buppou

Trung Bộ Kinh · bài 1/152

Kinh Căn Bản Pháp Môn

Mūlapariyāya Sutta — bài kinh về cội nguồn của mọi pháp

khoảng 1,5 giờ đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Căn Bản Pháp Môn (Mūlapariyāya Sutta) là bài kinh thứ nhất trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài kinh cỡ vừa trong Tam Tạng Pali của Phật giáo Nguyên thủy.

Đây là một trong những bài khó nhất của toàn bộ kinh tạng, và cũng là bài gây nhiều tranh luận nhất. Nó không kể chuyện, không có nhân vật phụ, không có ẩn dụ dễ nhớ. Nó chỉ có một cấu trúc lặp: hai mươi bốn đối tượng — từ đất, nước, lửa, gió, qua các cõi trời, đến cái được thấy, cái được nghe, và cuối cùng là Niết-bàn — được soi qua bốn hạng người: phàm phu, bậc hữu học, bậc A-la-hán, và Như Lai. Với mỗi đối tượng, câu hỏi luôn là: người ấy nhận thức nó thế nào, rồi có tưởng tượng ra thêm cái gì quanh nó không.

Câu trả lời nằm ở chỗ khác biệt cuối cùng. Phàm phu nhận thức đất là đất, rồi lập tức tưởng tượng "đất là của tôi", "tôi ở trong đất", và thích thú đất. Bậc A-la-hán cũng nhận thức đất là đất, nhưng không thêm cái gì vào sau đó. Như Lai còn đi xa hơn: Ngài biết rõ thích thú chính là cội nguồn của khổ, và vì thế bài kinh khép lại bằng một câu lạ lùng — các tỳ-kheo nghe xong không hoan hỷ.

Cái "căn bản" trong tên kinh không phải là một nguyên lý siêu hình, mà là một thứ rất cụ thể: lòng thích thú bám víu vào những gì mình nhận thức được. Chừng nào còn thích thú ấy, còn tưởng tượng ấy, thì còn khổ.

Bản dịch giữ nguyên cấu trúc lặp của nguyên bản, vì đó chính là cách bài kinh dạy: mỗi vòng lặp là một lần cùng một cái bẫy được giăng ra, chỉ khác đối tượng. Người đọc nên đọc chậm phần đầu, đến khi quen nhịp thì các vòng sau sẽ tự mở ra.

[Chú thích của người dịch: Mūla là "cội rễ, căn bản"; pariyāya là "cách trình bày, pháp môn". Tên kinh nói rằng bài này chỉ ra cái gốc — tức tham ái — mà từ đó mọi nhận thức và mọi khổ đau của phàm phu sinh khởi.]

Mục lục bài kinh
  1. Hạng phàm phu
  2. Bậc hữu học
  3. Bậc A-la-hán — đã hiểu biết trọn vẹn
  4. Bậc A-la-hán — tham đã tận
  5. Bậc A-la-hán — sân đã tận
  6. Bậc A-la-hán — si đã tận
  7. Như Lai
  8. Như Lai — thích thú là cội nguồn của khổ

Tôi nghe như vầy.

[Chú thích của người dịch: Cũng như Trường Bộ Kinh mở đầu bằng bài Phạm Võng — một bài rất khó —, Trung Bộ Kinh mở đầu bằng một trong những bài trừu tượng nhất của toàn bộ kinh tạng: bài này khảo sát cách nhận thức và cách đồng hóa sự vật biến đổi theo tiến trình tu tập.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú gần Ukkaṭṭhā, trong rừng Subhaga, dưới gốc một cây sa-la vua to lớn.

[Chú thích: Ukkaṭṭhā nằm gần Sāvatthī, ít khi được nhắc tới, và mỗi lần nhắc là gắn với một sự kiện hay một bài pháp đặc biệt.]

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

[Chú thích: Bài kinh này có bố cục ứng với những đoạn như Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 3.7, nơi Yājñavalkya trình bày một loạt nguyên lý mà quanh đó người ta quan niệm có một ngã bất tử. Chú giải nói bài này được giảng cho một nhóm bà-la-môn cũ đã trở nên ngạo mạn khi học Pháp của Đức Thế Tôn; nhưng chính văn không ủng hộ cách hiểu ấy.]

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông pháp môn về cội nguồn của mọi pháp.

Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

1. Hạng phàm phu

Này các tỳ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân.

[Chú thích của người dịch: "Phàm phu không nghe Pháp" là người chưa chứng được bất cứ tầng thánh nào; "bậc thánh" ở đây không chỉ các vị A-la-hán mà là bất cứ ai đã bước vào con đường.]

Vị ấy nhận thức đất là đất.

[Chú thích: Nhận thức (saññā) tuy đúng nhưng vẫn là nhận ra sự vật "như là" một cái gì — tức là đã qua lăng kính ký ức và khái niệm học được từ trước.]

Sau khi nhận thức đất là đất, vị ấy tưởng tượng nó là đất, tưởng tượng nó ở trong đất, tưởng tượng nó phát xuất từ đất, tưởng tượng "đất là của tôi", và vị ấy thích thú đất.

[Chú thích: Tưởng tượng (maññati) là nghĩ về sự vật theo lối "của tôi", thêm thắt bằng tham, ngã mạn hay tà kiến. Năm cách tưởng tượng trong đoạn này lần lượt ứng với năm cách nói của Pali: coi là, coi ở trong, coi phát xuất từ, coi là của mình, và ưa thích.]

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

[Chú thích: Hiểu biết trọn vẹn (pariññā) là sự hiểu của bậc A-la-hán, đoạn tận vĩnh viễn mọi si mê và ngã mạn.]

Vị ấy nhận thức nước là nước.

Sau khi nhận thức nước là nước, vị ấy tưởng tượng nó là nước, tưởng tượng nó ở trong nước, tưởng tượng nó phát xuất từ nước, tưởng tượng "nước là của tôi", và vị ấy thích thú nước.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức lửa là lửa.

Sau khi nhận thức lửa là lửa, vị ấy tưởng tượng nó là lửa, tưởng tượng nó ở trong lửa, tưởng tượng nó phát xuất từ lửa, tưởng tượng "lửa là của tôi", và vị ấy thích thú lửa.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức gió là gió.

Sau khi nhận thức gió là gió, vị ấy tưởng tượng nó là gió, tưởng tượng nó ở trong gió, tưởng tượng nó phát xuất từ gió, tưởng tượng "gió là của tôi", và vị ấy thích thú gió.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức chúng sinh là chúng sinh.

[Chú thích của người dịch: "Chúng sinh" (bhūta) chỉ mọi loài có sự sống, kể cả loài người, súc vật và các loài vô hình.]

Sau khi nhận thức chúng sinh là chúng sinh, vị ấy tưởng tượng chúng là chúng sinh, tưởng tượng chúng ở trong chúng sinh, tưởng tượng chúng phát xuất từ chúng sinh, tưởng tượng "chúng sinh là của tôi", và vị ấy thích thú chúng sinh.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức chư thiên là chư thiên.

[Chú thích của người dịch: "Chư thiên" (deva) là các vị thần trong tín ngưỡng Ấn Độ cổ; tất cả đều vô thường và còn chịu khổ.]

Sau khi nhận thức chư thiên là chư thiên, vị ấy tưởng tượng họ là chư thiên, tưởng tượng họ ở trong chư thiên, tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên, tưởng tượng "chư thiên là của tôi", và vị ấy thích thú chư thiên.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức Pajāpati là Pajāpati.

[Chú thích của người dịch: Pajāpati — "Đấng Sáng Tạo" — là vị thần cô độc của sự sáng thế trong thần thoại Vệ-đà.]

Sau khi nhận thức Pajāpati là Pajāpati, vị ấy tưởng tượng Ngài là Pajāpati, tưởng tượng Ngài ở trong Pajāpati, tưởng tượng Ngài phát xuất từ Pajāpati, tưởng tượng "Pajāpati là của tôi", và vị ấy thích thú Pajāpati.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức Brahmā là Brahmā.

[Chú thích của người dịch: Brahmā cũng được xem là đấng sáng tạo, nhưng theo nghĩa lực thiêng nền tảng duy trì sự sống của vũ trụ.]

Sau khi nhận thức Brahmā là Brahmā, vị ấy tưởng tượng Ngài là Brahmā, tưởng tượng Ngài ở trong Brahmā, tưởng tượng Ngài phát xuất từ Brahmā, tưởng tượng "Brahmā là của tôi", và vị ấy thích thú Brahmā.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm.

[Chú thích của người dịch: Quang Âm, Biến Tịnh và Quảng Quả là ba cõi Phạm Thiên cao hơn, tương ứng với thiền-na thứ hai, thứ ba và thứ tư.]

Sau khi nhận thức chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, vị ấy tưởng tượng họ là chư thiên Quang Âm, tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quang Âm, tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quang Âm, tưởng tượng "chư thiên Quang Âm là của tôi", và vị ấy thích thú chư thiên Quang Âm.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh.

Sau khi nhận thức chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, vị ấy tưởng tượng họ là chư thiên Biến Tịnh, tưởng tượng họ ở trong chư thiên Biến Tịnh, tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Biến Tịnh, tưởng tượng "chư thiên Biến Tịnh là của tôi", và vị ấy thích thú chư thiên Biến Tịnh.

Vì sao vậy?


Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả.

Sau khi nhận thức chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, vị ấy tưởng tượng họ là chư thiên Quảng Quả, tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quảng Quả, tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quảng Quả, tưởng tượng "chư thiên Quảng Quả là của tôi", và vị ấy thích thú chư thiên Quảng Quả.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức Abhibhū là Abhibhū.

Sau khi nhận thức Abhibhū là Abhibhū, vị ấy tưởng tượng Ngài là Abhibhū, tưởng tượng Ngài ở trong Abhibhū, tưởng tượng Ngài phát xuất từ Abhibhū, tưởng tượng "Abhibhū là của tôi", và vị ấy thích thú Abhibhū.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ.

Sau khi nhận thức Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, vị ấy tưởng tượng nó là Không Vô Biên Xứ, tưởng tượng nó ở trong Không Vô Biên Xứ, tưởng tượng nó phát xuất từ Không Vô Biên Xứ, tưởng tượng "Không Vô Biên Xứ là của tôi", và vị ấy thích thú Không Vô Biên Xứ.

[Chú thích: Hư không (ākāsa) là một nguyên lý quan trọng trong các Upaniṣad, nhưng rốt cuộc chỉ là biểu hiện thấp hơn của Cái Tuyệt đối (Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 3.8.7; Taittirīya 2.1.1; Chāndogya 7.12).]

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ.

Sau khi nhận thức Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, vị ấy tưởng tượng nó là Thức Vô Biên Xứ, tưởng tượng nó ở trong Thức Vô Biên Xứ, tưởng tượng nó phát xuất từ Thức Vô Biên Xứ, tưởng tượng "Thức Vô Biên Xứ là của tôi", và vị ấy thích thú Thức Vô Biên Xứ.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ.

Sau khi nhận thức Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy tưởng tượng nó là Vô Sở Hữu Xứ, tưởng tượng nó ở trong Vô Sở Hữu Xứ, tưởng tượng nó phát xuất từ Vô Sở Hữu Xứ, tưởng tượng "Vô Sở Hữu Xứ là của tôi", và vị ấy thích thú Vô Sở Hữu Xứ.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

Sau khi nhận thức Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy tưởng tượng nó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tưởng tượng nó ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tưởng tượng nó phát xuất từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tưởng tượng "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là của tôi", và vị ấy thích thú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức cái được thấy là cái được thấy.

Sau khi nhận thức cái được thấy là cái được thấy, vị ấy tưởng tượng nó là cái được thấy, tưởng tượng nó ở trong cái được thấy, tưởng tượng nó phát xuất từ cái được thấy, tưởng tượng "cái được thấy là của tôi", và vị ấy thích thú cái được thấy.

[Chú thích: Việc thấy các sa-môn khổ hạnh được xem là một phước lành (Snp 2.4:10.2), nhưng lấy cái thấy của một bậc thánh làm chuẩn cho chân lý là một sai lầm (Snp 4.4). Với người theo Vệ-đà, thấy còn có thể chỉ cái Ngã được thấy trong giấc mộng (Bṛhadāraṇyaka 4.3.9), nơi mọi vật hiện ra trong ánh sáng của chính mình (4.3.14).]

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức cái được nghe là cái được nghe.

Sau khi nhận thức cái được nghe là cái được nghe, vị ấy tưởng tượng nó là cái được nghe, tưởng tượng nó ở trong cái được nghe, tưởng tượng nó phát xuất từ cái được nghe, tưởng tượng "cái được nghe là của tôi", và vị ấy thích thú cái được nghe.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức cái được cảm nhận là cái được cảm nhận.

Sau khi nhận thức cái được cảm nhận là cái được cảm nhận, vị ấy tưởng tượng nó là cái được cảm nhận, tưởng tượng nó ở trong cái được cảm nhận, tưởng tượng nó phát xuất từ cái được cảm nhận, tưởng tượng "cái được cảm nhận là của tôi", và vị ấy thích thú cái được cảm nhận.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức cái được biết là cái được biết.

Sau khi nhận thức cái được biết là cái được biết, vị ấy tưởng tượng nó là cái được biết, tưởng tượng nó ở trong cái được biết, tưởng tượng nó phát xuất từ cái được biết, tưởng tượng "cái được biết là của tôi", và vị ấy thích thú cái được biết.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức tính nhất thể là tính nhất thể.

Sau khi nhận thức tính nhất thể là tính nhất thể, vị ấy tưởng tượng nó là tính nhất thể, tưởng tượng nó ở trong tính nhất thể, tưởng tượng nó phát xuất từ tính nhất thể, tưởng tượng "tính nhất thể là của tôi", và vị ấy thích thú tính nhất thể.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức tính đa dạng là tính đa dạng.

Sau khi nhận thức tính đa dạng là tính đa dạng, vị ấy tưởng tượng nó là tính đa dạng, tưởng tượng nó ở trong tính đa dạng, tưởng tượng nó phát xuất từ tính đa dạng, tưởng tượng "tính đa dạng là của tôi", và vị ấy thích thú tính đa dạng.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức tất cả là tất cả.


Sau khi nhận thức tất cả là tất cả, vị ấy tưởng tượng nó là tất cả, tưởng tượng nó ở trong tất cả, tưởng tượng nó phát xuất từ tất cả, tưởng tượng "tất cả là của tôi", và vị ấy thích thú tất cả.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Vị ấy nhận thức Niết-bàn là Niết-bàn.

Sau khi nhận thức Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy tưởng tượng nó là Niết-bàn, tưởng tượng nó ở trong Niết-bàn, tưởng tượng nó phát xuất từ Niết-bàn, tưởng tượng "Niết-bàn là của tôi", và vị ấy thích thú Niết-bàn.

Vì sao vậy?

Vì nó chưa được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Hết phần thứ nhất: cách nhìn của hạng phàm phu.

2. Bậc hữu học

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp đất là đất.

Sau khi biết trực tiếp đất là đất, vị ấy chớ tưởng tượng nó là đất, chớ tưởng tượng nó ở trong đất, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ đất, chớ tưởng tượng "đất là của tôi", và chớ thích thú đất.

[Chú thích: Bài kinh trình bày tiến trình tu tập qua ba cách nói ngữ pháp: phàm phu tưởng tượng, bậc hữu học không nên tưởng tượng, bậc đã viên mãn thì không tưởng tượng. Điều này ứng với ba vòng của bài kinh đầu tiên (SN 56.11): có khổ; khổ cần được hiểu; khổ đã được hiểu.]

Vì sao vậy?

Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp nước là nước. Sau khi biết trực tiếp nước là nước, vị ấy chớ tưởng tượng nó là nước, chớ tưởng tượng nó ở trong nước, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ nước, chớ tưởng tượng "nước là của tôi", và chớ thích thú nước. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp lửa là lửa. Sau khi biết trực tiếp lửa là lửa, vị ấy chớ tưởng tượng nó là lửa, chớ tưởng tượng nó ở trong lửa, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ lửa, chớ tưởng tượng "lửa là của tôi", và chớ thích thú lửa. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp gió là gió. Sau khi biết trực tiếp gió là gió, vị ấy chớ tưởng tượng nó là gió, chớ tưởng tượng nó ở trong gió, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ gió, chớ tưởng tượng "gió là của tôi", và chớ thích thú gió. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh. Sau khi biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh, vị ấy chớ tưởng tượng chúng là chúng sinh, chớ tưởng tượng chúng ở trong chúng sinh, chớ tưởng tượng chúng phát xuất từ chúng sinh, chớ tưởng tượng "chúng sinh là của tôi", và chớ thích thú chúng sinh. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên là chư thiên. Sau khi biết trực tiếp chư thiên là chư thiên, vị ấy chớ tưởng tượng họ là chư thiên, chớ tưởng tượng họ ở trong chư thiên, chớ tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên, chớ tưởng tượng "chư thiên là của tôi", và chớ thích thú chư thiên. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati. Sau khi biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati, vị ấy chớ tưởng tượng Ngài là Pajāpati, chớ tưởng tượng Ngài ở trong Pajāpati, chớ tưởng tượng Ngài phát xuất từ Pajāpati, chớ tưởng tượng "Pajāpati là của tôi", và chớ thích thú Pajāpati. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp Brahmā là Brahmā. Sau khi biết trực tiếp Brahmā là Brahmā, vị ấy chớ tưởng tượng Ngài là Brahmā, chớ tưởng tượng Ngài ở trong Brahmā, chớ tưởng tượng Ngài phát xuất từ Brahmā, chớ tưởng tượng "Brahmā là của tôi", và chớ thích thú Brahmā. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, vị ấy chớ tưởng tượng họ là chư thiên Quang Âm, chớ tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quang Âm, chớ tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quang Âm, chớ tưởng tượng "chư thiên Quang Âm là của tôi", và chớ thích thú chư thiên Quang Âm. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, vị ấy chớ tưởng tượng họ là chư thiên Biến Tịnh, chớ tưởng tượng họ ở trong chư thiên Biến Tịnh, chớ tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Biến Tịnh, chớ tưởng tượng "chư thiên Biến Tịnh là của tôi", và chớ thích thú chư thiên Biến Tịnh. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, vị ấy chớ tưởng tượng họ là chư thiên Quảng Quả, chớ tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quảng Quả, chớ tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quảng Quả, chớ tưởng tượng "chư thiên Quảng Quả là của tôi", và chớ thích thú chư thiên Quảng Quả. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū. Sau khi biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū, vị ấy chớ tưởng tượng Ngài là Abhibhū, chớ tưởng tượng Ngài ở trong Abhibhū, chớ tưởng tượng Ngài phát xuất từ Abhibhū, chớ tưởng tượng "Abhibhū là của tôi", và chớ thích thú Abhibhū. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, vị ấy chớ tưởng tượng nó là Không Vô Biên Xứ, chớ tưởng tượng nó ở trong Không Vô Biên Xứ, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ Không Vô Biên Xứ, chớ tưởng tượng "Không Vô Biên Xứ là của tôi", và chớ thích thú Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, vị ấy chớ tưởng tượng nó là Thức Vô Biên Xứ, chớ tưởng tượng nó ở trong Thức Vô Biên Xứ, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ Thức Vô Biên Xứ, chớ tưởng tượng "Thức Vô Biên Xứ là của tôi", và chớ thích thú Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ. Sau khi biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy chớ tưởng tượng nó là Vô Sở Hữu Xứ, chớ tưởng tượng nó ở trong Vô Sở Hữu Xứ, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ Vô Sở Hữu Xứ, chớ tưởng tượng "Vô Sở Hữu Xứ là của tôi", và chớ thích thú Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau khi biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy chớ tưởng tượng nó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chớ tưởng tượng nó ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chớ tưởng tượng "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là của tôi", và chớ thích thú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

[Chú thích: Bậc Dự lưu không nhất thiết đã tự mình chứng nghiệm mọi tầng thiền định và mọi cõi tồn tại nêu ở đây, nhưng vị ấy biết trực tiếp lý duyên khởi, nên hiểu rằng tất cả những trạng thái ấy đều do duyên mà thành, vô thường, và nằm trong vòng luân hồi.]

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy. Sau khi biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy, vị ấy chớ tưởng tượng nó là cái được thấy, chớ tưởng tượng nó ở trong cái được thấy, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ cái được thấy, chớ tưởng tượng "cái được thấy là của tôi", và chớ thích thú cái được thấy. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe. Sau khi biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe, vị ấy chớ tưởng tượng nó là cái được nghe, chớ tưởng tượng nó ở trong cái được nghe, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ cái được nghe, chớ tưởng tượng "cái được nghe là của tôi", và chớ thích thú cái được nghe. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận. Sau khi biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận, vị ấy chớ tưởng tượng nó là cái được cảm nhận, chớ tưởng tượng nó ở trong cái được cảm nhận, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ cái được cảm nhận, chớ tưởng tượng "cái được cảm nhận là của tôi", và chớ thích thú cái được cảm nhận. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được biết là cái được biết. Sau khi biết trực tiếp cái được biết là cái được biết, vị ấy chớ tưởng tượng nó là cái được biết, chớ tưởng tượng nó ở trong cái được biết, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ cái được biết, chớ tưởng tượng "cái được biết là của tôi", và chớ thích thú cái được biết. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể. Sau khi biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể, vị ấy chớ tưởng tượng nó là tính nhất thể, chớ tưởng tượng nó ở trong tính nhất thể, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ tính nhất thể, chớ tưởng tượng "tính nhất thể là của tôi", và chớ thích thú tính nhất thể. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng. Sau khi biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng, vị ấy chớ tưởng tượng nó là tính đa dạng, chớ tưởng tượng nó ở trong tính đa dạng, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ tính đa dạng, chớ tưởng tượng "tính đa dạng là của tôi", và chớ thích thú tính đa dạng. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp tất cả là tất cả. Sau khi biết trực tiếp tất cả là tất cả, vị ấy chớ tưởng tượng nó là tất cả, chớ tưởng tượng nó ở trong tất cả, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ tất cả, chớ tưởng tượng "tất cả là của tôi", và chớ thích thú tất cả. Vì sao vậy? Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo còn là bậc hữu học, chưa đạt được điều mình mong muốn, đang sống hướng tới sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc, vị ấy cũng biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn.

Sau khi biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy chớ tưởng tượng nó là Niết-bàn, chớ tưởng tượng nó ở trong Niết-bàn, chớ tưởng tượng nó phát xuất từ Niết-bàn, chớ tưởng tượng "Niết-bàn là của tôi", và chớ thích thú Niết-bàn.

Vì sao vậy?

Để nó được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Hết phần thứ hai: cách nhìn của bậc hữu học.

3. Bậc A-la-hán — đã hiểu biết trọn vẹn

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp đất là đất.

Sau khi biết trực tiếp đất là đất, vị ấy không tưởng tượng nó là đất, không tưởng tượng nó ở trong đất, không tưởng tượng nó phát xuất từ đất, không tưởng tượng "đất là của tôi", và không thích thú đất.

Vì sao vậy?

Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp nước là nước. Sau khi biết trực tiếp nước là nước, vị ấy không tưởng tượng nó là nước, không tưởng tượng nó ở trong nước, không tưởng tượng nó phát xuất từ nước, không tưởng tượng "nước là của tôi", và không thích thú nước. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp lửa là lửa. Sau khi biết trực tiếp lửa là lửa, vị ấy không tưởng tượng nó là lửa, không tưởng tượng nó ở trong lửa, không tưởng tượng nó phát xuất từ lửa, không tưởng tượng "lửa là của tôi", và không thích thú lửa. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp gió là gió. Sau khi biết trực tiếp gió là gió, vị ấy không tưởng tượng nó là gió, không tưởng tượng nó ở trong gió, không tưởng tượng nó phát xuất từ gió, không tưởng tượng "gió là của tôi", và không thích thú gió. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh. Sau khi biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh, vị ấy không tưởng tượng chúng là chúng sinh, không tưởng tượng chúng ở trong chúng sinh, không tưởng tượng chúng phát xuất từ chúng sinh, không tưởng tượng "chúng sinh là của tôi", và không thích thú chúng sinh. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên là chư thiên. Sau khi biết trực tiếp chư thiên là chư thiên, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên, không tưởng tượng "chư thiên là của tôi", và không thích thú chư thiên. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati. Sau khi biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Pajāpati, không tưởng tượng Ngài ở trong Pajāpati, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Pajāpati, không tưởng tượng "Pajāpati là của tôi", và không thích thú Pajāpati. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Brahmā là Brahmā. Sau khi biết trực tiếp Brahmā là Brahmā, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Brahmā, không tưởng tượng Ngài ở trong Brahmā, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Brahmā, không tưởng tượng "Brahmā là của tôi", và không thích thú Brahmā. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.


Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng "chư thiên Quang Âm là của tôi", và không thích thú chư thiên Quang Âm. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng "chư thiên Biến Tịnh là của tôi", và không thích thú chư thiên Biến Tịnh. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng "chư thiên Quảng Quả là của tôi", và không thích thú chư thiên Quảng Quả. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū. Sau khi biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Abhibhū, không tưởng tượng Ngài ở trong Abhibhū, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Abhibhū, không tưởng tượng "Abhibhū là của tôi", và không thích thú Abhibhū. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Không Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Thức Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ. Sau khi biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng "Vô Sở Hữu Xứ là của tôi", và không thích thú Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau khi biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là của tôi", và không thích thú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy. Sau khi biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được thấy, không tưởng tượng nó ở trong cái được thấy, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được thấy, không tưởng tượng "cái được thấy là của tôi", và không thích thú cái được thấy. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe. Sau khi biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được nghe, không tưởng tượng nó ở trong cái được nghe, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được nghe, không tưởng tượng "cái được nghe là của tôi", và không thích thú cái được nghe. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận. Sau khi biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó ở trong cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được cảm nhận, không tưởng tượng "cái được cảm nhận là của tôi", và không thích thú cái được cảm nhận. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được biết là cái được biết. Sau khi biết trực tiếp cái được biết là cái được biết, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được biết, không tưởng tượng nó ở trong cái được biết, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được biết, không tưởng tượng "cái được biết là của tôi", và không thích thú cái được biết. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể. Sau khi biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể, vị ấy không tưởng tượng nó là tính nhất thể, không tưởng tượng nó ở trong tính nhất thể, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính nhất thể, không tưởng tượng "tính nhất thể là của tôi", và không thích thú tính nhất thể. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng. Sau khi biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng, vị ấy không tưởng tượng nó là tính đa dạng, không tưởng tượng nó ở trong tính đa dạng, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính đa dạng, không tưởng tượng "tính đa dạng là của tôi", và không thích thú tính đa dạng. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tất cả là tất cả. Sau khi biết trực tiếp tất cả là tất cả, vị ấy không tưởng tượng nó là tất cả, không tưởng tượng nó ở trong tất cả, không tưởng tượng nó phát xuất từ tất cả, không tưởng tượng "tất cả là của tôi", và không thích thú tất cả. Vì sao vậy? Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn.

Sau khi biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không tưởng tượng nó là Niết-bàn, không tưởng tượng nó ở trong Niết-bàn, không tưởng tượng nó phát xuất từ Niết-bàn, không tưởng tượng "Niết-bàn là của tôi", và không thích thú Niết-bàn.

Vì sao vậy?

Vì nó đã được hiểu biết trọn vẹn, Ta nói vậy.

Hết phần thứ ba: cách nhìn của bậc A-la-hán.

4. Bậc A-la-hán — tham đã tận

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp đất là đất.

Sau khi biết trực tiếp đất là đất, vị ấy không tưởng tượng nó là đất, không tưởng tượng nó ở trong đất, không tưởng tượng nó phát xuất từ đất, không tưởng tượng "đất là của tôi", và không thích thú đất.

Vì sao vậy?

Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

[Chú thích: Chính văn lặp lại đoạn về bậc viên mãn ba lần, mỗi lần nhấn vào sự đoạn tận tham, sân, si.]

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp nước là nước. Sau khi biết trực tiếp nước là nước, vị ấy không tưởng tượng nó là nước, không tưởng tượng nó ở trong nước, không tưởng tượng nó phát xuất từ nước, không tưởng tượng "nước là của tôi", và không thích thú nước. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp lửa là lửa. Sau khi biết trực tiếp lửa là lửa, vị ấy không tưởng tượng nó là lửa, không tưởng tượng nó ở trong lửa, không tưởng tượng nó phát xuất từ lửa, không tưởng tượng "lửa là của tôi", và không thích thú lửa. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp gió là gió. Sau khi biết trực tiếp gió là gió, vị ấy không tưởng tượng nó là gió, không tưởng tượng nó ở trong gió, không tưởng tượng nó phát xuất từ gió, không tưởng tượng "gió là của tôi", và không thích thú gió. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh. Sau khi biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh, vị ấy không tưởng tượng chúng là chúng sinh, không tưởng tượng chúng ở trong chúng sinh, không tưởng tượng chúng phát xuất từ chúng sinh, không tưởng tượng "chúng sinh là của tôi", và không thích thú chúng sinh. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên là chư thiên. Sau khi biết trực tiếp chư thiên là chư thiên, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên, không tưởng tượng "chư thiên là của tôi", và không thích thú chư thiên. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati. Sau khi biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Pajāpati, không tưởng tượng Ngài ở trong Pajāpati, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Pajāpati, không tưởng tượng "Pajāpati là của tôi", và không thích thú Pajāpati. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Brahmā là Brahmā. Sau khi biết trực tiếp Brahmā là Brahmā, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Brahmā, không tưởng tượng Ngài ở trong Brahmā, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Brahmā, không tưởng tượng "Brahmā là của tôi", và không thích thú Brahmā. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng "chư thiên Quang Âm là của tôi", và không thích thú chư thiên Quang Âm. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng "chư thiên Biến Tịnh là của tôi", và không thích thú chư thiên Biến Tịnh. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng "chư thiên Quảng Quả là của tôi", và không thích thú chư thiên Quảng Quả. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū. Sau khi biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Abhibhū, không tưởng tượng Ngài ở trong Abhibhū, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Abhibhū, không tưởng tượng "Abhibhū là của tôi", và không thích thú Abhibhū. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Không Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Thức Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ. Sau khi biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng "Vô Sở Hữu Xứ là của tôi", và không thích thú Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau khi biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là của tôi", và không thích thú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy. Sau khi biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được thấy, không tưởng tượng nó ở trong cái được thấy, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được thấy, không tưởng tượng "cái được thấy là của tôi", và không thích thú cái được thấy. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe. Sau khi biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được nghe, không tưởng tượng nó ở trong cái được nghe, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được nghe, không tưởng tượng "cái được nghe là của tôi", và không thích thú cái được nghe. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận. Sau khi biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó ở trong cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được cảm nhận, không tưởng tượng "cái được cảm nhận là của tôi", và không thích thú cái được cảm nhận. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được biết là cái được biết. Sau khi biết trực tiếp cái được biết là cái được biết, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được biết, không tưởng tượng nó ở trong cái được biết, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được biết, không tưởng tượng "cái được biết là của tôi", và không thích thú cái được biết. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể. Sau khi biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể, vị ấy không tưởng tượng nó là tính nhất thể, không tưởng tượng nó ở trong tính nhất thể, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính nhất thể, không tưởng tượng "tính nhất thể là của tôi", và không thích thú tính nhất thể. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng. Sau khi biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng, vị ấy không tưởng tượng nó là tính đa dạng, không tưởng tượng nó ở trong tính đa dạng, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính đa dạng, không tưởng tượng "tính đa dạng là của tôi", và không thích thú tính đa dạng. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tất cả là tất cả. Sau khi biết trực tiếp tất cả là tất cả, vị ấy không tưởng tượng nó là tất cả, không tưởng tượng nó ở trong tất cả, không tưởng tượng nó phát xuất từ tất cả, không tưởng tượng "tất cả là của tôi", và không thích thú tất cả. Vì sao vậy? Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn.

Sau khi biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không tưởng tượng nó là Niết-bàn, không tưởng tượng nó ở trong Niết-bàn, không tưởng tượng nó phát xuất từ Niết-bàn, không tưởng tượng "Niết-bàn là của tôi", và không thích thú Niết-bàn.

Vì sao vậy?

Vì tham đã tận, vị ấy không còn tham.


Hết phần thứ tư: cách nhìn của bậc A-la-hán.

5. Bậc A-la-hán — sân đã tận

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp đất là đất.

Sau khi biết trực tiếp đất là đất, vị ấy không tưởng tượng nó là đất, không tưởng tượng nó ở trong đất, không tưởng tượng nó phát xuất từ đất, không tưởng tượng "đất là của tôi", và không thích thú đất.

Vì sao vậy?

Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp nước là nước. Sau khi biết trực tiếp nước là nước, vị ấy không tưởng tượng nó là nước, không tưởng tượng nó ở trong nước, không tưởng tượng nó phát xuất từ nước, không tưởng tượng "nước là của tôi", và không thích thú nước. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp lửa là lửa. Sau khi biết trực tiếp lửa là lửa, vị ấy không tưởng tượng nó là lửa, không tưởng tượng nó ở trong lửa, không tưởng tượng nó phát xuất từ lửa, không tưởng tượng "lửa là của tôi", và không thích thú lửa. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp gió là gió. Sau khi biết trực tiếp gió là gió, vị ấy không tưởng tượng nó là gió, không tưởng tượng nó ở trong gió, không tưởng tượng nó phát xuất từ gió, không tưởng tượng "gió là của tôi", và không thích thú gió. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh. Sau khi biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh, vị ấy không tưởng tượng chúng là chúng sinh, không tưởng tượng chúng ở trong chúng sinh, không tưởng tượng chúng phát xuất từ chúng sinh, không tưởng tượng "chúng sinh là của tôi", và không thích thú chúng sinh. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên là chư thiên. Sau khi biết trực tiếp chư thiên là chư thiên, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên, không tưởng tượng "chư thiên là của tôi", và không thích thú chư thiên. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati. Sau khi biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Pajāpati, không tưởng tượng Ngài ở trong Pajāpati, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Pajāpati, không tưởng tượng "Pajāpati là của tôi", và không thích thú Pajāpati. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Brahmā là Brahmā. Sau khi biết trực tiếp Brahmā là Brahmā, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Brahmā, không tưởng tượng Ngài ở trong Brahmā, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Brahmā, không tưởng tượng "Brahmā là của tôi", và không thích thú Brahmā. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng "chư thiên Quang Âm là của tôi", và không thích thú chư thiên Quang Âm. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng "chư thiên Biến Tịnh là của tôi", và không thích thú chư thiên Biến Tịnh. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng "chư thiên Quảng Quả là của tôi", và không thích thú chư thiên Quảng Quả. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū. Sau khi biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Abhibhū, không tưởng tượng Ngài ở trong Abhibhū, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Abhibhū, không tưởng tượng "Abhibhū là của tôi", và không thích thú Abhibhū. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Không Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Thức Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ. Sau khi biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng "Vô Sở Hữu Xứ là của tôi", và không thích thú Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau khi biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là của tôi", và không thích thú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy. Sau khi biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được thấy, không tưởng tượng nó ở trong cái được thấy, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được thấy, không tưởng tượng "cái được thấy là của tôi", và không thích thú cái được thấy. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe. Sau khi biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được nghe, không tưởng tượng nó ở trong cái được nghe, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được nghe, không tưởng tượng "cái được nghe là của tôi", và không thích thú cái được nghe. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận. Sau khi biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó ở trong cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được cảm nhận, không tưởng tượng "cái được cảm nhận là của tôi", và không thích thú cái được cảm nhận. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được biết là cái được biết. Sau khi biết trực tiếp cái được biết là cái được biết, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được biết, không tưởng tượng nó ở trong cái được biết, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được biết, không tưởng tượng "cái được biết là của tôi", và không thích thú cái được biết. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể. Sau khi biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể, vị ấy không tưởng tượng nó là tính nhất thể, không tưởng tượng nó ở trong tính nhất thể, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính nhất thể, không tưởng tượng "tính nhất thể là của tôi", và không thích thú tính nhất thể. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng. Sau khi biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng, vị ấy không tưởng tượng nó là tính đa dạng, không tưởng tượng nó ở trong tính đa dạng, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính đa dạng, không tưởng tượng "tính đa dạng là của tôi", và không thích thú tính đa dạng. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tất cả là tất cả. Sau khi biết trực tiếp tất cả là tất cả, vị ấy không tưởng tượng nó là tất cả, không tưởng tượng nó ở trong tất cả, không tưởng tượng nó phát xuất từ tất cả, không tưởng tượng "tất cả là của tôi", và không thích thú tất cả. Vì sao vậy? Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn.

Sau khi biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không tưởng tượng nó là Niết-bàn, không tưởng tượng nó ở trong Niết-bàn, không tưởng tượng nó phát xuất từ Niết-bàn, không tưởng tượng "Niết-bàn là của tôi", và không thích thú Niết-bàn.

Vì sao vậy?

Vì sân đã tận, vị ấy không còn sân.

Hết phần thứ năm: cách nhìn của bậc A-la-hán.

6. Bậc A-la-hán — si đã tận

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp đất là đất.

Sau khi biết trực tiếp đất là đất, vị ấy không tưởng tượng nó là đất, không tưởng tượng nó ở trong đất, không tưởng tượng nó phát xuất từ đất, không tưởng tượng "đất là của tôi", và không thích thú đất.

Vì sao vậy?

Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp nước là nước. Sau khi biết trực tiếp nước là nước, vị ấy không tưởng tượng nó là nước, không tưởng tượng nó ở trong nước, không tưởng tượng nó phát xuất từ nước, không tưởng tượng "nước là của tôi", và không thích thú nước. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp lửa là lửa. Sau khi biết trực tiếp lửa là lửa, vị ấy không tưởng tượng nó là lửa, không tưởng tượng nó ở trong lửa, không tưởng tượng nó phát xuất từ lửa, không tưởng tượng "lửa là của tôi", và không thích thú lửa. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp gió là gió. Sau khi biết trực tiếp gió là gió, vị ấy không tưởng tượng nó là gió, không tưởng tượng nó ở trong gió, không tưởng tượng nó phát xuất từ gió, không tưởng tượng "gió là của tôi", và không thích thú gió. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh. Sau khi biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh, vị ấy không tưởng tượng chúng là chúng sinh, không tưởng tượng chúng ở trong chúng sinh, không tưởng tượng chúng phát xuất từ chúng sinh, không tưởng tượng "chúng sinh là của tôi", và không thích thú chúng sinh. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên là chư thiên. Sau khi biết trực tiếp chư thiên là chư thiên, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên, không tưởng tượng "chư thiên là của tôi", và không thích thú chư thiên. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati. Sau khi biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Pajāpati, không tưởng tượng Ngài ở trong Pajāpati, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Pajāpati, không tưởng tượng "Pajāpati là của tôi", và không thích thú Pajāpati. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Brahmā là Brahmā. Sau khi biết trực tiếp Brahmā là Brahmā, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Brahmā, không tưởng tượng Ngài ở trong Brahmā, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Brahmā, không tưởng tượng "Brahmā là của tôi", và không thích thú Brahmā. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng "chư thiên Quang Âm là của tôi", và không thích thú chư thiên Quang Âm. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng "chư thiên Biến Tịnh là của tôi", và không thích thú chư thiên Biến Tịnh. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, vị ấy không tưởng tượng họ là chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng "chư thiên Quảng Quả là của tôi", và không thích thú chư thiên Quảng Quả. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū. Sau khi biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū, vị ấy không tưởng tượng Ngài là Abhibhū, không tưởng tượng Ngài ở trong Abhibhū, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Abhibhū, không tưởng tượng "Abhibhū là của tôi", và không thích thú Abhibhū. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Không Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Thức Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ. Sau khi biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng "Vô Sở Hữu Xứ là của tôi", và không thích thú Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.


Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau khi biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy không tưởng tượng nó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là của tôi", và không thích thú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy. Sau khi biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được thấy, không tưởng tượng nó ở trong cái được thấy, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được thấy, không tưởng tượng "cái được thấy là của tôi", và không thích thú cái được thấy. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe. Sau khi biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được nghe, không tưởng tượng nó ở trong cái được nghe, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được nghe, không tưởng tượng "cái được nghe là của tôi", và không thích thú cái được nghe. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận. Sau khi biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó ở trong cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được cảm nhận, không tưởng tượng "cái được cảm nhận là của tôi", và không thích thú cái được cảm nhận. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp cái được biết là cái được biết. Sau khi biết trực tiếp cái được biết là cái được biết, vị ấy không tưởng tượng nó là cái được biết, không tưởng tượng nó ở trong cái được biết, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được biết, không tưởng tượng "cái được biết là của tôi", và không thích thú cái được biết. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể. Sau khi biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể, vị ấy không tưởng tượng nó là tính nhất thể, không tưởng tượng nó ở trong tính nhất thể, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính nhất thể, không tưởng tượng "tính nhất thể là của tôi", và không thích thú tính nhất thể. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng. Sau khi biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng, vị ấy không tưởng tượng nó là tính đa dạng, không tưởng tượng nó ở trong tính đa dạng, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính đa dạng, không tưởng tượng "tính đa dạng là của tôi", và không thích thú tính đa dạng. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp tất cả là tất cả. Sau khi biết trực tiếp tất cả là tất cả, vị ấy không tưởng tượng nó là tất cả, không tưởng tượng nó ở trong tất cả, không tưởng tượng nó phát xuất từ tất cả, không tưởng tượng "tất cả là của tôi", và không thích thú tất cả. Vì sao vậy? Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí, vị ấy cũng biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn.

Sau khi biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không tưởng tượng nó là Niết-bàn, không tưởng tượng nó ở trong Niết-bàn, không tưởng tượng nó phát xuất từ Niết-bàn, không tưởng tượng "Niết-bàn là của tôi", và không thích thú Niết-bàn.

Vì sao vậy?

Vì si đã tận, vị ấy không còn si.

Hết phần thứ sáu: cách nhìn của bậc A-la-hán.

7. Như Lai

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp đất là đất.

Sau khi biết trực tiếp đất là đất, Ngài không tưởng tượng nó là đất, không tưởng tượng nó ở trong đất, không tưởng tượng nó phát xuất từ đất, không tưởng tượng "đất là của tôi", và không thích thú đất.

Vì sao vậy?

Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

[Chú thích: Cụm đã hiểu biết trọn vẹn đến cùng là cụm từ riêng của bài kinh này: các A-la-hán khác hiểu các pháp vừa đủ để giải thoát, còn Đức Thế Tôn hiểu hết thảy các pháp không trừ một pháp nào.]

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp nước là nước. Sau khi biết trực tiếp nước là nước, Ngài không tưởng tượng nó là nước, không tưởng tượng nó ở trong nước, không tưởng tượng nó phát xuất từ nước, không tưởng tượng "nước là của tôi", và không thích thú nước. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp lửa là lửa. Sau khi biết trực tiếp lửa là lửa, Ngài không tưởng tượng nó là lửa, không tưởng tượng nó ở trong lửa, không tưởng tượng nó phát xuất từ lửa, không tưởng tượng "lửa là của tôi", và không thích thú lửa. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp gió là gió. Sau khi biết trực tiếp gió là gió, Ngài không tưởng tượng nó là gió, không tưởng tượng nó ở trong gió, không tưởng tượng nó phát xuất từ gió, không tưởng tượng "gió là của tôi", và không thích thú gió. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh. Sau khi biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh, Ngài không tưởng tượng chúng là chúng sinh, không tưởng tượng chúng ở trong chúng sinh, không tưởng tượng chúng phát xuất từ chúng sinh, không tưởng tượng "chúng sinh là của tôi", và không thích thú chúng sinh. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chư thiên là chư thiên. Sau khi biết trực tiếp chư thiên là chư thiên, Ngài không tưởng tượng họ là chư thiên, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên, không tưởng tượng "chư thiên là của tôi", và không thích thú chư thiên. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati. Sau khi biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati, Ngài không tưởng tượng Ngài là Pajāpati, không tưởng tượng Ngài ở trong Pajāpati, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Pajāpati, không tưởng tượng "Pajāpati là của tôi", và không thích thú Pajāpati. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Brahmā là Brahmā. Sau khi biết trực tiếp Brahmā là Brahmā, Ngài không tưởng tượng Ngài là Brahmā, không tưởng tượng Ngài ở trong Brahmā, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Brahmā, không tưởng tượng "Brahmā là của tôi", và không thích thú Brahmā. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, Ngài không tưởng tượng họ là chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng "chư thiên Quang Âm là của tôi", và không thích thú chư thiên Quang Âm. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, Ngài không tưởng tượng họ là chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng "chư thiên Biến Tịnh là của tôi", và không thích thú chư thiên Biến Tịnh. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, Ngài không tưởng tượng họ là chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng "chư thiên Quảng Quả là của tôi", và không thích thú chư thiên Quảng Quả. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū. Sau khi biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū, Ngài không tưởng tượng Ngài là Abhibhū, không tưởng tượng Ngài ở trong Abhibhū, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Abhibhū, không tưởng tượng "Abhibhū là của tôi", và không thích thú Abhibhū. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, Ngài không tưởng tượng nó là Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Không Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, Ngài không tưởng tượng nó là Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Thức Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ. Sau khi biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, Ngài không tưởng tượng nó là Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng "Vô Sở Hữu Xứ là của tôi", và không thích thú Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau khi biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Ngài không tưởng tượng nó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là của tôi", và không thích thú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy. Sau khi biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy, Ngài không tưởng tượng nó là cái được thấy, không tưởng tượng nó ở trong cái được thấy, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được thấy, không tưởng tượng "cái được thấy là của tôi", và không thích thú cái được thấy. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe. Sau khi biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe, Ngài không tưởng tượng nó là cái được nghe, không tưởng tượng nó ở trong cái được nghe, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được nghe, không tưởng tượng "cái được nghe là của tôi", và không thích thú cái được nghe. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận. Sau khi biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận, Ngài không tưởng tượng nó là cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó ở trong cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được cảm nhận, không tưởng tượng "cái được cảm nhận là của tôi", và không thích thú cái được cảm nhận. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp cái được biết là cái được biết. Sau khi biết trực tiếp cái được biết là cái được biết, Ngài không tưởng tượng nó là cái được biết, không tưởng tượng nó ở trong cái được biết, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được biết, không tưởng tượng "cái được biết là của tôi", và không thích thú cái được biết. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể. Sau khi biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể, Ngài không tưởng tượng nó là tính nhất thể, không tưởng tượng nó ở trong tính nhất thể, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính nhất thể, không tưởng tượng "tính nhất thể là của tôi", và không thích thú tính nhất thể. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng. Sau khi biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng, Ngài không tưởng tượng nó là tính đa dạng, không tưởng tượng nó ở trong tính đa dạng, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính đa dạng, không tưởng tượng "tính đa dạng là của tôi", và không thích thú tính đa dạng. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp tất cả là tất cả. Sau khi biết trực tiếp tất cả là tất cả, Ngài không tưởng tượng nó là tất cả, không tưởng tượng nó ở trong tất cả, không tưởng tượng nó phát xuất từ tất cả, không tưởng tượng "tất cả là của tôi", và không thích thú tất cả. Vì sao vậy? Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn.

Sau khi biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn, Ngài không tưởng tượng nó là Niết-bàn, không tưởng tượng nó ở trong Niết-bàn, không tưởng tượng nó phát xuất từ Niết-bàn, không tưởng tượng "Niết-bàn là của tôi", và không thích thú Niết-bàn.

Vì sao vậy?

Vì Như Lai đã hiểu biết trọn vẹn đến tận cùng, Ta nói vậy.

Hết phần thứ bảy: cách nhìn của Như Lai.

8. Như Lai — thích thú là cội nguồn của khổ

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp đất là đất.

Sau khi biết trực tiếp đất là đất, Ngài không tưởng tượng nó là đất, không tưởng tượng nó ở trong đất, không tưởng tượng nó phát xuất từ đất, không tưởng tượng "đất là của tôi", và không thích thú đất.

Vì sao vậy?

Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ,

[Chú thích: Câu này làm rõ nghĩa của chữ hoan hỷ, ưa thích (abhinandati): bình thường nó mang nghĩa tốt, như khi thính chúng hoan hỷ với lời Pháp; ở đây Đức Thế Tôn dùng nó theo nghĩa ái tham, như trong định nghĩa về tập đế (SN 56.11:4.4).]

và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

[Chú thích: Với những dòng này, Đức Thế Tôn nối bài kinh với lý duyên khởi; Ngài dùng cách tương tự ở cuối bài Phạm Võng (DN 1).]

Vì vậy, này các tỳ-kheo, Ta nói: "Như Lai đã chứng ngộ sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng, nhờ đoạn tận, ly tham, chấm dứt, từ bỏ và buông xả mọi tham ái."


Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp nước là nước. Sau khi biết trực tiếp nước là nước, Ngài không tưởng tượng nó là nước, không tưởng tượng nó ở trong nước, không tưởng tượng nó phát xuất từ nước, không tưởng tượng "nước là của tôi", và không thích thú nước. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp lửa là lửa. Sau khi biết trực tiếp lửa là lửa, Ngài không tưởng tượng nó là lửa, không tưởng tượng nó ở trong lửa, không tưởng tượng nó phát xuất từ lửa, không tưởng tượng "lửa là của tôi", và không thích thú lửa. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp gió là gió. Sau khi biết trực tiếp gió là gió, Ngài không tưởng tượng nó là gió, không tưởng tượng nó ở trong gió, không tưởng tượng nó phát xuất từ gió, không tưởng tượng "gió là của tôi", và không thích thú gió. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh. Sau khi biết trực tiếp chúng sinh là chúng sinh, Ngài không tưởng tượng chúng là chúng sinh, không tưởng tượng chúng ở trong chúng sinh, không tưởng tượng chúng phát xuất từ chúng sinh, không tưởng tượng "chúng sinh là của tôi", và không thích thú chúng sinh. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chư thiên là chư thiên. Sau khi biết trực tiếp chư thiên là chư thiên, Ngài không tưởng tượng họ là chư thiên, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên, không tưởng tượng "chư thiên là của tôi", và không thích thú chư thiên. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati. Sau khi biết trực tiếp Pajāpati là Pajāpati, Ngài không tưởng tượng Ngài là Pajāpati, không tưởng tượng Ngài ở trong Pajāpati, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Pajāpati, không tưởng tượng "Pajāpati là của tôi", và không thích thú Pajāpati. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Brahmā là Brahmā. Sau khi biết trực tiếp Brahmā là Brahmā, Ngài không tưởng tượng Ngài là Brahmā, không tưởng tượng Ngài ở trong Brahmā, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Brahmā, không tưởng tượng "Brahmā là của tôi", và không thích thú Brahmā. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, Ngài không tưởng tượng họ là chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quang Âm, không tưởng tượng "chư thiên Quang Âm là của tôi", và không thích thú chư thiên Quang Âm. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, Ngài không tưởng tượng họ là chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Biến Tịnh, không tưởng tượng "chư thiên Biến Tịnh là của tôi", và không thích thú chư thiên Biến Tịnh. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả. Sau khi biết trực tiếp chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, Ngài không tưởng tượng họ là chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ ở trong chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng họ phát xuất từ chư thiên Quảng Quả, không tưởng tượng "chư thiên Quảng Quả là của tôi", và không thích thú chư thiên Quảng Quả. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū. Sau khi biết trực tiếp Abhibhū là Abhibhū, Ngài không tưởng tượng Ngài là Abhibhū, không tưởng tượng Ngài ở trong Abhibhū, không tưởng tượng Ngài phát xuất từ Abhibhū, không tưởng tượng "Abhibhū là của tôi", và không thích thú Abhibhū. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, Ngài không tưởng tượng nó là Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Không Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Không Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ. Sau khi biết trực tiếp Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, Ngài không tưởng tượng nó là Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Thức Vô Biên Xứ, không tưởng tượng "Thức Vô Biên Xứ là của tôi", và không thích thú Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ. Sau khi biết trực tiếp Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, Ngài không tưởng tượng nó là Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Vô Sở Hữu Xứ, không tưởng tượng "Vô Sở Hữu Xứ là của tôi", và không thích thú Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau khi biết trực tiếp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Ngài không tưởng tượng nó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng nó phát xuất từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, không tưởng tượng "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là của tôi", và không thích thú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy. Sau khi biết trực tiếp cái được thấy là cái được thấy, Ngài không tưởng tượng nó là cái được thấy, không tưởng tượng nó ở trong cái được thấy, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được thấy, không tưởng tượng "cái được thấy là của tôi", và không thích thú cái được thấy. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe. Sau khi biết trực tiếp cái được nghe là cái được nghe, Ngài không tưởng tượng nó là cái được nghe, không tưởng tượng nó ở trong cái được nghe, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được nghe, không tưởng tượng "cái được nghe là của tôi", và không thích thú cái được nghe. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận. Sau khi biết trực tiếp cái được cảm nhận là cái được cảm nhận, Ngài không tưởng tượng nó là cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó ở trong cái được cảm nhận, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được cảm nhận, không tưởng tượng "cái được cảm nhận là của tôi", và không thích thú cái được cảm nhận. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp cái được biết là cái được biết. Sau khi biết trực tiếp cái được biết là cái được biết, Ngài không tưởng tượng nó là cái được biết, không tưởng tượng nó ở trong cái được biết, không tưởng tượng nó phát xuất từ cái được biết, không tưởng tượng "cái được biết là của tôi", và không thích thú cái được biết. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể. Sau khi biết trực tiếp tính nhất thể là tính nhất thể, Ngài không tưởng tượng nó là tính nhất thể, không tưởng tượng nó ở trong tính nhất thể, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính nhất thể, không tưởng tượng "tính nhất thể là của tôi", và không thích thú tính nhất thể. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng. Sau khi biết trực tiếp tính đa dạng là tính đa dạng, Ngài không tưởng tượng nó là tính đa dạng, không tưởng tượng nó ở trong tính đa dạng, không tưởng tượng nó phát xuất từ tính đa dạng, không tưởng tượng "tính đa dạng là của tôi", và không thích thú tính đa dạng. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp tất cả là tất cả. Sau khi biết trực tiếp tất cả là tất cả, Ngài không tưởng tượng nó là tất cả, không tưởng tượng nó ở trong tất cả, không tưởng tượng nó phát xuất từ tất cả, không tưởng tượng "tất cả là của tôi", và không thích thú tất cả. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ, và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Này các tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn.

Sau khi biết trực tiếp Niết-bàn là Niết-bàn, Ngài không tưởng tượng nó là Niết-bàn, không tưởng tượng nó ở trong Niết-bàn, không tưởng tượng nó phát xuất từ Niết-bàn, không tưởng tượng "Niết-bàn là của tôi", và không thích thú Niết-bàn.

Vì sao vậy?

Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là cội nguồn của khổ,

và rằng từ sự tồn tại mà có sinh, ai đã sinh ra thì phải già và chết.

Vì vậy, này các tỳ-kheo, Ta nói: "Như Lai đã chứng ngộ sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng, nhờ đoạn tận, ly tham, chấm dứt, từ bỏ và buông xả mọi tham ái."

Hết phần thứ tám: cách nhìn của Như Lai.

Đó là những lời Đức Thế Tôn nói.

Nhưng các tỳ-kheo ấy không hoan hỷ với lời dạy của Đức Thế Tôn.

[Chú thích: Việc các tỳ-kheo không hoan hỷ (na abhinanduṁ) được chú giải và bản song song EA 44.6 xác nhận là họ không hiểu bài pháp, nhưng cách giải thích ấy bỏ qua vai trò trung tâm của sự hoan hỷ (nanda), chữ gốc làm nên tên bài kinh. Bậc A-la-hán không hoan hỷ cả với Niết-bàn, nên việc thính chúng không hoan hỷ với bài pháp này không có gì lạ. Có lẽ chính vì hiểu quá rõ mà họ đón nhận bài pháp với tâm xả hoàn toàn.]

Kinh Căn Bản Pháp Môn, bài thứ nhất, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →