buppou

Trung Bộ Kinh · bài 130/152

Kinh Sứ Giả Của Thần Chết

Devadūta Sutta — bài kinh về những sứ giả của Thần Chết nhắc con người nhớ đến cái chết

27 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Sứ Giả Của Thần Chết (Devadūta Sutta) là bài kinh thứ 130 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại tu viện trong rừng Jeta, gần thành Sāvatthī, nơi Đức Thế Tôn đang trú cùng Tăng đoàn. Mở đầu, Ngài đưa ra một hình ảnh rất đơn giản: giả sử có hai ngôi nhà đều có cửa, một người sáng mắt đứng ở giữa sẽ thấy rõ người ta đi vào nhà này, đi ra khỏi nhà kia, đi tới đi lui. Rồi Ngài nói: với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt thường, Ngài cũng thấy chúng sinh đang chết và đang sinh, và hiểu rằng ai nấy đi theo nghiệp của chính mình.

Phần lớn bài kinh là một cảnh thẩm vấn. Sau khi chết, người làm điều ác bị các ngục tốt dẫn đến trước vua Yama. Vị vua này lần lượt hỏi về năm "sứ giả của Thần Chết" đã xuất hiện giữa loài người: một đứa bé nằm trong nước tiểu và phân của chính nó, một người già lưng còng chống gậy, một người bệnh nằm liệt, một tên trộm bị vua chúa hành hạ đủ kiểu, và một xác chết đã sình trương. Đó là năm điều ai cũng đã từng thấy. Câu hỏi của vua Yama vì thế không phải là câu hỏi về kiến thức, mà là câu hỏi về sự tỉnh thức: thấy những điều ấy rồi, tại sao không tự nhủ rằng mình cũng mang bản chất sinh, già, bệnh, chết, và không lo làm điều lành?

Người bị thẩm vấn chỉ biết trả lời rằng mình đã buông lung, đã không thể làm điều lành. Vua Yama bèn nói một câu làm nên trọng lượng của cả bài kinh: ác nghiệp ấy không do mẹ làm, không do cha làm, không do anh chị em, bạn bè, họ hàng, sa-môn, bà-la-môn hay chư thiên làm; chính người ấy đã làm và chính người ấy sẽ cảm thọ quả báo. Nói xong, vị vua im lặng, và các ngục tốt bắt đầu thi hành hình phạt.

Phần mô tả hình phạt chiếm gần nửa bài, với những hình ảnh dữ dội được lặp đi lặp lại: đóng năm cọc sắt vào hai tay, hai chân và giữa ngực, bổ bằng rìu, dựng ngược, cột vào xe kéo qua nền đất cháy, ném lên núi than hồng, luộc trong nồi đồng đỏ. Tiếp đến là Đại địa ngục bốn góc bốn cửa, tường sắt, lửa từ mọi phía đập vào nhau. Có những lúc cửa địa ngục mở ra sau một thời gian rất dài, người ấy chạy hết sức về phía ấy, da thịt gân xương đều cháy, nhưng vừa đến gần thì cửa đóng sầm lại. Rồi lần lượt là Địa ngục Phân, Địa ngục Trấu Cháy, Rừng Cây Bông Gòn Đỏ, Rừng Lá Gươm và sông Nước Chua, mỗi nơi là một kiểu đau đớn khác nhau.

Điều đáng chú ý là bài kinh không kết thúc bằng nỗi sợ. Sau khi tả hết các hình phạt, Đức Thế Tôn kể rằng chính vua Yama cũng từng ước được sinh làm người, được gặp một Như Lai và được nghe Pháp. Rồi Ngài khẳng định Ngài không nói những điều này vì nghe người khác kể, mà vì chính Ngài đã tự biết, tự thấy, tự chứng nghiệm. Bài kệ cuối cùng vì thế là một lời mời chứ không phải một lời đe: ai biết tỉnh thức trước những sứ giả ấy thì không buông lung, thấy sự nguy hiểm của chấp thủ, và đi đến chỗ an ổn ngay trong đời này.

Với người chưa quen với kinh điển, có thể đọc bài kinh này theo hai lớp. Lớp thứ nhất là câu chuyện về công lý sau cái chết, được kể bằng những hình ảnh mà người Ấn Độ cổ đại rất quen thuộc. Lớp thứ hai là một lời nhắc rất đời thường: sinh, già, bệnh, chết và hình phạt đang diễn ra trước mắt mỗi ngày, và mỗi người có thể dùng chúng như những tiếng chuông để sống cho cẩn thận hơn. Bài kinh không bảo người ta sợ hãi, mà bảo người ta nhìn cho rõ điều mình đang có và điều mình đang làm.


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này được đặt trong khung ngụ ngôn về những sứ giả của chư thiên, tức những điềm báo của cái chết, và mở rộng phần mô tả thiên nhãn thanh tịnh, đặc biệt chú trọng những nỗi khổ nơi địa ngục. Đây là một bài giảng rất phổ biến, có tới sáu bản Hán tương ứng và nhiều chỗ được dẫn trong văn học Sanskrit.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, ví như có hai ngôi nhà có cửa, và một người sáng mắt đứng ở giữa, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi tới đi lui.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn con mắt của loài người, ta thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh, kẻ hèn kém, bậc cao quý, người xinh đẹp, kẻ xấu xí, người đi đến cõi vui, kẻ đi đến cõi khổ; ta biết rõ các chúng sinh ấy đi theo nghiệp của mình: "Những chúng sinh này quả thật đã thành tựu thiện hạnh về thân, thành tựu thiện hạnh về miệng, thành tựu thiện hạnh về ý, không chê bai các bậc thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi lành, cõi trời. Những chúng sinh này quả thật đã thành tựu thiện hạnh về thân, thành tựu thiện hạnh về miệng, thành tựu thiện hạnh về ý, không chê bai các bậc thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào giữa loài người. Những chúng sinh này quả thật đã thành tựu ác hạnh về thân, thành tựu ác hạnh về miệng, thành tựu ác hạnh về ý, chê bai các bậc thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi ngạ quỷ (pettivisaya). Những chúng sinh này quả thật đã thành tựu ác hạnh về thân, thành tựu ác hạnh về miệng, thành tựu ác hạnh về ý, chê bai các bậc thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào loài thú. Những chúng sinh này quả thật đã thành tựu ác hạnh về thân, thành tựu ác hạnh về miệng, thành tựu ác hạnh về ý, chê bai các bậc thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục."

Rồi này các tỳ-kheo, các ngục tốt của địa ngục nắm lấy người ấy ở hai cánh tay, dẫn đến trước vua Yama (Diêm Vương) và nói:

[Chú thích: Có một tập hợp tín ngưỡng về địa ngục chung cho Phật giáo, Ấn Độ giáo và Kỳ-na giáo, gồm những điểm như: địa ngục lâu dài nhưng không thường hằng, có nhiều địa ngục được đặt tên, hình phạt ghê gớm và đa dạng, hình phạt do nghiệp quyết định, và sự hành hạ do các ngục tốt thi hành. Bài kinh này hình như là bản tường thuật đầy đủ sớm nhất về tập hợp ấy trong văn học Ấn Độ.]

"Tâu Đại vương, người này đã không hiếu kính với mẹ, không hiếu kính với cha, không kính trọng sa-môn, không kính trọng bà-la-môn, không biết tôn kính những người lớn tuổi trong gia đình.

Xin Đại vương trừng phạt người này."

Rồi này các tỳ-kheo, vua Yama tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ nhất của Thần Chết:

"Này người kia, ông có thấy sứ giả thứ nhất của Thần Chết xuất hiện giữa loài người không?"

[Chú thích: Những sứ giả ấy xuất hiện để nhắc nhở về sự nguy hiểm của cái chết. Ở đây có năm sứ giả là sinh, già, bệnh, hình phạt và cái chết, trong khi Tăng Chi Bộ Kinh 3.36 chỉ nêu ba là già, bệnh và chết; còn ở Trung Bộ Kinh 83 chỉ có một, là những sợi tóc bạc của tuổi già.]

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi không thấy gì."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông có thấy giữa loài người một đứa bé nhỏ, còn non, nằm ngửa, mình đầy nước tiểu và phân của chính nó không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi có thấy."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông là người hiểu biết và đã trưởng thành, mà ông không tự nghĩ rằng:

'Ta cũng mang bản chất sinh, không thoát khỏi sinh. Vậy ta hãy làm điều lành bằng thân, miệng và ý' hay sao?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi đã không thể; tôi đã buông lung."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, vì ông đã buông lung, ông đã không làm điều lành bằng thân, miệng và ý.

Này người kia, quả thật người ta sẽ xử với ông đúng như một kẻ buông lung.

Ác nghiệp ấy không do mẹ làm, không do cha làm, không do anh trai làm, không do chị gái làm, không do bạn bè thân hữu làm, không do họ hàng thân tộc làm, không do sa-môn bà-la-môn làm, không do chư thiên làm. Chính ông đã làm ác nghiệp ấy, và chính ông sẽ cảm thọ quả báo của nó."

Sau khi tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ nhất của Thần Chết, vua Yama tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ hai của Thần Chết:

"Này người kia, ông có thấy sứ giả thứ hai của Thần Chết xuất hiện giữa loài người không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi không thấy gì."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông có thấy giữa loài người một người nữ hay một người nam tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, già nua, lưng còng như xà nhà, khom xuống, chống gậy, run rẩy bước đi, ốm yếu, đã qua thời thanh xuân, răng rụng, tóc bạc, thưa, đầu hói, da nhăn nheo, thân mình đầy vết đồi mồi không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi có thấy."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông là người hiểu biết và đã trưởng thành, mà ông không tự nghĩ rằng:

'Ta cũng mang bản chất già, không thoát khỏi già. Vậy ta hãy làm điều lành bằng thân, miệng và ý' hay sao?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi đã không thể; tôi đã buông lung."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, vì ông đã buông lung, ông đã không làm điều lành bằng thân, miệng và ý.

Này người kia, quả thật người ta sẽ xử với ông đúng như một kẻ buông lung.

Ác nghiệp ấy không do mẹ làm, không do cha làm, không do anh trai làm, không do chị gái làm, không do bạn bè thân hữu làm, không do họ hàng thân tộc làm, không do sa-môn bà-la-môn làm, không do chư thiên làm. Chính ông đã làm ác nghiệp ấy, và chính ông sẽ cảm thọ quả báo của nó."

Sau khi tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ hai của Thần Chết, vua Yama tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ ba của Thần Chết:

"Này người kia, ông có thấy sứ giả thứ ba của Thần Chết xuất hiện giữa loài người không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi không thấy gì."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông có thấy giữa loài người một người nữ hay một người nam bệnh tật, đau khổ, ốm nặng, mình đầy nước tiểu và phân của chính mình, được người khác nâng lên, được người khác đặt nằm xuống không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi có thấy."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông là người hiểu biết và đã trưởng thành, mà ông không tự nghĩ rằng:

'Ta cũng mang bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh.

Vậy ta hãy làm điều lành bằng thân, miệng và ý' hay sao?" Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi đã không thể; tôi đã buông lung."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, vì ông đã buông lung, ông đã không làm điều lành bằng thân, miệng và ý.

Này người kia, quả thật người ta sẽ xử với ông đúng như một kẻ buông lung.

Ác nghiệp ấy không do mẹ làm, không do cha làm, không do anh trai làm, không do chị gái làm, không do bạn bè thân hữu làm, không do họ hàng thân tộc làm, không do sa-môn bà-la-môn làm, không do chư thiên làm. Chính ông đã làm ác nghiệp ấy, và chính ông sẽ cảm thọ quả báo của nó."

Sau khi tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ ba của Thần Chết, vua Yama tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ tư của Thần Chết:

"Này người kia, ông có thấy sứ giả thứ tư của Thần Chết xuất hiện giữa loài người không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi không thấy gì."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông có thấy giữa loài người, khi các vua bắt một tên trộm cướp có tội và thi hành nhiều hình phạt khác nhau:

đánh bằng roi, đánh bằng dây, đánh bằng gậy; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; thi hành hình phạt nồi cháo, cạo vỏ sò, miệng Rāhu, vòng hoa lửa, tay cháy, bện cói, áo vỏ cây, linh dương, móc thịt, đồng tiền, nước tro ăn da, cột xoay, chiếu rơm; tưới dầu sôi lên thân, cho chó ăn thịt, dựng sống trên cọc, chém đầu bằng gươm không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi có thấy."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông là người hiểu biết và đã trưởng thành, mà ông không tự nghĩ rằng:

'Hóa ra những ai làm việc ác thì ngay trong đời này đã bị những hình phạt đa dạng như thế này; huống gì ở đời sau. Vậy ta hãy làm điều lành bằng thân, miệng và ý' hay sao?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi đã không thể; tôi đã buông lung."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, vì ông đã buông lung, ông đã không làm điều lành bằng thân, miệng và ý.

Này người kia, quả thật người ta sẽ xử với ông đúng như một kẻ buông lung.

Ác nghiệp ấy không do mẹ làm, không do cha làm, không do anh trai làm, không do chị gái làm, không do bạn bè thân hữu làm, không do họ hàng thân tộc làm, không do sa-môn bà-la-môn làm, không do chư thiên làm. Chính ông đã làm ác nghiệp ấy, và chính ông sẽ cảm thọ quả báo của nó."

Sau khi tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ tư của Thần Chết, vua Yama tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ năm của Thần Chết:

"Này người kia, ông có thấy sứ giả thứ năm của Thần Chết xuất hiện giữa loài người không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi không thấy gì."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông có thấy giữa loài người một người nữ hay một người nam chết đã một ngày, hai ngày hay ba ngày, thân sình trương, tím bầm, rỉ mủ hôi thối không?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi có thấy."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, ông là người hiểu biết và đã trưởng thành, mà ông không tự nghĩ rằng:

'Ta cũng mang bản chất chết, không thoát khỏi chết. Vậy ta hãy làm điều lành bằng thân, miệng và ý' hay sao?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi đã không thể; tôi đã buông lung."

Vua Yama nói với người ấy:

"Này người kia, vì ông đã buông lung, ông đã không làm điều lành bằng thân, miệng và ý.

Này người kia, quả thật người ta sẽ xử với ông đúng như một kẻ buông lung.

Ác nghiệp ấy không do mẹ làm, không do cha làm, không do anh trai làm, không do chị gái làm, không do bạn bè thân hữu làm, không do họ hàng thân tộc làm, không do sa-môn bà-la-môn làm, không do chư thiên làm. Chính ông đã làm ác nghiệp ấy, và chính ông sẽ cảm thọ quả báo của nó."

Sau khi tra hỏi, gạn hỏi, chất vấn người ấy về sứ giả thứ năm của Thần Chết, vua Yama im lặng.

Rồi này các tỳ-kheo, các ngục tốt thi hành trên người ấy một hình phạt gọi là đóng năm cọc sắt:

[Chú thích: Lịch sử địa ngục ở Ấn Độ bắt đầu từ Rig Veda, nơi nói những kẻ làm ác phải chịu cảnh tối tăm không đáy; các văn bản Bà-la-môn cổ chỉ đặt những cực hình ấy ở một vùng của thế giới bên kia chứ chưa thành một cõi địa ngục riêng. Mãi đến văn học Purāṇa về sau, những mô tả địa ngục rùng rợn mới trở thành nét chuẩn mực, và một số nơi được nêu trong bài kinh này tương ứng với các địa ngục trong Purāṇa.]

Họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào bàn tay, một cọc nữa vào bàn tay thứ hai, một cọc nữa vào bàn chân, một cọc nữa vào bàn chân thứ hai, và một cọc nữa vào giữa ngực.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

[Chú thích: Ý niệm rằng chịu khổ như thế mà không chết cũng thấy trong Bhāgavata Purāṇa 5.26.28 và Sūtrakṛtāṅga 1.5.1.16. Tuổi thọ trong địa ngục được minh họa qua câu chuyện Kokālika (Tương Ưng Bộ 6.10, tương đương Tăng Chi Bộ 10.89).]

Các ngục tốt quật ngã người ấy xuống và bổ bằng rìu. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

[Chú thích: Có thể so sánh Brahma Purāṇa 106.40–41.]

Các ngục tốt nắm lấy người ấy, dựng ngược đầu xuống, chân lên trời, rồi chặt bằng rìu nhỏ. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

[Chú thích: Có thể so sánh Śiva Purāṇa 5.9.26 và Devī Bhāgavata Purāṇa 8.23; Viṣṇu Purāṇa 2.63 có một địa ngục riêng gọi là Địa ngục Úp Ngược.]

Các ngục tốt cột người ấy vào cỗ xe, rồi kéo đi kéo lại trên mặt đất đang cháy rực, bùng lên, tỏa sáng. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Các ngục tốt bắt người ấy trèo lên rồi trèo xuống một ngọn núi than hồng lớn đang cháy rực, bùng lên, tỏa sáng. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Các ngục tốt nắm lấy người ấy, dựng ngược đầu xuống, chân lên trời, rồi ném vào một cái nồi đồng nung đỏ, đang cháy rực, bùng lên, tỏa sáng.

[Chú thích: Có thể so sánh Agni Purāṇa 307.25 và Śiva Purāṇa 5.9.9, 34, 44.]

Ở đó, người ấy bị nấu chín đến mức bọt sôi trào lên.

Đang bị nấu chín và bọt trào lên như vậy, người ấy có lúc nổi lên trên, có lúc chìm xuống dưới, có lúc trôi ngang.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Các ngục tốt ném người ấy vào Đại địa ngục.

Này các tỳ-kheo, Đại địa ngục ấy thế này:

Bốn góc, bốn cửa,

chia phần đều nhau, đo đạc cân xứng;

Bao quanh bằng tường sắt,

mái cũng bằng sắt.

Nền của nó cũng bằng sắt,

cháy rực, mang đầy sức nóng;

[Chú thích: Địa ngục Kālasūtra được nói là làm bằng đồng đang cháy trong Bhāgavata Purāṇa 5.26.14.]

tỏa ra một trăm do-tuần khắp mọi phía,

và luôn luôn bao trùm tất cả.

Này các tỳ-kheo, trong Đại địa ngục ấy, lửa từ bức tường phía đông bùng lên và đập vào bức tường phía tây; lửa từ bức tường phía tây bùng lên và đập vào bức tường phía đông; lửa từ bức tường phía bắc bùng lên và đập vào bức tường phía nam; lửa từ bức tường phía nam bùng lên và đập vào bức tường phía bắc; lửa từ dưới bùng lên và đập vào phía trên; lửa từ trên bùng xuống và đập vào phía dưới.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Có lúc, này các tỳ-kheo, sau khi một thời gian rất dài đã trôi qua, cửa phía đông của Đại địa ngục ấy mở ra.

Người ấy chạy hết tốc lực về phía ấy.

[Chú thích: Bhāgavata Purāṇa 5.26.15 mô tả kẻ làm ác chạy cuống cuồng trong đau đớn để tìm lối thoát.]

Khi người ấy chạy nhanh như vậy, lớp da ngoài bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói; người ấy chỉ thoát ra được chừng ấy.

[Chú thích: Có thể so sánh Śiva Purāṇa 5.9.37.]

Nhưng khi người ấy đã đến gần cửa, thì cánh cửa ấy đóng sầm lại.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Có lúc, này các tỳ-kheo, sau khi một thời gian rất dài đã trôi qua, cửa phía tây của Đại địa ngục ấy mở ra. Người ấy chạy hết tốc lực về phía ấy. Khi người ấy chạy nhanh như vậy, lớp da ngoài bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói; người ấy chỉ thoát ra được chừng ấy. Nhưng khi người ấy đã đến gần cửa, thì cánh cửa ấy đóng sầm lại. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Có lúc, này các tỳ-kheo, sau khi một thời gian rất dài đã trôi qua, cửa phía bắc của Đại địa ngục ấy mở ra. Người ấy chạy hết tốc lực về phía ấy. Khi người ấy chạy nhanh như vậy, lớp da ngoài bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói; người ấy chỉ thoát ra được chừng ấy. Nhưng khi người ấy đã đến gần cửa, thì cánh cửa ấy đóng sầm lại. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Có lúc, này các tỳ-kheo, sau khi một thời gian rất dài đã trôi qua, cửa phía nam của Đại địa ngục ấy mở ra.

Người ấy chạy hết tốc lực về phía ấy.

Khi người ấy chạy nhanh như vậy, lớp da ngoài bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói; người ấy chỉ thoát ra được chừng ấy.

Nhưng khi người ấy đã đến gần cửa, thì cánh cửa ấy đóng sầm lại.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Có lúc, này các tỳ-kheo, sau khi một thời gian rất dài đã trôi qua, cửa phía đông của Đại địa ngục ấy mở ra.

Người ấy chạy hết tốc lực về phía ấy.

Khi người ấy chạy nhanh như vậy, lớp da ngoài bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói; người ấy chỉ thoát ra được chừng ấy.

Người ấy thoát ra qua cánh cửa ấy.

Này các tỳ-kheo, ngay sát Đại địa ngục ấy là một Địa ngục Phân rộng lớn.

Người ấy rơi xuống đó.

Trong Địa ngục Phân ấy, có những chúng sinh miệng như kim châm; chúng đâm thủng lớp da ngoài, đâm thủng lớp da ngoài rồi cắt lớp da trong, cắt lớp da trong rồi cắt thịt, cắt thịt rồi cắt gân, cắt gân rồi cắt xương, cắt xương rồi ăn tủy xương.

[Chú thích: Miệng kim châm (sūcimukha) là một trong 28 địa ngục của Purāṇa, dành cho những kẻ keo kiệt, nơi họ bị khâu lại như vải. Śiva Purāṇa 5.9.42–43 kể rằng những kẻ làm ác bị lũ sâu răng nhọn ăn khi đang thối rữa trong đống thịt.]

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, ngay sát Địa ngục Phân ấy là một Địa ngục Trấu Cháy rộng lớn.

[Chú thích: Đốt gốc rạ còn lại vẫn là một tập tục phổ biến ở Ấn Độ, và việc ấy thật sự tạo ra những điều kiện như địa ngục.]

Người ấy rơi xuống đó.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, ngay sát Địa ngục Trấu Cháy ấy là một Rừng Cây Bông Gòn Đỏ rộng lớn, cao một do-tuần, đầy những gai dài mười sáu ngón tay, đang cháy rực, bùng lên, tỏa sáng.

[Chú thích: Rừng Cây Bông Gòn Đỏ (simbalivana) là một trong 28 địa ngục; cây bông gòn đỏ có thân đầy gai nhọn, giẫm lên có thể bị nhiễm trùng. Địa ngục này và địa ngục kế tiếp phản ánh nỗi khổ của việc vật lộn qua những khu rừng rậm gai góc.]

Ở đó, các ngục tốt bắt người ấy trèo lên rồi trèo xuống.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, ngay sát Rừng Cây Bông Gòn Đỏ ấy là một Rừng Lá Gươm rộng lớn.

[Chú thích: Rừng Lá Gươm (asipattavana) cũng là một trong 28 địa ngục, dành cho những kẻ phá rừng; có bản nói đó là quả báo của kẻ giết mẹ, có bản nói là của kẻ lìa bỏ kinh Veda.]

Người ấy đi vào đó.

Những chiếc lá bị gió thổi rơi xuống, cắt tay người ấy, cắt chân, cắt cả tay lẫn chân, cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Này các tỳ-kheo, ngay sát Rừng Lá Gươm ấy là một con sông Nước Chua rộng lớn.

[Chú thích: Sông Nước Chua (khārodakā nadī) cũng là một trong 28 địa ngục của Purāṇa.]

Người ấy rơi xuống đó.

Ở đó, người ấy bị cuốn xuôi dòng, bị cuốn ngược dòng, bị cuốn cả xuôi lẫn ngược dòng.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Các ngục tốt kéo người ấy lên bằng một cái móc, dựng người ấy đứng trên mặt đất, và nói:

"Này người kia, ông muốn gì?"

[Chú thích: Có thể so sánh Brahma Purāṇa 106.25–32.]

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi đói."

Các ngục tốt dùng một cái đinh sắt nung đỏ để mở miệng người ấy ra, rồi nhét vào miệng người ấy một viên sắt tròn nung đỏ, đang cháy rực, bùng lên, tỏa sáng.

[Chú thích: Có thể so sánh Śiva Purāṇa 5.9.45.]

Viên ấy đốt cháy môi, miệng, cổ họng và ngực của người ấy, rồi kéo theo ruột và màng ruột thoát ra ở phía dưới.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Các ngục tốt nói:

"Này người kia, ông muốn gì?"

Người ấy nói rằng:

"Tâu Đại vương, tôi khát."

Các ngục tốt dùng đinh sắt nung đỏ mở miệng người ấy ra, rồi đổ vào miệng đồng nấu chảy, đang cháy rực, bùng lên, tỏa sáng.

[Chú thích: Đồ uống bằng sắt (ayaḥpāna) là một địa ngục khác của Purāṇa.]

Nó đốt cháy môi, miệng, cổ họng và ngực của người ấy, rồi kéo theo ruột và màng ruột thoát ra ở phía dưới.

Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác khổ, nhức nhối, khốc liệt, chua xót; nhưng chưa chết cho đến khi ác nghiệp ấy chấm dứt.

Các ngục tốt lại ném người ấy vào Đại địa ngục.

Thuở xưa, này các tỳ-kheo, vua Yama nghĩ rằng:

"Hóa ra những ai trên đời làm những việc ác, bất thiện thì phải chịu những hình phạt đa dạng như thế này.

Ước gì ta được sinh làm người! Ước gì một Như Lai xuất hiện trên đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác! Ước gì ta được hầu hạ Đức Thế Tôn ấy!

Ước gì Đức Thế Tôn ấy thuyết Pháp cho ta, và ta hiểu được Pháp của Đức Thế Tôn ấy!"

"Này các tỳ-kheo, ta không nói điều ấy vì đã nghe từ một sa-môn hay bà-la-môn nào khác; mà ta nói điều ấy vì chính ta đã tự biết, tự thấy, tự chứng nghiệm."

[Chú thích: Câu này chỉ có trong bản Pali; các bản Hán tuy khác chữ nhưng cũng đều nói đến thiên nhãn của Đức Thế Tôn.]

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Sau khi nói như vậy, bậc Thiện thệ, bậc Đạo sư, lại nói thêm:

"Bị các sứ giả của Thần Chết nhắc nhở,

những người buông lung ở đời

sẽ sầu khổ trong một thời gian dài,

khi sinh vào thân phận thấp hèn.

Còn những người hiền lành, chân thật ở đời này,

khi được các sứ giả của Thần Chết nhắc nhở,

thì không bao giờ buông lung

trong Pháp của bậc Thánh.

Thấy sự nguy hiểm trong chấp thủ,

trong nguồn gốc của sinh và tử,

họ giải thoát, không còn chấp thủ,

khi sinh và tử được đoạn tận.

Họ an lạc, đã đến nơi an ổn,

đã lắng dịu ngay trong đời này;

đã vượt qua mọi thù oán và sợ hãi,

đã vượt qua tất cả khổ đau."

Kinh Sứ Giả Của Thần Chết hoàn tất, bài thứ mười.

Phẩm Suññatavagga hoàn tất, phẩm thứ ba.


Tóm tắt phẩm

Suññatā thì có hai bài,

Abbhutadhamma và Bākula;

Aciravata, Bhūmija,

Anuruddha, Upakkilesa;

Bālapaṇḍita và Devadūta — đó là mười bài.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →