuế hiện có.]

Và này các tỳ-kheo, những vị vua đối lập ở phương đông trở thành thuộc hạ của vua Chuyển luân vương.

Rồi này các tỳ-kheo, bánh xe báu ấy lặn xuống biển phía đông, trồi lên, rồi lăn về phía nam. Vua Chuyển luân vương theo sát ngay sau, cùng với bốn đạo quân. Và này các tỳ-kheo, tại chỗ nào bánh xe báu dừng lại, thì tại chỗ ấy vua Chuyển luân vương dừng chân, cùng với bốn đạo quân. Và này các tỳ-kheo, những vị vua đối lập ở phương nam đến gặp vua Chuyển luân vương và nói rằng: "Xin mời đại vương. Kính chào đại vương! Tất cả đều thuộc về đại vương. Xin đại vương chỉ dạy." Vua Chuyển luân vương nói rằng: "Không được giết hại chúng sinh. Không được lấy của không cho. Không được tà hạnh trong các dục. Không được nói dối. Không được uống rượu. Và hãy giữ mức thuế như cũ." Và này các tỳ-kheo, những vị vua đối lập ở phương nam trở thành thuộc hạ của vua Chuyển luân vương.

[Chú thích: Bánh xe lặn xuống các biển, trong khi con ngựa trong lễ tế lại được nói là sinh ra từ biển phía tây và phía đông.]

Bánh xe báu ấy lặn xuống biển phía nam, trồi lên, rồi lăn về phía tây. Vua Chuyển luân vương theo sát ngay sau, cùng với bốn đạo quân. Và này các tỳ-kheo, tại chỗ nào bánh xe báu dừng lại, thì tại chỗ ấy vua Chuyển luân vương dừng chân, cùng với bốn đạo quân. Và này các tỳ-kheo, những vị vua đối lập ở phương tây đến gặp vua Chuyển luân vương và nói rằng: "Xin mời đại vương. Kính chào đại vương! Tất cả đều thuộc về đại vương. Xin đại vương chỉ dạy." Vua Chuyển luân vương nói rằng: "Không được giết hại chúng sinh. Không được lấy của không cho. Không được tà hạnh trong các dục. Không được nói dối. Không được uống rượu. Và hãy giữ mức thuế như cũ." Và này các tỳ-kheo, những vị vua đối lập ở phương tây trở thành thuộc hạ của vua Chuyển luân vương.

Bánh xe báu ấy lặn xuống biển phía tây, trồi lên, rồi lăn về phía bắc; vua Chuyển luân vương theo sát ngay sau, cùng với bốn đạo quân. Và này các tỳ-kheo, tại chỗ nào bánh xe báu dừng lại, thì tại chỗ ấy vua Chuyển luân vương dừng chân, cùng với bốn đạo quân.

Và này các tỳ-kheo, những vị vua đối lập ở phương bắc đến gặp vua Chuyển luân vương và nói rằng:

"Xin mời đại vương. Kính chào đại vương! Tất cả đều thuộc về đại vương. Xin đại vương chỉ dạy."

Vua Chuyển luân vương nói rằng:

"Không được giết hại chúng sinh. Không được lấy của không cho. Không được tà hạnh trong các dục. Không được nói dối. Không được uống rượu. Và hãy giữ mức thuế như cũ."

Và này các tỳ-kheo, những vị vua đối lập ở phương bắc trở thành thuộc hạ của vua Chuyển luân vương.

[Chú thích: Trong lịch sử, Ấn Độ thường bị chia thành nhiều vương quốc tranh chấp, nhưng từ rất sớm đã có giấc mơ về một lục địa thống nhất và hòa bình.]

Rồi này các tỳ-kheo, bánh xe báu ấy, sau khi chinh phục vùng đất có biển bao quanh, trở về ngay kinh đô ấy, rồi đứng yên trước cổng hậu cung của vua Chuyển luân vương, như thể được gắn vào trục xe, làm đẹp thêm cổng hậu cung của vua Chuyển luân vương.

[Chú thích: Lối nói "gắn vào trục xe" cũng được dùng cho một bánh xe bình thường trong Tăng Chi Bộ Kinh 3.15, đoạn 3.4. Đoạn này cũng có trong Trường Bộ Kinh 17, đoạn 1.11.1, và Trường Bộ Kinh 26, đoạn 7.16, với thêm chi tiết về tòa án cao.]

Này các tỳ-kheo, đó là bánh xe báu như vậy hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, voi báu hiện ra cho vua Chuyển luân vương:

toàn thân trắng, bảy chỗ đặt vững trên đất, có thần thông, đi được trên hư không, là vua voi tên Uposatha.

[Chú thích: Voi trắng là biểu tượng của vương quyền cho đến ngày nay; hình ảnh này báo trước con voi Airāvata mà Indra có được trong các truyền thuyết về sau, trắng, to lớn và đi trên hư không. Về chữ sattappatiṭṭha, chú giải giảng là "các chi phần đều đặt vững vàng", và điều này được xác nhận bởi một bản Phạn ngữ nói "vững vàng trên bảy chi". Phụ chú liệt kê bốn chân, vòi, đuôi và dương vật.]

Thấy vậy, lòng vua Chuyển luân vương hoan hỷ:

"Thật là một cỗ xe voi tốt đẹp thay, nếu nó chịu điều phục!"

Rồi này các tỳ-kheo, voi báu ấy chịu điều phục, cũng như một con voi thuần chủng tốt đã được điều phục từ lâu.

Này các tỳ-kheo, thuở xưa, vua Chuyển luân vương muốn thử voi báu ấy, bèn lên voi vào buổi sáng, đi khắp vùng đất có biển bao quanh, rồi trở về ngay kinh đô ấy và dùng bữa sáng.

Này các tỳ-kheo, đó là voi báu như vậy hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, ngựa báu hiện ra cho vua Chuyển luân vương:

toàn thân trắng, đầu đen, bờm như cỏ muñja, có thần thông, đi được trên hư không, là vua ngựa tên Valāhaka.

[Chú thích: Con ngựa trong lễ tế cũng trắng với đầu hoặc nửa thân trước màu đen; nó được đồng nhất với mặt trời, nên đi được trên hư không. Valāhaka, nghĩa là "mây sấm", là tên một trong bốn con ngựa kéo xe của Kṛṣṇa trong Mahābhārata, và hình ảnh ở đây cũng gợi nhớ con ngựa thiêng uccaiḥśravas của Vệ-đà.]

Thấy vậy, lòng vua Chuyển luân vương hoan hỷ:

"Thật là một cỗ xe ngựa tốt đẹp thay, nếu nó chịu điều phục!"

Rồi này các tỳ-kheo, ngựa báu ấy chịu điều phục, cũng như một con ngựa thuần chủng tốt đã được điều phục từ lâu.

Này các tỳ-kheo, thuở xưa, vua Chuyển luân vương muốn thử ngựa báu ấy, bèn lên ngựa vào buổi sáng, đi khắp vùng đất có biển bao quanh, rồi trở về ngay kinh đô ấy và dùng bữa sáng.

Này các tỳ-kheo, đó là ngựa báu như vậy hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, ngọc báu hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Đó là một viên ngọc veḷuriya, đẹp, tự nhiên trong sáng, tám cạnh, được mài giũa khéo léo.

Và này các tỳ-kheo, ánh sáng của viên ngọc báu ấy tỏa ra chung quanh một do-tuần.

Này các tỳ-kheo, thuở xưa, vua Chuyển luân vương muốn thử viên ngọc báu ấy, bèn sắp đặt bốn đạo quân, treo viên ngọc lên đầu ngọn cờ, rồi lên đường trong đêm tối dày đặc.

Và này các tỳ-kheo, dân chúng ở các làng chung quanh, nhờ ánh sáng ấy, liền ra đồng làm việc, tưởng rằng trời đã sáng.

Này các tỳ-kheo, đó là ngọc báu như vậy hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, nữ báu hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Nàng đẹp, dễ nhìn, khả ái, có dung sắc tuyệt vời; không quá cao, không quá thấp, không quá gầy, không quá mập, không quá đen, không quá trắng; nàng vượt hẳn dung sắc loài người nhưng chưa bằng dung sắc chư thiên.

Và này các tỳ-kheo, xúc chạm nơi thân nàng giống như bông gòn hay bông vải.

Và này các tỳ-kheo, khi trời lạnh thì thân nàng ấm, khi trời nóng thì thân nàng mát.

Và này các tỳ-kheo, từ thân nàng tỏa ra mùi trầm hương, từ miệng nàng tỏa ra mùi sen xanh.

Và này các tỳ-kheo, nàng dậy trước vua và đi ngủ sau vua, siêng năng làm mọi việc, cư xử dịu dàng, nói lời dễ thương.

Và này các tỳ-kheo, nàng không phản bội vua Chuyển luân vương dù chỉ trong ý, huống chi là nơi thân.

Này các tỳ-kheo, đó là nữ báu như vậy hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, gia chủ báu hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Người ấy có thiên nhãn do quả của nghiệp sinh ra, nhờ đó thấy được các kho báu, cả kho có chủ lẫn kho không chủ.

Người ấy đến gặp vua Chuyển luân vương và nói rằng:

"Xin đại vương cứ an nhàn. Tôi sẽ lo việc tiền bạc cho đại vương."

Này các tỳ-kheo, thuở xưa, vua Chuyển luân vương muốn thử gia chủ báu ấy, bèn lên thuyền, cho thuyền ra giữa dòng sông Gaṅgā (Hằng Hà), rồi nói với gia chủ báu ấy rằng:

"Này gia chủ, ta cần vàng đã đúc và vàng chưa đúc."

"Vậy thì, thưa đại vương, xin cho thuyền ghé vào một bờ."

"Này gia chủ, ta cần vàng đã đúc và vàng chưa đúc ngay tại đây."


Rồi này các tỳ-kheo, gia chủ báu ấy nhúng cả hai tay vào nước, kéo lên một cái ghè đầy vàng đã đúc và vàng chưa đúc, rồi nói với vua Chuyển luân vương rằng:

"Như vậy đã đủ chưa, thưa đại vương? Như vậy đã làm đủ chưa, thưa đại vương? Như vậy đã dâng đủ chưa, thưa đại vương?"

Vua Chuyển luân vương nói rằng:

"Như vậy là đủ, này gia chủ. Như vậy là đã làm đủ, này gia chủ. Như vậy là đã dâng đủ, này gia chủ."

Này các tỳ-kheo, đó là gia chủ báu như vậy hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, tướng báu hiện ra cho vua Chuyển luân vương:

người ấy thông minh, khéo léo, có trí tuệ, có khả năng đưa người cần đưa đến gặp vua Chuyển luân vương, đưa người cần đưa đi, và giữ lại bên mình người cần giữ lại.

Người ấy đến gặp vua Chuyển luân vương và nói rằng:

"Xin đại vương cứ an nhàn. Tôi sẽ lo việc chỉ dạy."

Này các tỳ-kheo, đó là tướng báu như vậy hiện ra cho vua Chuyển luân vương.

Này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương có được bảy báu vật ấy.

Bốn sự thành tựu là những gì?

[Chú thích: "Sự thành tựu" là iddhi, một từ thường có nghĩa là "thần thông".]

Này các tỳ-kheo, ở đây vua Chuyển luân vương đẹp, dễ nhìn, khả ái, có dung sắc tuyệt vời, hơn hẳn những người khác.

Này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương có được sự thành tựu thứ nhất ấy.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương sống lâu, trường thọ, hơn hẳn những người khác.

Này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương có được sự thành tựu thứ hai ấy.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương ít bệnh, ít tật, có sự tiêu hóa tốt, không quá lạnh cũng không quá nóng, hơn hẳn những người khác.

Này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương có được sự thành tựu thứ ba ấy.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương được các bà-la-môn và gia chủ yêu mến, vừa lòng,

[Chú thích: "Gia chủ" là nghĩa đen của gahapati, chỉ những người chủ đất. Vì vậy "các bà-la-môn và gia chủ", chứ không phải "các gia chủ bà-la-môn", là tầng lớp giàu có thời ấy.]

cũng như người cha được các con yêu mến, vừa lòng;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương được các bà-la-môn và gia chủ yêu mến, vừa lòng.

Và này các tỳ-kheo, các bà-la-môn và gia chủ cũng yêu mến, vừa lòng vua Chuyển luân vương,

cũng như các con được cha yêu mến, vừa lòng;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, các bà-la-môn và gia chủ yêu mến, vừa lòng vua Chuyển luân vương.

Này các tỳ-kheo, thuở xưa, vua Chuyển luân vương cùng bốn đạo quân đi đến một khu vườn.

Rồi này các tỳ-kheo, các bà-la-môn và gia chủ đến gặp vua Chuyển luân vương và nói rằng:

"Xin đại vương đi chậm lại, để chúng tôi được nhìn thấy đại vương lâu hơn."

Và này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương cũng gọi người đánh xe lại:

"Này người đánh xe, hãy cho xe đi chậm lại, để các bà-la-môn và gia chủ nhìn ta được lâu hơn."

Này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương có được sự thành tựu thứ tư ấy.

Này các tỳ-kheo, vua Chuyển luân vương có được bốn sự thành tựu ấy.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao?

Một vị vua Chuyển luân vương có bảy báu vật và bốn sự thành tựu ấy, có cảm thọ an vui và hoan hỷ do nhân ấy không?

"Bạch Thế Tôn, chỉ cần có được một báu vật thôi, vua Chuyển luân vương đã cảm thọ an vui và hoan hỷ do nhân ấy rồi, huống chi là có bảy báu vật và bốn sự thành tựu!"

Rồi Đức Thế Tôn nhặt một hòn đá nhỏ bằng bàn tay, gọi các tỳ-kheo:

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao?

Cái nào lớn hơn: hòn đá nhỏ bằng bàn tay mà ta vừa nhặt lên, hay núi Himavā, vua của các ngọn núi?

"Bạch Thế Tôn, hòn đá nhỏ bằng bàn tay mà Đức Thế Tôn nhặt lên thật là bé nhỏ. So với núi Himavā, vua của các ngọn núi, nó không đáng kể, không đáng một phần nhỏ, không thể so sánh được."

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, an vui và hoan hỷ mà vua Chuyển luân vương cảm thọ nhờ bảy báu vật và bốn sự thành tựu ấy, so với an vui cõi trời, thì không đáng kể, không đáng một phần nhỏ, không thể so sánh được.

Này các tỳ-kheo, nếu người trí ấy, sau một quãng thời gian rất dài, có khi nào trở lại làm người, thì người ấy sẽ sinh vào những gia đình cao quý:

gia đình đại phú của giới vua chúa, gia đình đại phú của bà-la-môn, hay gia đình đại phú của gia chủ; người ấy sinh vào một gia đình như vậy: giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, nhiều vàng bạc, nhiều đồ dùng, nhiều tiền của và lúa gạo.

Người ấy lại đẹp, dễ nhìn, khả ái, có dung sắc tuyệt vời; được ăn, uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm và phấn sáp, giường, nhà ở và đèn đuốc.

Người ấy thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành.

Người ấy, sau khi thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, khi thân hoại mạng chung, thì sinh vào cõi lành, cõi trời.

Này các tỳ-kheo, giả sử một con bạc, ngay ván đầu thắng, đã thắng được một món tiền lớn.

Này các tỳ-kheo, ván thắng ấy là nhỏ bé, so với ván thắng này:

Ván thắng lớn hơn nhiều là cái này: người trí ấy thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, và khi thân hoại mạng chung thì sinh vào cõi lành, cõi trời.

Này các tỳ-kheo, đây là toàn bộ cảnh giới của người trí, trọn vẹn không thiếu.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.


Kinh Kẻ Ngu và Người Trí hoàn tất, bài thứ chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →