Trung Bộ Kinh · bài 2/152
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc
Sabbāsava Sutta — bài kinh về tất cả các lậu hoặc
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Sabbāsava Sutta) là bài kinh thứ hai trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài giảng diễn ra tại Sāvatthī, trong rừng Jeta, nơi Đức Thế Tôn — bậc đã giác ngộ và là người sáng lập con đường tu tập này — dạy cho các tỳ-kheo, tức những vị xuất gia sống bằng khất thực.
Chữ "lậu hoặc" (āsava) nghe lạ, nhưng nghĩa rất cụ thể. Đó là những khuynh hướng ngấm ngầm làm đục tâm, khiến ta nhìn sự việc lệch đi và hành động lệch theo. Kinh nói đến ba thứ: lậu hoặc của dục (khao khát hưởng thụ), lậu hoặc của hữu (khao khát được tiếp tục tồn tại, được tái sinh), và lậu hoặc của vô minh (không thấy sự việc đúng như nó là). Hình ảnh gốc của chữ này là chất rỉ ra từ một vết thương: không ồn ào, nhưng cứ rỉ mãi và làm hỏng cả vùng da lành.
Mở đầu, Đức Thế Tôn nói một câu gây bất ngờ: lậu hoặc chỉ chấm dứt nhờ biết và thấy, không phải nhờ không biết, không thấy. Rồi Ngài thu hẹp câu hỏi vào một điểm: biết gì, thấy gì? Câu trả lời là chú tâm đúng cách và chú tâm sai cách. Chú tâm sai cách là lối tư duy tạo ra đúng những gì mình đang muốn thoát khỏi. Kinh vẽ ra chân dung của lối ấy bằng những câu hỏi ai cũng từng hỏi: Ta có từng tồn tại trong quá khứ không? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta là gì ngay bây giờ?
Những câu hỏi ấy không xấu, nhưng khi ta coi các phỏng đoán của mình là chân lý, chúng đông cứng thành sáu tà kiến quanh chữ "ngã". Kinh gọi đó là rừng rậm của tà kiến, sa mạc của tà kiến, dây trói của tà kiến. Người bị trói trong đó không được giải thoát khỏi sinh, già, chết và khổ. Chỉ khi hướng sự chú ý sang Bốn Sự Thật — khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ — thì ba dây trói đầu tiên mới đứt: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ.
Phần lớn bài kinh dành cho bảy cách đoạn trừ lậu hoặc: nhờ thấy rõ, nhờ thu thúc các giác quan, nhờ sử dụng bốn vật dụng của người xuất gia đúng mức, nhờ kham nhẫn chịu đựng khó khăn, nhờ tránh né những nơi và người nguy hiểm, nhờ xua tan những ý nghĩ có hại, và nhờ tu tập bảy yếu tố giác ngộ. Bảy cách này không phải bảy bước nối tiếp; bài kinh mở đầu và kết thúc bằng hai cách quan trọng nhất, còn lại là những cách ứng phó với từng hoàn cảnh.
Điều đáng chú ý là bài kinh không hứa một phương pháp duy nhất chữa mọi thứ. Nó nói ngược lại: nhiều vấn đề thì cần nhiều cách. Kết thúc, vị tỳ-kheo đã đoạn trừ đủ bảy loại lậu hoặc được gọi là người đã cắt đứt tham ái, phá tan dây trói, chấm dứt khổ. Với người đọc hôm nay, bài kinh vì vậy vừa là bản đồ tâm lý rất thực tế, vừa là lời nhắc: muốn hiểu mình, trước hết phải học cách chú ý đúng chỗ.
[Chú thích của người dịch: Sabba là "tất cả", āsava là "lậu hoặc". Tên kinh nói rằng bài này chỉ ra cách đoạn trừ toàn bộ những thứ ấy, không sót loại nào.]
Mục lục bài kinh
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Cũng như Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh mở đầu bằng một bài mang nặng triết lý (Phạm Võng, Căn Bản Pháp Môn), rồi tiếp theo là một bài thiên về thực hành (Sa-môn Quả, Tất Cả Lậu Hoặc).]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông pháp môn về sự thu thúc tất cả lậu hoặc.
[Chú thích: "Lậu hoặc" (āsava) là những thứ làm ô nhiễm căn bản, che tối nhận thức và giữ người ta trong vòng luân hồi. Trong cách dùng thực tế, āsava còn có nghĩa là "chất rỉ ra" từ một vết thương. Tiếng Pali āsava ứng với hai từ khác nhau trong tiếng Sanskrit: từ ở đây là āsrava, dòng chảy của nghiệp; còn āsava trong Sanskrit lại nghĩa là "chất say".]
Hãy lắng nghe và khéo chú tâm, Ta sẽ nói.
[Chú thích: Lời mở đầu này theo đúng khuôn của bài kinh số 1.]
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng lậu hoặc được đoạn tận nơi người biết và thấy, không phải nơi người không biết và không thấy.
[Chú thích: "Đoạn tận lậu hoặc" (āsavānaṁ khaya) là cách nói quen thuộc trong kinh để chỉ quả vị A-la-hán. "Biết và thấy" ở đây là tuệ thấy thấu suốt, sinh ra từ sự định tâm.]
Này các tỳ-kheo, biết gì và thấy gì mà Ta nói lậu hoặc được đoạn tận?
Đó là chú tâm đúng cách và chú tâm sai cách.
[Chú thích: "Chú tâm đúng cách" (yoniso manasikāra) là thuật ngữ đặc trưng của Phật giáo, gợi lại hình ảnh "cái nôi của chân lý" (yonāv ṛtasya) trong Vệ-đà, nguồn của những quy luật chi phối trật tự tự nhiên. Ý niệm ở đây là nhờ chú tâm theo nhân duyên, theo lý, người ta có thể mở ra chân lý còn ẩn kín. Trong bài này, tuệ của người hành thiền không được trình bày như việc khám phá chân lý khách quan về thế giới, mà như sự tự hiểu về chính phương tiện đưa tới tuệ.]
Này các tỳ-kheo, khi chú tâm sai cách thì những lậu hoặc chưa sinh khởi sinh khởi, và những lậu hoặc đã sinh khởi thì tăng trưởng.
[Chú thích: Đoạn này và đoạn kế tiếp tương ứng với sự quán sát năm triền cái và bảy yếu tố giác ngộ trong phần quán pháp của niệm xứ (MN 10:36.4).]
Này các tỳ-kheo, khi chú tâm đúng cách thì những lậu hoặc chưa sinh khởi không sinh khởi, và những lậu hoặc đã sinh khởi thì được đoạn trừ.
Này các tỳ-kheo, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ thấy rõ, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ thu thúc, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ sử dụng, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ kham nhẫn, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ tránh né, có những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ xua tan, và có những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ tu tập.
[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn nêu bố cục của bài kinh: bảy cách đoạn trừ lậu hoặc. Trừ cách thứ nhất là thấy rõ, sáu cách còn lại cũng xuất hiện trong AN 6.58.]
1. Lậu hoặc cần đoạn trừ nhờ thấy rõ
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ nhờ thấy rõ?
[Chú thích: "Thấy" (dassana) ở đây là thấy Bốn Sự Thật Cao quý bằng tuệ quán chiếu.]
Này các tỳ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân.
[Chú thích: "Các bậc thánh" (ariya) và "những bậc chân nhân" (sappurisa) đều chỉ tám hạng người đã bước vào con đường tám nhánh đưa tới giác ngộ.]
Vị ấy không biết những điều nên chú tâm và những điều không nên chú tâm.
Vì không biết những điều nên chú tâm và những điều không nên chú tâm, vị ấy chú tâm vào những điều không nên chú tâm, và không chú tâm vào những điều nên chú tâm.
Này các tỳ-kheo, những điều nào là không nên chú tâm mà vị ấy lại chú tâm?
Đó là những điều mà khi chú tâm vào, lậu hoặc về dục chưa sinh khởi thì sinh khởi, hoặc lậu hoặc về dục đã sinh khởi thì tăng trưởng;
[Chú thích: Điều này cho thấy một nghĩa của chữ "sai cách": nó tạo ra chính những gì người ta đang muốn thoát khỏi.]
Lậu hoặc về hữu chưa sinh khởi thì sinh khởi, hoặc lậu hoặc về hữu đã sinh khởi thì tăng trưởng;
Lậu hoặc về vô minh chưa sinh khởi thì sinh khởi, hoặc lậu hoặc về vô minh đã sinh khởi thì tăng trưởng.
Đây là những điều không nên chú tâm mà vị ấy lại chú tâm.
Này các tỳ-kheo, những điều nào là nên chú tâm mà vị ấy lại không chú tâm?
Đó là những điều mà khi chú tâm vào, lậu hoặc về dục chưa sinh khởi thì không sinh khởi, hoặc lậu hoặc về dục đã sinh khởi thì được đoạn trừ;
Lậu hoặc về hữu chưa sinh khởi thì không sinh khởi, hoặc lậu hoặc về hữu đã sinh khởi thì được đoạn trừ;
Lậu hoặc về vô minh chưa sinh khởi thì không sinh khởi, hoặc lậu hoặc về vô minh đã sinh khởi thì được đoạn trừ.
Đây là những điều nên chú tâm mà vị ấy lại không chú tâm.
Do chú tâm vào những điều không nên chú tâm và không chú tâm vào những điều nên chú tâm, những lậu hoặc chưa sinh khởi sinh khởi, và những lậu hoặc đã sinh khởi thì tăng trưởng.
Vị ấy chú tâm sai cách như thế này:
"Ta có từng tồn tại trong quá khứ không? Ta có từng không tồn tại trong quá khứ không? Ta đã là gì trong quá khứ? Ta đã như thế nào trong quá khứ? Sau khi là gì, ta đã trở thành gì trong quá khứ?"
[Chú thích: Đây là những câu hỏi siêu hình, đặt trên giả định ngầm về một cái ngã. Chúng là "sai cách" vì né tránh câu hỏi về nguyên nhân: chỉ hỏi cái gì xảy ra, không hỏi vì sao nó xảy ra.]
"Ta sẽ tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ không tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Sau khi là gì, ta sẽ trở thành gì trong tương lai?"
Hoặc ngay bây giờ, vị ấy phân vân về hiện tại, ngay trong chính mình:
"Ta có đang tồn tại không? Ta có đang không tồn tại không? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến? Rồi nó sẽ đi về đâu?"
[Chú thích: So sánh Rig Vệ-đà 10.129.6: "Từ đâu nó được sinh ra, từ đâu có sự tạo thành này"; và kinh Ācāraṅga của Kỳ-na giáo 1.1.1.2: "Ta đã là gì, ta sẽ trở thành gì sau khi rời khỏi đây".]
Khi vị ấy chú tâm sai cách như vậy, một trong sáu tà kiến khởi lên.
[Chú thích: Thắc mắc là chuyện tự nhiên, nhưng khi ta coi những phỏng đoán ấy là chuyện nghiêm túc, chúng biến thành giáo điều, được khăng khăng cho là chân lý, dù thật ra ta không có cách nào biết.]
Tà kiến khởi lên nơi vị ấy, cho đó là thật, là chắc chắn: "Có cái ngã của ta."
[Chú thích: Xem thêm các đoạn bàn về "cái ngã" ở SN 44.10 và về "các vị trời" ở MN 100:42.4. Cả ba đoạn đều đặt câu hỏi, dựa trên những nghi ngờ về quá khứ và tương lai vừa nêu, rằng sau khi chết cái ngã có còn tồn tại (atthi) hay không (natthi).]
Tà kiến khởi lên nơi vị ấy, cho đó là thật, là chắc chắn: "Không có cái ngã của ta."
Tà kiến khởi lên nơi vị ấy, cho đó là thật, là chắc chắn: "Ta nhận biết cái ngã bằng chính cái ngã."
[Chú thích: So sánh Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.4.23, khi bàn về đời sau, nói rằng bậc hiền triết đã được điều phục và an tịnh thì "thấy cái ngã trong chính cái ngã". Ở đây động từ khác: kinh không nói về bậc hiền triết "thấy", mà về kẻ lý luận "nhận biết".]
Tà kiến khởi lên nơi vị ấy, cho đó là thật, là chắc chắn: "Ta nhận biết cái không phải ngã bằng chính cái ngã."
[Chú thích: Phương pháp phủ định được Yājñavalkya dùng để gạt bỏ những quan niệm nông cạn về cái ngã: "Cái ngã này là cái không phải cái kia, không phải cái kia".]
Tà kiến khởi lên nơi vị ấy, cho đó là thật, là chắc chắn: "Ta nhận biết cái ngã bằng cái không phải ngã."
[Chú thích: Kẻ lý luận vẫn dựa vào tri giác (saññā), nên không thấy được cái ngã, thứ được cho là thức thuần túy (viññāṇa) do thức nhận biết: "Nhờ đâu mà biết được cái biết?"]
Hoặc vị ấy có tà kiến như thế này:
"Cái ngã này của ta là kẻ nói, kẻ cảm nhận, kẻ nếm trải quả báo của những nghiệp thiện ác ở chỗ này chỗ kia; và cái ngã ấy của ta là thường còn, vững bền, trường tồn, không biến đổi, và sẽ tồn tại y như vậy mãi mãi."
[Chú thích: Tà kiến này, được gán cho tỳ-kheo Sāti ở MN 36:5.11, gợi nhớ cách Yājñavalkya bàn về cái ngã như "ánh sáng" của con người trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad: khi chết, cái ngã rời thân như người ta rời thân trong giấc mơ. Vị ấy là "kẻ làm" đi lại giữa các cõi, tự tạo ra những trải nghiệm của mình, và vì "bất tử" nên đi đâu tùy thích rồi trở về mà không bị ảnh hưởng. Cũng vậy, Aitareya Upaniṣad 3.1 nói cái ngã là cái nhờ đó người ta thấy, nghe, ngửi, nếm, nói và biết.]
Này các tỳ-kheo, điều này được gọi là tà kiến, rừng rậm của tà kiến, sa mạc của tà kiến, sự vặn vẹo của tà kiến, sự vùng vẫy của tà kiến, dây trói của tà kiến.
[Chú thích: "Sự vặn vẹo" (visūka) đi với "sự vùng vẫy" (vipphandita), và đôi khi với "sự né tránh" (visevita), để tả con ngựa chống lại hàm thiếc, hay con cua cố thoát khỏi trò chơi của trẻ. Visūka còn dùng cho một "màn trình diễn" múa hát, khiến nghĩa "vặn vẹo, xoay trở" rõ hơn. Khi dùng để tả tà kiến, những từ này gợi ra tiến trình chủ động phủ nhận và bóp méo, qua đó tà kiến định hình cách ta nhìn thế giới.]
Này các tỳ-kheo, kẻ phàm phu không nghe Pháp, bị trói buộc bởi dây trói của tà kiến, không được giải thoát khỏi sinh, già, chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ta nói rằng vị ấy không được giải thoát khỏi khổ.
Nhưng này các tỳ-kheo, bậc thánh đệ tử đã nghe Pháp—
Vị ấy đã thấy các bậc thánh, hiểu biết và được huấn luyện kỹ trong Pháp của các bậc thánh; đã thấy những bậc chân nhân, hiểu biết và được huấn luyện kỹ trong Pháp của những bậc chân nhân—
Vị ấy biết những điều nên chú tâm và những điều không nên chú tâm.
Vì biết những điều nên chú tâm và những điều không nên chú tâm, vị ấy không chú tâm vào những điều không nên chú tâm, và chú tâm vào những điều nên chú tâm.
Này các tỳ-kheo, những điều nào là không nên chú tâm mà vị ấy không chú tâm?
Đó là những điều mà khi chú tâm vào, lậu hoặc về dục chưa sinh khởi thì sinh khởi, hoặc lậu hoặc về dục đã sinh khởi thì tăng trưởng;
Lậu hoặc về hữu chưa sinh khởi thì sinh khởi, hoặc lậu hoặc về hữu đã sinh khởi thì tăng trưởng;
Lậu hoặc về vô minh chưa sinh khởi thì sinh khởi, hoặc lậu hoặc về vô minh đã sinh khởi thì tăng trưởng.
Đây là những điều không nên chú tâm mà vị ấy không chú tâm.
Này các tỳ-kheo, những điều nào là nên chú tâm mà vị ấy chú tâm?
Đó là những điều mà khi chú tâm vào, lậu hoặc về dục chưa sinh khởi thì không sinh khởi, hoặc lậu hoặc về dục đã sinh khởi thì được đoạn trừ;
Lậu hoặc về hữu chưa sinh khởi thì không sinh khởi, hoặc lậu hoặc về hữu đã sinh khởi thì được đoạn trừ;
Lậu hoặc về vô minh chưa sinh khởi thì không sinh khởi, hoặc lậu hoặc về vô minh đã sinh khởi thì được đoạn trừ.
Đây là những điều nên chú tâm mà vị ấy chú tâm.
Do không chú tâm vào những điều không nên chú tâm và chú tâm vào những điều nên chú tâm, những lậu hoặc chưa sinh khởi không sinh khởi, và những lậu hoặc đã sinh khởi thì được đoạn trừ.
Vị ấy chú tâm đúng cách: "Đây là khổ"; chú tâm đúng cách: "Đây là nguồn gốc của khổ"; chú tâm đúng cách: "Đây là sự chấm dứt khổ"; chú tâm đúng cách: "Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ".
[Chú thích: Đây là sự chứng ngộ Bốn Sự Thật Cao quý. Kinh phân biệt người chấp nhận chân lý của Pháp nhờ đức tin hay nhờ lý luận với người thật sự thấy bằng kinh nghiệm trực tiếp (SN 25.1). Cái thấy trực tiếp ấy, ở đây gọi là "chú tâm đúng cách", có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau.]
Và khi vị ấy chú tâm đúng cách như vậy, ba dây trói được đoạn trừ:
thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ.
[Chú thích: Vị ấy đã nhập vào dòng thánh, tức quả vị đầu tiên trong bốn quả vị giác ngộ. Thấy Bốn Sự Thật Cao quý thì cắt đứt vĩnh viễn ba dây trói này. Đây là khác biệt quyết định giữa "thấy" và biết nhờ đức tin hay lý luận (SN 25.1).]
Này các tỳ-kheo, đây gọi là những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ thấy rõ.
2. Lậu hoặc cần đoạn trừ nhờ thu thúc
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ nhờ thu thúc?
[Chú thích: Trong bài giảng về trình tự tu tập (như MN 38:35.1), sự thu thúc các căn đứng trước sự thấy Bốn Sự Thật Cao quý. Trình tự trong bài kinh này không theo thứ tự thực hành: nó mở đầu và kết thúc bằng những mục quan trọng nhất.]
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo, sau khi suy xét đúng cách, sống thu thúc nhãn căn.
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người sống không thu thúc nhãn căn, thì nơi người sống thu thúc nhãn căn, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
[Chú thích: Thu thúc các căn không phải là chối bỏ, mà là giải phóng tâm khỏi sự nghiện ngập.]
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy sống thu thúc nhĩ căn. Những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người sống không thu thúc nhĩ căn, thì nơi người sống thu thúc nhĩ căn, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy sống thu thúc tỷ căn. Những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người sống không thu thúc tỷ căn, thì nơi người sống thu thúc tỷ căn, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy sống thu thúc thiệt căn. Những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người sống không thu thúc thiệt căn, thì nơi người sống thu thúc thiệt căn, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy sống thu thúc thân căn. Những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người sống không thu thúc thân căn, thì nơi người sống thu thúc thân căn, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy sống thu thúc ý căn.
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người sống không thu thúc ý căn, thì nơi người sống thu thúc ý căn, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
[Chú thích: Ở mục đầu và mục cuối của bài kinh, "đoạn trừ" lậu hoặc nghĩa là trừ tận gốc bằng thánh đạo. Với các mục ở giữa, "đoạn trừ" chỉ mức độ khiêm tốn hơn: thực hành để chúng không khởi lên trong tâm. Điều này tạo điều kiện hỗ trợ cho những chứng ngộ sâu hơn, đồng thời cho tâm thời gian để sự hiểu biết chín muồi.]
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người sống không thu thúc, thì nơi người sống thu thúc, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ thu thúc.
3. Lậu hoặc cần đoạn trừ nhờ sử dụng
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ nhờ sử dụng?
[Chú thích: Đây là bốn vật dụng mà một vị tỳ-kheo sử dụng (paṭisevana), được cấp khi thọ giới. Ngoài ra còn có những vật dụng nhỏ khác được cho phép, như dao cạo, dây lưng, dép. Những đoạn này được dùng như lời nhắc chánh niệm mỗi khi dùng vật dụng.]
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo, sau khi suy xét đúng cách, sử dụng y phục:
"Chỉ để chống lạnh, chống nóng, chống sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng và rắn rết; chỉ để che chắn những phần kín đáo của thân."
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy sử dụng đồ ăn khất thực:
"Không phải để vui chơi, không phải để say sưa, không phải để trang điểm, không phải để làm đẹp; mà chỉ để thân này tồn tại, được duy trì, để chấm dứt sự tổn hại, để hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Như vậy, tôi sẽ chặn đứng cảm thọ cũ và không làm sinh khởi cảm thọ mới; nhờ vậy, tôi duy trì được thân mạng, không bị chê trách, và sống an ổn."
[Chú thích: Bài kinh tiếp theo (MN 3) cho một ví dụ về điều này. Trong một số bản dịch Hán, chữ "trang điểm" được gắn với y phục thay vì đồ ăn, và như vậy có vẻ hợp hơn. So sánh câu yātrāmātraprasiddhyarthaṁ, nghĩa là "chỉ để duy trì thân mạng", trong Manusmṛti 4.3.]
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy sử dụng chỗ ở:
"Chỉ để chống lạnh, chống nóng, chống sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng và rắn rết; chỉ để tránh những nguy hại của thời tiết, và để ưa thích sự ẩn cư."
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy sử dụng thuốc men và vật dụng cho người bệnh:
"Chỉ để chống lại những cảm thọ đau đớn do bệnh đã sinh khởi, và để đạt tới trạng thái không còn bức hại."
[Chú thích: Dùng thuốc vào việc khác ngoài chữa bệnh nghe có vẻ lạ, nhưng đây là một phạm trù rộng: nó gồm mọi thứ được dùng như thuốc bổ, đồ tiếp sức hay đồ giải khát, miễn không phải thức ăn đặc, như nước trái cây, mật ong, bơ sữa, gừng.]
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người không sử dụng những thứ ấy, thì nơi người sử dụng, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ sử dụng.
4. Lậu hoặc cần đoạn trừ nhờ kham nhẫn
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ nhờ kham nhẫn?
[Chú thích: Đức Thế Tôn trình bày con đường tu tập như một con đường tự do và hạnh phúc. Dù vậy, người tu luôn gặp nghịch cảnh trên đường. Những thứ ấy cần được kham nhẫn chịu đựng với sự kiên trì và sức mạnh, không bỏ cuộc.]
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo, sau khi suy xét đúng cách, chịu đựng được lạnh, nóng, đói, khát; chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng và rắn rết; chịu đựng những lời nói thô lỗ, khó nghe; và với những cảm thọ thuộc thân đã sinh khởi — đau đớn, nhức nhối, gay gắt, chua chát, khó chịu, không vừa ý, có thể cướp mạng sống — vị ấy có bản chất kham nhẫn chịu đựng.
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người không kham nhẫn, thì nơi người kham nhẫn, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ kham nhẫn.
5. Lậu hoặc cần đoạn trừ nhờ tránh né
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ nhờ tránh né?
[Chú thích: Mục này cho thấy kham nhẫn không phải lúc nào cũng là cách đáp lại đúng trước nghịch cảnh. Có những thứ tốt nhất là tránh né khi có thể. Điều này dĩ nhiên khác với thói quen hay sự thôi thúc né tránh những gì khó chịu.]
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo, sau khi suy xét đúng cách, tránh voi dữ, tránh ngựa dữ, tránh bò dữ, tránh chó dữ; tránh rắn, gốc cây, nơi có gai, hố, vực, đầm lầy và cống rãnh.
Chỗ ngồi nào, nơi đi lại nào, bạn bè xấu nào mà khi vị ấy ngồi, đi lại, thân cận, các vị đồng phạm hạnh có trí hiểu biết có thể cho là vị ấy đang ở trong những chỗ xấu, thì vị ấy sau khi suy xét đúng cách, tránh né chỗ ngồi ấy, nơi đi lại ấy, và những bạn bè xấu ấy.
[Chú thích: Điều này giới thiệu khái niệm khó dịch gocara, nghĩa đen là "bãi chăn bò", chỉ những nơi hay người mà một vị tỳ-kheo lui tới, nhất là khi đi khất thực. Thế nào là thích hợp còn tùy hoàn cảnh: nhận bữa ăn từ một người hành nghề mại dâm thì không có vấn đề, nhưng một vị tăng bước vào nhà thổ để nhận bữa ăn thì sẽ gây nghi ngờ. Okappeti nghĩa là "tin, cho là" chứ không phải "nghi".]
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người không tránh né, thì nơi người tránh né, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ tránh né.
6. Lậu hoặc cần đoạn trừ nhờ xua tan
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ nhờ xua tan?
[Chú thích: Mục này cho thấy người hành thiền không nên "không phán xét" mọi ý nghĩ, mà cần nhận ra và xua tan những ý nghĩ có hại. Bước đầu tiên là nhận ra chúng có hại, việc này đòi hỏi một mức chánh niệm và xả nhất định. Thường chỉ cần thế là đủ: khi đã chánh niệm về ý nghĩ xấu, tham, sân, si nuôi dưỡng nó bị chặn lại và nó tan đi; nếu tâm quá dính vào suy nghĩ có hại thì cần cách thực hành dứt khoát hơn (MN 20).]
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo, sau khi suy xét đúng cách, không chấp nhận dục tầm đã sinh khởi, mà xả bỏ nó, xua tan nó, loại trừ nó, làm cho nó không còn tồn tại; không chấp nhận sân tầm đã sinh khởi, mà xả bỏ nó, xua tan nó, loại trừ nó, làm cho nó không còn tồn tại; không chấp nhận hại tầm đã sinh khởi, mà xả bỏ nó, xua tan nó, loại trừ nó, làm cho nó không còn tồn tại; và bất cứ pháp ác, bất thiện nào đã sinh khởi, vị ấy không chấp nhận, mà xả bỏ, xua tan, loại trừ, làm cho nó không còn tồn tại.
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người không xua tan, thì nơi người xua tan, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ xua tan.
7. Lậu hoặc cần đoạn trừ nhờ tu tập
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ nhờ tu tập?
[Chú thích: "Tu tập" (bhāvanā) nghĩa đen là "làm cho lớn thêm", "nuôi lớn", "tăng cường". Những yếu tố lành đã có sẵn, nhất là nơi vị đã nhập dòng, được vun trồng để hỗ trợ cho sự giác ngộ hoàn toàn.]
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo, sau khi suy xét đúng cách, tu tập niệm giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ;
[Chú thích: Bảy yếu tố giác ngộ đặc biệt nhấn mạnh chiều kích cảm xúc và toàn vẹn của sự phát triển trong thiền định.]
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy tu tập trạch pháp giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ;
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy tu tập tinh tấn giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ;
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy tu tập hỷ giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ;
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy tu tập khinh an giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ;
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy tu tập định giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ;
Sau khi suy xét đúng cách, vị ấy tu tập xả giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, chín muồi thành sự buông bỏ.
[Chú thích: Công thức này rất đặc trưng của Mahāvagga trong Tương Ưng Bộ Kinh; ở những chỗ khác, đoạn văn giống hệt. Bốn từ — viễn ly, ly tham, đoạn diệt, chín muồi thành buông bỏ — thường được gắn với nhiều cách trình bày con đường, nhất là bảy yếu tố giác ngộ. Mỗi từ diễn tả một phẩm chất nền tảng của con đường, có thể hiểu như tiến trình đi sâu dần tới Niết-bàn, sự buông bỏ tối hậu, trong khi mỗi từ cũng là một tên gọi của Niết-bàn.]
Này các tỳ-kheo, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt nào có thể khởi lên nơi người không tu tập, thì nơi người tu tập, những lậu hoặc gây khổ não và thiêu đốt ấy không khởi lên.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ tu tập.
Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo đã đoạn trừ nhờ thấy rõ những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ thấy rõ; đã đoạn trừ nhờ thu thúc những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ thu thúc; đã đoạn trừ nhờ sử dụng những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ sử dụng; đã đoạn trừ nhờ kham nhẫn những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ kham nhẫn; đã đoạn trừ nhờ tránh né những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ tránh né; đã đoạn trừ nhờ xua tan những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ xua tan; đã đoạn trừ nhờ tu tập những lậu hoặc cần được đoạn trừ nhờ tu tập;
[Chú thích: Có những giáo lý nhấn mạnh vai trò quyết định của một phép thực hành duy nhất để vượt qua nhiều lậu hoặc, như tụng một câu chú hay chú tâm ghi nhận: nhiều vấn đề, một công cụ. Bài kinh này, cùng với các văn bản Phật giáo sơ kỳ nói chung, chọn hướng ngược lại: sự đa dạng của lậu hoặc đòi hỏi sự đa dạng của cách thực hành: nhiều vấn đề, nhiều công cụ.]
Này các tỳ-kheo, đây được gọi là: "Vị tỳ-kheo sống thu thúc tất cả lậu hoặc, đã cắt đứt tham ái, đã phá tan các dây trói, và nhờ hiểu đúng về ngã mạn mà đã chấm dứt khổ."
[Chú thích: Đây là bậc A-la-hán. Các dây trói được liệt kê đủ mười, chẳng hạn ở AN 10.13; "ngã mạn" là khuynh hướng của tâm phán xét và đánh giá theo cái tôi, qua tiến trình tưởng tượng đã bàn ở MN 1. Các vị ấy "đã chấm dứt khổ" theo nghĩa đã cắt đứt gốc của luân hồi, dù khi còn sống, vị A-la-hán vẫn có thể gặp khổ như bệnh tật.]
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, bài thứ hai, kết thúc.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.