buppou

Trung Bộ Kinh · bài 131/152

Kinh Một Đêm Lành

Bhaddekaratta Sutta — bài kinh về một đêm lành

12 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Một Đêm Lành (Bhaddekaratta Sutta) là bài kinh thứ 131 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài kinh cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Đây là bài rất ngắn: một bài kệ, rồi một lời giải thích gọn ghẽ cho ý của bài kệ ấy. Bốn bài kinh liên tiếp trong bộ này cùng xoay quanh bài kệ đó, mỗi bài giải thích một cách; đây là bài đầu tiên.

Bối cảnh thật đơn giản. Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jeta của Anāthapiṇḍika. Ngài gọi các tỳ-kheo lại và nói rằng Ngài sẽ giảng "phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành". Phần tóm tắt là bài kệ; phần phân tích là những câu hỏi đáp tiếp theo, mổ xẻ từng ý của bài kệ.

Bài kệ nói một điều rất cụ thể: đừng chạy về quá khứ, đừng mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã qua; cái gì chưa tới thì chưa tới. Chỉ có pháp đang có mặt ngay lúc này là chỗ để thấy rõ. Và vì cái chết có thể đến bất cứ lúc nào — ngay ngày mai, thậm chí ngay đêm nay — nên việc cần làm phải làm ngay hôm nay, không chờ. Người sống như vậy, không mệt mỏi ngày đêm, được gọi là người có "một đêm lành".

Phần phân tích mới là chỗ bài kinh chạm vào đời sống thật. "Quay về quá khứ" không phải là nhớ chuyện cũ, mà là khơi dậy lòng thích thú nơi những gì mình đã từng là: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này, thọ như thế này". Cũng vậy, "mong đợi tương lai" là ước mình sẽ có những uẩn ấy trong tương lai. Còn "bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt" là coi năm uẩn — năm nhóm tạo nên cái ta gọi là "mình", gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức — là tự ngã, hay coi tự ngã là có năm uẩn ấy, hay coi năm uẩn ấy ở trong tự ngã, hay coi tự ngã ở trong năm uẩn ấy. "Tự ngã" ở đây là cái tôi thường hằng mà ta tưởng là chính mình. Cả ba lối ấy đều là những cách lòng tham bám vào quá khứ, tương lai hoặc hiện tại.

Vị thánh đệ tử đã nghe Pháp thì làm ngược lại: không khơi dậy lòng thích thú nơi quá khứ hay tương lai, và không coi năm uẩn là tự ngã. Bài kinh không đưa ra một nghi lễ nào, không hứa hẹn một ngày tốt lành nào. "Một đêm lành" ở đây là một cách sống: sống trọn đêm nay, với những gì đang có mặt, không để nó trôi qua trong tiếc nuối hay mong chờ.

Bản dịch này làm từ nguyên bản Pali, đối chiếu với bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato. Những chỗ Pali viết tắt bằng dấu lược đều được viết đủ lại theo đúng khuôn, để người đọc thấy rõ bài kinh lặp lại năm uẩn như thế nào. Các từ kỹ thuật như sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tự ngã được giữ theo cách gọi quen thuộc trong kinh điển Việt Nam.

[Chú thích của người dịch: Bhaddekaratta là một hợp từ khó, thường được hiểu là "một đêm lành" hay "người có một đêm lành" — người sống trọn vẹn một đêm, không để nó trôi qua trong tiếc nuối quá khứ hay mong chờ tương lai. Bốn bài kinh liên tiếp trong Trung Bộ Kinh (MN 131–134) cùng xoay quanh một bài kệ.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này được nhiều người hành thiền yêu thích: nó lấy một bài kệ làm khuôn mẫu để giảng về mặt thiền gọi là vipassanā, tức "quán", thấy rõ các pháp. Ba bài kinh kế tiếp giải thích cùng bài kệ ấy trong những dịp khác nhau, và MN 133 đưa ra một cách giải thích bổ sung.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.

Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Chớ có quay về với quá khứ,

chớ có mong đợi tương lai.

[Chú thích: "Mong đợi" (paṭikaṅkhe) không phải lúc nào cũng xấu: một vị tỳ-kheo cần "mong đợi" các nguy hiểm, Nālaka "mong đợi" sự xuất hiện của Đức Thế Tôn, và bậc A-la-hán "chờ thời" của mình. Câu kệ ở đây có một ứng dụng riêng trong thiền, sẽ được giải thích ở dưới.]

Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,

tương lai thì chưa tới;

và pháp nào đang có mặt,

[Chú thích: Ở đây "pháp" (dhamma) chỉ bất cứ gì có thể được biết trực tiếp. Hai đoạn kệ chảy liền vào nhau ở đây, như chữ ca nối dòng này với dòng trước cho thấy.]

thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;

[Chú thích: Tattha tattha nghĩa đen là "chỗ này chỗ kia", ở đây hiểu là "trong mọi trường hợp" — soi thấy từng pháp ngay khi nó khởi lên.]

cái không lay chuyển, không dao động:

[Chú thích: Cụm này trong Thag 14.1 chỉ tâm đã tu tập qua thiền từ bi, còn trong Snp 5.19 thì chỉ Niết-bàn. Ở cả hai chỗ, cũng như ở đây, nó là đối tượng của động từ, không phải trạng từ.]

biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.

Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,

ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?

Vì chẳng có sự mặc cả nào

với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.

Ai sống như vậy, tinh cần,

không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,

người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —

bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."

[Chú thích: "Bậc hiền triết an tịnh" ở đây là Đức Thế Tôn.]

Và này các tỳ-kheo, thế nào là quay về với quá khứ?

Vị ấy nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.

[Chú thích: Samanvāneti là từ chỉ thấy trong Pali sơ kỳ, nghĩa gốc là "gom lại, đưa lại với nhau"; ở đây hiểu là vừa khơi dậy vừa tập hợp lòng thích thú. Theo SN 22.79, "trong quá khứ" ở đây có nghĩa là "trong một đời trước".]

Này các tỳ-kheo, đó là cách quay về với quá khứ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là không quay về với quá khứ?

Vị ấy nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.

Này các tỳ-kheo, đó là cách không quay về với quá khứ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là mong đợi tương lai?

Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có sắc như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thọ như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có tưởng như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có hành như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thức như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.

Này các tỳ-kheo, đó là cách mong đợi tương lai.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là không mong đợi tương lai?

Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có sắc như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thọ như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có tưởng như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có hành như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thức như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.

Này các tỳ-kheo, đó là cách không mong đợi tương lai.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt?

[Chú thích: Ở đây chữ dhamma dùng số nhiều, còn trong bài kệ thì dùng số ít. Tuy vậy, các mảnh kinh tiếng Phạn cũng dùng số nhiều trong bài kệ.]

Này các tỳ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân.

Vị ấy coi sắc là tự ngã, coi tự ngã là có sắc, coi sắc ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong sắc;

[Chú thích của người dịch: Năm uẩn là năm nhóm tạo nên cái mà ta gọi là "tôi": sắc (thân và vật chất), thọ (cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính), tưởng (nhận biết và ghi nhớ), hành (các ý muốn và quyết định), thức (sự nhận biết qua giác quan và tâm). Bốn cách nhìn trong đoạn này là bốn kiểu đồng nhất mình với uẩn ấy.]

Vị ấy coi thọ là tự ngã, coi tự ngã là có thọ, coi thọ ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong thọ;

Vị ấy coi tưởng là tự ngã, coi tự ngã là có tưởng, coi tưởng ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong tưởng;

Vị ấy coi hành là tự ngã, coi tự ngã là có hành, coi hành ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong hành;

Vị ấy coi thức là tự ngã, coi tự ngã là có thức, coi thức ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong thức.

Này các tỳ-kheo, đó là cách bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt?

Này các tỳ-kheo, ở đây có vị thánh đệ tử đã nghe Pháp, đã thấy các bậc thánh, hiểu biết và khéo được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; đã thấy những bậc chân nhân, hiểu biết và khéo được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân.

Vị ấy không coi sắc là tự ngã, không coi tự ngã là có sắc, không coi sắc ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong sắc;

Vị ấy không coi thọ là tự ngã, không coi tự ngã là có thọ, không coi thọ ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong thọ;


Vị ấy không coi tưởng là tự ngã, không coi tự ngã là có tưởng, không coi tưởng ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong tưởng;

Vị ấy không coi hành là tự ngã, không coi tự ngã là có hành, không coi hành ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong hành;

Vị ấy không coi thức là tự ngã, không coi tự ngã là có thức, không coi thức ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong thức.

Này các tỳ-kheo, đó là cách không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.

"Chớ có quay về với quá khứ,

chớ có mong đợi tương lai.

Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,

tương lai thì chưa tới;

và pháp nào đang có mặt,

thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;

cái không lay chuyển, không dao động:

biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.

Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,

ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?

Vì chẳng có sự mặc cả nào

với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.

Ai sống như vậy, tinh cần,

không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,

người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —

bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."

Này các tỳ-kheo, đó chính là điều Ta đã nói: "Ta sẽ giảng cho các ông phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành."

Đó là điều đã được nói; chính vì điều này mà lời ấy được nói ra.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Một Đêm Lành, bài thứ nhất, đã hoàn tất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →