buppou

Trung Bộ Kinh · bài 117/152

Đại Kinh Bốn Mươi

Mahācattārīsaka Sutta — bài kinh về bốn mươi pháp, tức hai mươi pháp thuộc phe thiện và hai mươi pháp thuộc phe bất thiện

24 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đại Kinh Bốn Mươi (Mahācattārīsaka Sutta) là bài thứ 117 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài giảng diễn ra tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), nơi Đức Thế Tôn trú ngụ cùng các tỳ-kheo. Người nghe là những vị xuất gia sống bằng khất thực, và bài kinh ghi lại trọn lời Ngài dạy trong một buổi ấy.

Tên bài nghe như một câu đố, nhưng nghĩa rất giản dị. Gần cuối bài, Đức Thế Tôn đếm lại những gì vừa giảng: hai mươi pháp thuộc phe thiện, hai mươi pháp thuộc phe bất thiện, cộng lại là bốn mươi. Vì thế bài có tên là Đại Kinh Bốn Mươi, để phân biệt với những bài cùng chủ đề ngắn hơn.

Toàn bộ nội dung xoay quanh con đường tám nhánh, tức tám cách được xem là đưa tới chấm dứt khổ đau: cái thấy đúng, cách suy nghĩ đúng, lời nói đúng, việc làm đúng, cách nuôi sống mình đúng, sự nỗ lực đúng, sự nhớ biết mình đang làm gì, và sự tập trung vững chắc. Đức Thế Tôn không liệt kê suông. Ngài đặt câu hỏi: điều gì làm cho tám nhánh ấy thành một con đường sống động, chứ không phải tám mục rời rạc? Câu trả lời nằm ngay đầu bài: sự tập trung vững chắc chỉ thành chánh định khi bảy nhánh kia cùng có mặt và cùng nâng đỡ nó.

Điểm khó, cũng là điểm hay của bài, nằm ở chỗ mỗi nhánh lại có hai loại. Một loại còn lậu hoặc, tức còn những thứ làm ô nhiễm tâm, và loại ấy đưa tới một đời sống tốt đẹp hơn nhưng vẫn còn trong vòng tái sinh. Loại kia là cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, và chỉ loại này mới là nhánh thật sự của con đường dẫn tới giải thoát. Cùng một chữ chánh, nhưng hai mức độ khác nhau, và bài kinh nói rõ mức nào là mức nào.

Các nhánh cũng không đứng yên. Chánh kiến hiểu việc phải làm, chánh tinh tấn làm việc ấy, chánh niệm theo dõi và kiểm soát, cho nên ba pháp này chạy quanh và xoay quanh mỗi nhánh mà bài điểm tên. Về cuối, Đức Thế Tôn nối các nhánh thành một chuỗi: chánh kiến sinh ra chánh tư duy, chánh tư duy sinh ra chánh ngữ, và cứ thế cho đến chánh định, chánh trí, chánh giải thoát. Bậc còn đang tu có tám nhánh; bậc đã hoàn tất có mười.

Bài khép lại bằng một lời thách thức: không ai có thể chê bai và bác bỏ bản trình bày này mà không tự bộc lộ chỗ sai của chính mình. Người đọc hôm nay không cần tin ngay vào lời ấy. Thứ đáng giữ lại trước hết là cách bài kinh nhìn một đời sống: cái hiểu đi trước, việc làm theo sau, và mỗi bước đều có người canh chừng. Bản dịch dưới đây chia đoạn đúng theo từng đoạn của bản Pali, nên người đọc có thể so lại từng câu nếu muốn.

[Chú thích của người dịch: Mahā là "lớn"; cattārīsaka là "bốn mươi". Tên gọi này phân biệt bài kinh với những bài cùng chủ đề ngắn hơn, và ý nghĩa của nó được chính Đức Thế Tôn giải thích ở đoạn 36.1.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Đây là một trong hai chỗ Trung Bộ Kinh trình bày trọn con đường tám nhánh; chỗ kia là bài 141, nơi từng nhánh được định nghĩa thật chi tiết. Bài này chú trọng sự tương tác giữa các nhánh, nhất là cách chúng nâng đỡ chánh định. Ý nghĩa tên kinh được giải thích ở đoạn cuối.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông về chánh định cao quý, cùng với những điều kiện nền tảng và những phương tiện hỗ trợ của nó.

[Chú thích: Phần đầu bài này cũng có trong Tương Ưng 45.28, và có thể xem bài ấy như lời chú giải cho bài này. Upanisa là điều kiện vừa cần thiết vừa có sức đưa tới mạnh mẽ. Parikkhāra là đồ nghề, là thứ cần có để làm việc.]

"Hãy lắng nghe và khéo chú tâm, Ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh định cao quý, cùng với những điều kiện nền tảng và những phương tiện hỗ trợ của nó?

Đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn và chánh niệm—

Này các tỳ-kheo, sự nhất tâm của tâm được trang bị bằng bảy nhánh ấy—

Được gọi là chánh định cao quý, cùng với những điều kiện nền tảng và cùng với những phương tiện hỗ trợ.

[Chú thích: Có thể đạt được định ngoài bối cảnh con đường tám nhánh, nhưng khi các nhánh không cùng vận hành thì định ấy không dẫn tới giải thoát, nên chưa phải chánh định. A-tỳ-đàm về sau gọi đây là thiền-na siêu thế, tức sự an trú được mọi nhánh của con đường cùng nâng đỡ và dẫn tới chứng ngộ Pháp, khác với thiền-na hiệp thế chỉ đưa tới tái sinh cõi Phạm Thiên. Truyền thống chú giải còn phân tích nó thành một loạt sát-na tâm xuất hiện đúng lúc chứng ngộ.]

Trong trường hợp ấy, này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước.

[Chú thích: Trong lộ trình tu tập dần dần, chính việc nghe Pháp đưa người ta vào con đường.]

Và này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước như thế nào?

Vị ấy hiểu rõ tà kiến là tà kiến, hiểu rõ chánh kiến là chánh kiến; như vậy là chánh kiến của vị ấy.

[Chú thích: Đây không phải học thuộc lòng, mà là khả năng phân biệt rạch ròi.]

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tà kiến?

"Không có quả của việc cho, không có quả của việc tế lễ, không có quả của việc cúng tế; không có quả báo của nghiệp thiện và nghiệp ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có chúng sinh hóa sinh; không có sa-môn hay bà-la-môn nào ở đời đã đi đúng đường, đã hành đúng đường, tự mình thắng tri và chứng ngộ đời này cùng đời sau rồi tuyên bố."

Đó, này các tỳ-kheo, là tà kiến.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh kiến?

Này các tỳ-kheo, Ta nói chánh kiến có hai loại—

Có chánh kiến còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ;

[Chú thích: Cụm từ này chỉ loại chánh kiến đưa tới một đời sống tốt đẹp nhưng không đưa tới giải thoát, và nó không dành riêng cho người theo đạo Phật. Sự bám giữ ở đây là nền tảng của một lần tái sinh nữa.]

Và có chánh kiến cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

[Chú thích: Đây là chánh kiến của người đang đi trên con đường cao quý. Các bài kinh khác không phân biệt hai loại nhánh đạo như vậy, và cách phân tích siêu thế này không có trong bản Hán hay bản Tây Tạng tương ứng. Siêu thế nghĩa là đưa ra khỏi thế giới luân hồi.]

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh kiến còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ?

"Có quả của việc cho, có quả của việc tế lễ, có quả của việc cúng tế; có quả báo của nghiệp thiện và nghiệp ác; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có chúng sinh hóa sinh; có sa-môn hay bà-la-môn nào ở đời đã đi đúng đường, đã hành đúng đường, tự mình thắng tri và chứng ngộ đời này cùng đời sau rồi tuyên bố."

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh kiến còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh kiến cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường?

Này các tỳ-kheo, đó là tuệ nơi người có tâm cao quý, có tâm không còn lậu hoặc, thành tựu con đường cao quý và đang tu tập con đường cao quý. Tuệ ấy chính là tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến và là một nhánh của con đường—

[Chú thích: Các bài kinh khác giải thích chánh kiến bằng đối tượng của sự hiểu, tức Bốn Sự Thật; ở đây trọng tâm chuyển sang cách hiểu, tức tuệ vận hành trong toàn bộ con đường. Cụm tâm cao quý, tâm không còn lậu hoặc là cách nói riêng của bài này: không thể hiểu là tâm đã sạch lậu hoặc, vì đây là người còn đang tu tập. Ở đây tâm phải được hiểu là ý hướng.]

Đó, này các tỳ-kheo, được gọi là chánh kiến cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

Vị ấy nỗ lực từ bỏ tà kiến và tiếp nhận chánh kiến; đó là chánh tinh tấn của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ tà kiến trong chánh niệm, tiếp nhận chánh kiến trong chánh niệm và an trú trong đó; đó là chánh niệm của vị ấy.

Như vậy, ba pháp này chạy quanh và xoay quanh chánh kiến, đó là: chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm.

[Chú thích: Con đường có tính tuần tự ở chỗ mỗi nhánh nương vào nhánh trước, nhưng không chỉ tuần tự, vì các nhánh luôn tương tác với nhau. Chánh kiến hiểu việc phải làm, chánh tinh tấn làm việc ấy, chánh niệm theo dõi và kiểm soát.]

Trong trường hợp ấy, này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước.

[Chú thích: Chánh kiến là điều kiện có trước cho mọi nhánh của con đường.]

Và này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước như thế nào?

Vị ấy hiểu rõ tà tư duy là tà tư duy, hiểu rõ chánh tư duy là chánh tư duy; như vậy là chánh kiến của vị ấy.

[Chú thích: Bài 19 kể cách Bồ-tát tu tập phép này.]

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tà tư duy?

Tư duy về dục lạc, tư duy về sân hận, tư duy về sự làm hại—

Đó, này các tỳ-kheo, là tà tư duy.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh tư duy?

Này các tỳ-kheo, Ta nói chánh tư duy có hai loại—

Có chánh tư duy còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ;

Và có chánh tư duy cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh tư duy còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ?

Tư duy về sự xuất ly, tư duy về không sân hận, tư duy về không làm hại—

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh tư duy còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh tư duy cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường?

Này các tỳ-kheo, đó là sự suy tư, sự tầm, sự tư duy, sự đặt tâm vào, sự đặt tâm vào thật mạnh, sự gắn tâm vào, và tạo tác của lời nói nơi người có tâm cao quý, có tâm không còn lậu hoặc, thành tựu con đường cao quý và đang tu tập con đường cao quý—

[Chú thích: Đoạn này cho thấy phạm vi của tư duy rộng hơn lối nghĩ bằng khái niệm, nhất là trong thiền sâu. Các từ trong danh sách hầu như đồng nghĩa, đều chỉ động tác của tâm hướng về đối tượng. Tạo tác của lời nói là tầm và tứ, tức phần chuẩn bị cho lời nói.]

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh tư duy cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

Vị ấy nỗ lực từ bỏ tà tư duy và tiếp nhận chánh tư duy; đó là chánh tinh tấn của vị ấy.


Vị ấy từ bỏ tà tư duy trong chánh niệm, tiếp nhận chánh tư duy trong chánh niệm và an trú trong đó; đó là chánh niệm của vị ấy.

Như vậy, ba pháp này chạy quanh và xoay quanh chánh tư duy, đó là: chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm.

Trong trường hợp ấy, này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước.

Và này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước như thế nào?

Vị ấy hiểu rõ tà ngữ là tà ngữ, hiểu rõ chánh ngữ là chánh ngữ; như vậy là chánh kiến của vị ấy.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tà ngữ?

Nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời vô nghĩa—

Đó, này các tỳ-kheo, là tà ngữ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh ngữ?

Này các tỳ-kheo, Ta nói chánh ngữ có hai loại—

Có chánh ngữ còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ;

Và có chánh ngữ cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh ngữ còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ?

Sự kiêng tránh nói dối, sự kiêng tránh nói lời chia rẽ, sự kiêng tránh nói lời thô ác, sự kiêng tránh nói lời vô nghĩa—

[Chú thích: Ở đây chánh ngữ chỉ được định nghĩa là sự kiêng tránh, trong khi nhiều chỗ khác còn tính cả việc nói lời xây dựng. Cách định nghĩa theo lối phủ định chính xác hơn về mặt kỹ thuật, vì nó bao cả những lúc im lặng hay đang trong thiền sâu.]

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh ngữ còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh ngữ cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường?

Này các tỳ-kheo, đó là sự ngừng lại, sự lìa bỏ, sự tránh xa và sự kiêng tránh bốn cách nói năng xấu ác nơi người có tâm cao quý, có tâm không còn lậu hoặc, thành tựu con đường cao quý và đang tu tập con đường cao quý—

[Chú thích: Chuỗi bốn từ đồng nghĩa này chỉ xuất hiện ở các văn bản về sau trong kinh tạng.]

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh ngữ cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

Vị ấy nỗ lực từ bỏ tà ngữ và tiếp nhận chánh ngữ; đó là chánh tinh tấn của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ tà ngữ trong chánh niệm, tiếp nhận chánh ngữ trong chánh niệm và an trú trong đó; đó là chánh niệm của vị ấy.

Như vậy, ba pháp này chạy quanh và xoay quanh chánh ngữ, đó là: chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm.

Trong trường hợp ấy, này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước.

Và này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước như thế nào?

Vị ấy hiểu rõ tà nghiệp là tà nghiệp, hiểu rõ chánh nghiệp là chánh nghiệp; như vậy là chánh kiến của vị ấy.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tà nghiệp?

Giết hại chúng sinh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục—

Đó, này các tỳ-kheo, là tà nghiệp.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh nghiệp?

Này các tỳ-kheo, Ta nói chánh nghiệp có hai loại—

Có chánh nghiệp còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ;

Và có chánh nghiệp cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh nghiệp còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ?

Sự kiêng tránh giết hại chúng sinh, sự kiêng tránh trộm cắp, sự kiêng tránh tà hạnh trong các dục—

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh nghiệp còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh nghiệp cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường?

Này các tỳ-kheo, đó là sự ngừng lại, sự lìa bỏ, sự tránh xa và sự kiêng tránh ba cách hành động xấu ác của thân nơi người có tâm cao quý, có tâm không còn lậu hoặc, thành tựu con đường cao quý và đang tu tập con đường cao quý—

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh nghiệp cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

Vị ấy nỗ lực từ bỏ tà nghiệp và tiếp nhận chánh nghiệp; đó là chánh tinh tấn của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ tà nghiệp trong chánh niệm, tiếp nhận chánh nghiệp trong chánh niệm và an trú trong đó; đó là chánh niệm của vị ấy.

Như vậy, ba pháp này chạy quanh và xoay quanh chánh nghiệp, đó là: chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm.

Trong trường hợp ấy, này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước.

Và này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước như thế nào?

Vị ấy hiểu rõ tà mạng là tà mạng, hiểu rõ chánh mạng là chánh mạng; như vậy là chánh kiến của vị ấy.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tà mạng?

Sự giả vờ, sự nịnh nọt, sự ra dấu gợi ý, sự chê bai hạ thấp người khác, sự dùng lợi lộc này để chạy theo lợi lộc khác—

[Chú thích: Điều này áp dụng cho mọi người, nhưng nhất là cho người xuất gia, khi họ tìm các vật dụng và lợi lộc bằng cách không trong sạch. Với người tại gia, năm nghề tà mạng được kể là buôn bán vũ khí, buôn bán chúng sinh, buôn bán thịt, buôn bán chất say và buôn bán thuốc độc.]

Đó, này các tỳ-kheo, là tà mạng.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh mạng?

Này các tỳ-kheo, Ta nói chánh mạng có hai loại—

Có chánh mạng còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ;

Và có chánh mạng cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.


Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh mạng còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ?

Này các tỳ-kheo, ở đây, bậc thánh đệ tử từ bỏ tà mạng và nuôi sống mình bằng chánh mạng—

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh mạng còn lậu hoặc, thuộc phần phước, cho quả báo là sự bám giữ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là chánh mạng cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường?

Này các tỳ-kheo, đó là sự ngừng lại, sự lìa bỏ, sự tránh xa và sự kiêng tránh tà mạng nơi người có tâm cao quý, có tâm không còn lậu hoặc, thành tựu con đường cao quý và đang tu tập con đường cao quý—

Đó, này các tỳ-kheo, là chánh mạng cao quý, không còn lậu hoặc, siêu thế, là một nhánh của con đường.

Vị ấy nỗ lực từ bỏ tà mạng và tiếp nhận chánh mạng; đó là chánh tinh tấn của vị ấy.

Vị ấy từ bỏ tà mạng trong chánh niệm, tiếp nhận chánh mạng trong chánh niệm và an trú trong đó; đó là chánh niệm của vị ấy.

Như vậy, ba pháp này chạy quanh và xoay quanh chánh mạng, đó là: chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm.

[Chú thích: Đây là nhánh thứ năm của con đường, và là nhánh cuối cùng được nói là có chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm bao quanh. Có lẽ dụng ý của bài là cho thấy ba pháp ấy cũng áp dụng cho năm nhánh đầu, còn ba nhánh sau thì đã hiển nhiên.]

Trong trường hợp ấy, này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước.

Và này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước như thế nào?

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh kiến, chánh tư duy sinh khởi; nơi người có chánh tư duy, chánh ngữ sinh khởi; nơi người có chánh ngữ, chánh nghiệp sinh khởi; nơi người có chánh nghiệp, chánh mạng sinh khởi; nơi người có chánh mạng, chánh tinh tấn sinh khởi; nơi người có chánh tinh tấn, chánh niệm sinh khởi; nơi người có chánh niệm, chánh định sinh khởi; nơi người có chánh định, chánh trí sinh khởi; nơi người có chánh trí, chánh giải thoát sinh khởi.

[Chú thích: Đoạn này nới chuỗi sinh khởi thêm hai yếu tố, là chánh trí và chánh giải thoát. Hai yếu tố ấy không chia thành hai loại như các nhánh trước, vì chúng chỉ thuộc về bậc đã hoàn tất.]

Như vậy, này các tỳ-kheo, bậc hữu học thành tựu tám nhánh, bậc A-la-hán thành tựu mười nhánh.

[Chú thích: Chánh trí là tuệ đã viên mãn nhờ đoạn tận lậu hoặc, còn chánh giải thoát là sự giải thoát khỏi tái sinh.]

Ở đây nữa, này các tỳ-kheo, nhờ chánh trí, việc đoạn trừ nhiều pháp xấu ác, bất thiện đi đến chỗ viên mãn.

Trong trường hợp ấy, này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước.

Và này các tỳ-kheo, chánh kiến đi trước như thế nào?

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh kiến, tà kiến bị bào mòn.

[Chú thích: Từ nijjiṇṇa, tức bị bào mòn, gắn với cách dùng của phái Ni-kiền-tử.]

Và nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà kiến thì cũng bị bào mòn nơi vị ấy.

Do duyên chánh kiến, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh tư duy, tà tư duy bị bào mòn; nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà tư duy cũng bị bào mòn nơi vị ấy; và do duyên chánh tư duy, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh ngữ, tà ngữ bị bào mòn; nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà ngữ cũng bị bào mòn nơi vị ấy; và do duyên chánh ngữ, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh nghiệp, tà nghiệp bị bào mòn; nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà nghiệp cũng bị bào mòn nơi vị ấy; và do duyên chánh nghiệp, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh mạng, tà mạng bị bào mòn; nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà mạng cũng bị bào mòn nơi vị ấy; và do duyên chánh mạng, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh tinh tấn, tà tinh tấn bị bào mòn; nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà tinh tấn cũng bị bào mòn nơi vị ấy; và do duyên chánh tinh tấn, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh niệm, tà niệm bị bào mòn; nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà niệm cũng bị bào mòn nơi vị ấy; và do duyên chánh niệm, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh định, tà định bị bào mòn; nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà định cũng bị bào mòn nơi vị ấy; và do duyên chánh định, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh trí, tà trí bị bào mòn; nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà trí cũng bị bào mòn nơi vị ấy; và do duyên chánh trí, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Này các tỳ-kheo, nơi người có chánh giải thoát, tà giải thoát bị bào mòn.

Và nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi do duyên tà giải thoát thì cũng bị bào mòn nơi vị ấy.

Và do duyên chánh giải thoát, nhiều pháp thiện đi đến chỗ tu tập viên mãn.

Như vậy, này các tỳ-kheo, hai mươi pháp thuộc phe thiện, hai mươi pháp thuộc phe bất thiện—

[Chú thích: Hai mươi ấy là mười nhánh, cộng thêm mười pháp mà mỗi nhánh ấy làm phát sinh.]

Pháp môn Đại Bốn Mươi đã được chuyển vận, không thể bị chuyển ngược lại bởi bất cứ sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên hay một ai trên đời.

Này các tỳ-kheo, nếu có sa-môn hay bà-la-môn nào nghĩ rằng có thể chê bai và bác bỏ pháp môn Đại Bốn Mươi này, thì ngay trong đời này, mười lời phê phán đúng pháp sẽ đến với ông ta, và ông ta thành chỗ đáng chê trách—

Nếu ông ta chê bai chánh kiến, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà kiến lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh tư duy, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà tư duy lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh ngữ, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà ngữ lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh nghiệp, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà nghiệp lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh mạng, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà mạng lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh tinh tấn, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà tinh tấn lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh niệm, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà niệm lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh định, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà định lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh trí, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà trí lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán;

Nếu ông ta chê bai chánh giải thoát, thì những sa-môn, bà-la-môn có tà giải thoát lại được ông ta kính trọng, được ông ta tán thán.

Này các tỳ-kheo, nếu có sa-môn hay bà-la-môn nào nghĩ rằng có thể chê bai và bác bỏ pháp môn Đại Bốn Mươi này, thì ngay trong đời này, mười lời phê phán đúng pháp ấy sẽ đến với ông ta, và ông ta thành chỗ đáng chê trách.

Này các tỳ-kheo, ngay cả những người trước kia từng hô hào mạnh mẽ thuyết không có nhân, thuyết không có hành động, thuyết không có gì, cũng không nghĩ rằng pháp môn Đại Bốn Mươi này đáng bị chê bai hay đáng bị bác bỏ.

[Chú thích: Đoạn này tối nghĩa; phần chú giải cho Tương Ưng 22.62 có bàn thêm.]

Vì sao vậy?

Vì sợ bị chê trách, bị công kích và bị bắt lỗi.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Đại Kinh Bốn Mươi, bài thứ bảy, đến đây kết thúc.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →