Trung Bộ Kinh · bài 116/152
Kinh Isigili
Isigili Sutta — bài kinh về ngọn núi Isigili, nơi năm trăm bậc Độc Giác từng trú
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài kinh này là bài thứ 116 trong Trung Bộ Kinh, tên Pali là Isigili Sutta, lấy tên ngọn núi Isigili làm tựa. Bối cảnh rất đơn giản: Đức Thế Tôn đang trú trên ngọn núi ấy, gần kinh đô Rājagaha (Vương Xá) của nước Magadha, và Ngài chỉ vào năm ngọn núi quanh đó để hỏi các tỳ-kheo có thấy chúng không. Từ đó Ngài kể một câu chuyện về tên gọi, rồi đọc lên danh sách các vị ẩn sĩ đã từng sống trên núi. Cả bài chỉ có vậy: không tranh luận với giáo phái nào, không phép lạ, không một khối giáo lý phức tạp.
Trung tâm của bài kinh là một khái niệm ít quen với người mới đọc: bậc Độc Giác (Pali paccekabuddha, Hán-Việt gọi là Bích Chi Phật). Đó là những người tự mình giác ngộ trong những thời đại không có vị Chánh đẳng giác nào xuất hiện để chỉ đường, và khác với các vị đệ tử A-la-hán ở chỗ các vị không lập Tăng đoàn, không để lại một hệ thống giáo pháp. Vì thế các vị chỉ còn lại trong ký ức tập thể qua tên gọi và qua những câu chuyện truyền miệng. Bài kinh này là một trong rất ít chỗ trong kinh tạng Pali còn giữ lại danh sách tên của các vị ấy.
Câu chuyện về tên núi được kể rất gọn. Thuở xưa có năm trăm bậc Độc Giác trú lâu trên núi này; người ta thấy các vị đi vào núi rồi không thấy ra nữa. Người đời bèn nói: "Ngọn núi này nuốt chửng các vị ẩn sĩ này!", và từ đó ngọn núi mang tên Isigili, ghép từ isi (ẩn sĩ) và gili (kẻ nuốt). Có điều, tên ấy rất có thể vốn chỉ là Isigiri, "núi của các ẩn sĩ", vì trong phương ngữ Magadha âm r chuyển thành âm l; câu chuyện dân gian đã nghe thành một nghĩa khác, và bài kinh giữ lại cả hai lớp nghĩa ấy.
Trước khi kể chuyện, Đức Thế Tôn lần lượt chỉ bốn ngọn núi khác — Vebhāra, Paṇḍava, Vepulla, Gijjhakūṭa — và nói rằng mỗi ngọn đều từng có tên gọi khác. Chỉ riêng Isigili là giữ nguyên tên cũ. Đây không phải chi tiết trang trí: nó cho thấy tên gọi là quy ước, có thể đổi, có thể mất, nhưng khi một cái tên được truyền lại thì nó giữ được ký ức về những người đã sống và đã tu ở đó. Tên cũ của bốn ngọn núi kia còn được nhắc trong một bài kinh khác của Tương Ưng Bộ.
Phần lớn bài kinh là danh sách. Mười ba tên đầu được nói bằng văn xuôi, mỗi tên một câu lặp lại đúng một khuôn; rồi đến một bài kệ dài, trong đó có thêm hàng chục tên nữa, tổng cộng khoảng một trăm lẻ ba vị. Nhiều tên trong đó là tên địa danh (Gandhāra, Kosala, Sumbha, Aṅga), nhiều tên là những từ có nghĩa (Sutavā là "đã học nhiều", Bhāvitatta là "đã tu dưỡng"), và một số chỗ không thể phân biệt chắc đâu là tên người, đâu là phẩm chất. Giới nghiên cứu cũng nhận thấy một số tên trùng với tên các vị tổ sư của Kỳ-na giáo, cho thấy hai truyền thống cùng thừa hưởng một kho ký ức chung về các bậc ẩn sĩ thời xưa.
Bài kinh khép lại bằng bốn câu kệ: các vị ấy đã đoạn tận sợi dây dẫn đến hữu, tức cái níu kéo đưa đến đời sống kế tiếp; đã vượt qua mọi ràng buộc; đã hoàn toàn tịch tịnh và không thể lường được; và lời cuối cùng là một lời đảnh lễ. Có thể đọc cả bài như một tấm bia tưởng niệm bằng lời: Đức Thế Tôn không giảng giáo lý ở đây, Ngài chỉ nhớ tên và bày tỏ lòng kính trọng với những người đã đi trước. Với người đọc hôm nay, không cần nhớ hết danh sách ấy; điều đáng giữ là thái độ của bài kinh — sự kính trọng với những bậc đã tu hành trước mình, và niềm tin rằng giác ngộ là điều con người có thể đạt được, kể cả khi không có ai chỉ đường.
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Đây là bài kinh thiên về lòng sùng mộ, liệt kê tên các vị ẩn sĩ thời xưa, và ở Sri Lanka được tụng như một bài hộ trì. Bản Hán tương đương chỉ giống phần mở đầu rồi khác hẳn, và chỉ có ba tên trùng rõ ràng là Ariṭṭha, Upariṭṭha và Sudassana. Các nhà dịch kinh đều lưu ý rằng nếu không có chú giải thì khó phân biệt đâu là tên người, đâu là phẩm chất, mà chú giải thì bỏ sót nhiều tên.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên ngọn núi Isigili.
[Chú thích: Rājagaha được bao quanh bởi một dãy đồi rộng, nơi nhiều hạng ẩn sĩ tìm đến tu tập.]
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, các ông có thấy ngọn núi Vebhāra kia không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Này các tỳ-kheo, ngọn núi Vebhāra này cũng đã từng có tên gọi khác, cách gọi khác.
Này các tỳ-kheo, các ông có thấy ngọn núi Paṇḍava kia không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Này các tỳ-kheo, ngọn núi Paṇḍava này cũng đã từng có tên gọi khác, cách gọi khác.
Này các tỳ-kheo, các ông có thấy ngọn núi Vepulla kia không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Này các tỳ-kheo, ngọn núi Vepulla này cũng đã từng có tên gọi khác, cách gọi khác.
[Chú thích: Những tên gọi cũ ấy được kể trong SN 15.20.]
Này các tỳ-kheo, các ông có thấy ngọn núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu) kia không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Này các tỳ-kheo, ngọn núi Gijjhakūṭa này cũng đã từng có tên gọi khác, cách gọi khác.
Này các tỳ-kheo, các ông có thấy ngọn núi Isigili này không?
[Chú thích: Ngày nay ngọn núi này có tên là Soṇagiri.]
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Này các tỳ-kheo, riêng ngọn núi Isigili này thì tên gọi vẫn đúng là tên ấy, cách gọi vẫn đúng là cách ấy.
Này các tỳ-kheo, thuở xưa đã có năm trăm bậc Độc Giác (Bích Chi Phật) trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này.
[Chú thích: Bậc Độc Giác là những vị đã giác ngộ trong những thời kỳ không có vị Chánh đẳng giác nào như Gotama xuất hiện. Chữ pacceka nghĩa là "riêng lẻ, độc lập": các vị ấy không lập thành bốn chúng đệ tử mà sống và tu tập riêng rẽ. Truyền thống cũng kể lại một số lời dạy của các vị ấy, dù thường nói rằng các vị không thuyết pháp.]
Người ta thấy các vị ấy đi vào ngọn núi này, nhưng khi đã vào rồi thì không còn thấy nữa.
Thấy vậy, người đời nói như vầy:
"Ngọn núi này nuốt chửng các vị ẩn sĩ này!"
Thế là tên gọi "Isigili, Isigili" ra đời.
[Chú thích: Cách giải thích tên gọi này là một lối chơi chữ có chủ ý: theo cách hiểu thông thường thì gili chỉ là giri (núi), vì trong phương ngữ Magadha, âm r chuyển thành âm l. Đoạn này không có trong bản Hán tương đương.]
Này các tỳ-kheo, Ta sẽ nói ra tên của các bậc Độc Giác;
[Chú thích: Văn bản Mahāvastu liệt kê nhiều vị Chánh đẳng giác thời quá khứ, trong đó có những tên trùng với danh sách các bậc Độc Giác ở đây, như Aparājita, Supatiṭṭhita, Bandhumā, Ariṭṭha, Tagarasikhī, Tissa, Sikhī, Accutagāma, Asayha, Uppala, Sudassana, Ketu, Jayanta và Uttara.]
Ta sẽ tán thán tên của các bậc Độc Giác;
Ta sẽ giảng tên của các bậc Độc Giác.
Hãy lắng nghe điều ấy, khéo tác ý, Ta sẽ nói.
[Chú thích: Phần lớn tên trong danh sách này không thể xác định chắc chắn, vì thiếu ngữ cảnh, vì nhiều tên vốn thông dụng, và vì nhiều tên lấy từ địa danh hay khái niệm. Đáng chú ý là một số tên trùng với tên các vị tổ sư Kỳ-na giáo, và ngay tên bài kinh cũng là tên một vị ẩn sĩ trong văn bản Kỳ-na giáo Isibhāsiyāiṁ. Có lẽ cả Phật giáo lẫn Kỳ-na giáo đều cùng khai thác một kho truyền thống chung về các bậc ẩn sĩ thời xưa.]
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Ariṭṭha đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Ariṭṭha nghĩa là "không thể bị phá hoại"; tên này có trong DN 32, đứng cạnh tên Nemi, và hai tên thường được ghép thành Ariṣṭanemi trong tiếng Phạn. Đây cũng là tên một vị Phật thời quá khứ, vị tổ sư thứ hai mươi hai của Kỳ-na giáo, và một vị ẩn sĩ Bà-la-môn nổi tiếng trong sử thi Mahābhārata.]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Upariṭṭha đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Tên này nghĩa là "con của Ariṭṭha". Trong Thag 16.9, đây là tên của đại đức Anuruddha (A-na-luật) trong một đời trước, khi còn là ẩn sĩ, nhưng không thể là cùng một người, vì bậc Độc Giác không còn tái sinh.]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Tagarasikhī đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Vị này còn xuất hiện trong SN 3.20, Ud 5.3 và Ja 390, nên khá nổi tiếng so với các bậc Độc Giác khác. Tên của vị ấy nghĩa là "có mào hoa nhài".]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Yasassī đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Yasassī nghĩa là "nổi tiếng".]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Sudassana đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Sudassana nghĩa là "dễ nhìn, xinh đẹp".]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Piyadassī đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Piyadassī nghĩa là "người nhìn với lòng thương", cũng là danh hiệu mà vua Ashoka (A-dục) ưa dùng.]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Gandhāra đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Gandhāra là tên một nước nổi tiếng về ngựa, ở vùng nay thuộc Afghanistan, và cũng là tên vị tổ khai lập nước ấy. Rất có thể đây là một vị ẩn sĩ đến từ Gandhāra; những tên địa danh khác ở phần sau cũng nên hiểu theo cách ấy.]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Piṇḍola đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Piṇḍola nghĩa là "người đi khất thực"; một vị tỳ-kheo nổi tiếng thuộc dòng Bhāradvāja cũng mang tên này.]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Upāsabha đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
[Chú thích: Usabha nghĩa là "bò đực", một tên thông dụng; Upāsabha nghĩa là "con của Usabha".]
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Nīta đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Tatha đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này,
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Sutavā đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này;
Này các tỳ-kheo, bậc Độc Giác tên Bhāvitatta đã trú lâu dài trên ngọn núi Isigili này.
Những bậc tinh hoa, không còn khổ não, không còn mong cầu,
[Chú thích: Sattasāra là một từ hiếm, ngoài bài này chỉ gặp trong các văn bản muộn và thường là dị bản, nên nghĩa không thật chắc; ở đây hiểu là những bậc tinh hoa của chúng sinh. Bài kệ này không có trong bản Hán tương đương.]
những vị đã tự mình chứng đạt giác ngộ;
của những bậc tối thượng trong loài người ấy, những vị đã nhổ sạch mũi tên,
hãy nghe Ta tán thán tên của các vị ấy.
Ariṭṭha, Upariṭṭha, Tagarasikhī, Yasassī,
<!-- hết phần 1 -->
Sudassana, Piyadassī, bậc khéo giác ngộ;
Gandhāra, Piṇḍola, và Upāsabha,
Nīta, Tatha, Sutavā, Bhāvitatta.
[Chú thích: Bốn tên này nằm trong cùng một phạm vi nghĩa: "đã được giáo dục", "chân thật", "đã học nhiều", "đã tu dưỡng".]
Sumbha, Subha, Matula, và Aṭṭhama,
[Chú thích: Sumbha là tên một nước, nên có thể đây là vị ẩn sĩ đến từ đó; Sumbha cũng là tên một a-tu-la có thế lực. Subha nghĩa là "đẹp", Matula nghĩa là "cặp đôi", Aṭṭhama nghĩa là "thứ tám", và ba tên này không thấy ở chỗ khác. Chú giải bỏ qua cả bài kệ này.]
rồi Assumegha, Anīgha, và Sudāṭha;
[Chú thích: Assumegha nghĩa là "mây nước mắt", có lẽ nên đọc là Sumegha, "mây đẹp", tên một ngọn núi. Sudāṭha nghĩa là "răng mạnh"; trong Ja 361, một con sư tử và một con hổ mang tên Sudāṭha và Subāhu được xem là đời trước của Sāriputta và Moggallāna. Anīgha nghĩa là "không còn khổ não", không thấy ở chỗ khác.]
những bậc Độc Giác đã đoạn tận sợi dây dẫn đến hữu,
và Hiṅgū cùng Hiṅga, những vị có đại uy lực.
[Chú thích: Hiṅgū là tên một loại nhựa thơm, tiếng Hindi gọi là hing; Hiṅga là tên một dân tộc trong văn bản Mārkaṇḍeya Purāṇa. Cả hai không thấy ở chỗ khác.]
hai vị ẩn sĩ tên Jāli, và Aṭṭhaka;
[Chú thích: Jāli nghĩa là "người có lưới", đôi khi hiểu là "người đánh cá", và là tên một người con của Vessantara trong Ja 547. Aṭṭhaka là tên một vị ẩn sĩ trong kinh Vệ-đà, có nhắc trong MN 95.]
rồi Kosala đã giác ngộ, rồi Subāhu;
[Chú thích: Kosala là tên một nước, nên có thể đây là vị ẩn sĩ đến từ đó. Subāhu là tên thông dụng của các chiến binh và vương tử.]
Upanemi, Nemi, và Santacitta,
[Chú thích: Nemi nghĩa là "vành bánh xe", và là tên vị tổ sư thứ hai mươi hai của Kỳ-na giáo, nơi đó tên này là cách nói tắt của Ariṣṭanemi, "vành xe không thể phá hoại". Chữ so ở đây là đại từ nối, không phải một tên riêng.]
bậc chân thật, bậc đúng như thật, bậc không còn ô nhiễm, và bậc sáng suốt.
[Chú thích: Dòng này không có chú giải, nên mỗi từ có thể hiểu là tên riêng hoặc là phẩm chất.]
Kāḷa và Upakāḷa, Vijita và Jita,
[Chú thích: Kāḷa nghĩa là "đen" hoặc "thời gian", một tên thông dụng; Upakāḷa là con của vị ấy. Có thể đọc vijito jito thành vijito ajito, tức "người đã chinh phục" và "người chưa bị chinh phục", khi đó tên Ajita trùng với vị tổ sư thứ hai của Kỳ-na giáo.]
Aṅga và Paṅga, và cả Guttijita;
[Chú thích: Aṅga nghĩa là "chi thể", cũng là tên một nước và đôi khi được dùng làm tên người; Paṅga có lẽ là cách viết khác của Vaṅga, tức xứ Bengal. Guttijita nghĩa là "người hộ trì và chinh phục các giác quan".]
Passi đã từ bỏ sự chấp giữ, gốc rễ của khổ đau,
[Chú thích: Passi rõ ràng nhất nghĩa là "người thấy", tức ẩn sĩ. Nhưng có thể từ này bắt nguồn từ passa, "sườn", và khi ấy đây chính là Pārśva, vị tổ sư thứ hai mươi ba của Kỳ-na giáo, người kế vị ngay trước Mahāvīra.]
Aparājita đã chiến thắng uy lực của Ma vương.
[Chú thích: Aparājita nghĩa là "không bị ai chinh phục", một tên thông dụng. Đây cũng là tên của Śāntinātha, vị tổ sư thứ mười sáu của Kỳ-na giáo, trong một đời trước.]
Satthar, Pavattar, Sarabhaṅga, Lomahaṁsa,
[Chú thích: Satthar nghĩa là "bậc thầy", dùng được cả trong Phật giáo lẫn Kỳ-na giáo; Pavattar nghĩa là "người tuyên bố, người chuyển vận". Sarabhaṅga nghĩa là "kẻ bẻ gãy mũi tên", từng là ẩn sĩ trong rừng Daṇḍaka, có nhắc trong MN 56; Lomahaṁsa nghĩa là "dựng tóc gáy".]
Uccaṅgamāya, Asita, Anāsava;
[Chú thích: Asita nghĩa là "người sẫm tối", tên vị ẩn sĩ đã đến thăm Siddhattha sau khi thái tử ra đời (Snp 3.11), và cũng là tên một vị ẩn sĩ khác có nhắc trong MN 93. Anāsava nghĩa là "không còn lậu hoặc"; thoát khỏi mọi ô nhiễm là một khái niệm then chốt của Kỳ-na giáo.]
Manomaya, và Bandhumā, người đã cắt đứt lòng kiêu mạn,
rồi Adhimutta, và Ketumā, bậc không còn ô nhiễm.
[Chú thích: Chú giải cho rằng trong dòng này chỉ có Tadādhimutta là tên, nhưng ở đây tách tadā ra làm từ nối và lấy Adhimutta làm tên riêng. Ketumā nghĩa là "được trang điểm bằng cờ hiệu", giống như mặt trời, và tương ứng với Ketu trong Mahāvastu. Riêng vimalo thì theo chú giải là phẩm chất "không còn ô nhiễm", nhưng cũng có thể là tên riêng, trùng với vị tổ sư thứ mười ba của Kỳ-na giáo.]
Ketumbharāga, Mātaṅga, và Ariya,
[Chú thích: Ketumbharāga nghĩa là "màu mây". Mātaṅga nghĩa là "voi", cũng là tên một người cùng đinh đã trở thành ẩn sĩ; trong vài bản khác, vị ấy sinh lên cõi Phạm Thiên, điều mâu thuẫn với bài kinh này vì bậc Độc Giác không còn tái sinh. Ariya là tên một vị ẩn sĩ trong văn bản Kỳ-na giáo Isibhāsiyāiṁ, người dạy về cách cư xử lễ độ.]
rồi Accuta, Accutagāma, và Byāmaka;
[Chú thích: Accuta nghĩa là "không sa đọa", một tên của thần lửa Agni và về sau của Viṣṇu, Kṛṣṇa. Accutagāma có lẽ là dạng sai lệch của Acyutāgraja, tên người anh của Kṛṣṇa; Byāmaka nghĩa là "dài một sải tay".]
Sumaṅgala, Dabbila, Supatiṭṭhita,
[Chú thích: Sumaṅgala nghĩa là "điềm lành", một tên thông dụng; Ja 420 kể chuyện người giữ công viên tên Sumaṅgala vô tình làm chết một bậc Độc Giác. Dabbila có lẽ chỉ người dùng cái muôi tế lễ, có nhắc trong MN 93. Supatiṭṭhita nghĩa là "khéo an lập", có thể là tên riêng hoặc phẩm chất.]
Asayha, Khemābhirata, và Sorata.
[Chú thích: Ba tên này nghĩa là "không thể bị đánh bại", "người yêu thích chỗ an ổn" và "người hiền hòa".]
Durannaya, Saṅgha, và cả Ujjaya,
[Chú thích: Durannaya nghĩa là "khó theo dõi"; Saṅgha nghĩa là "cộng đồng", một tên khá thông dụng trong kinh Pali. Ujjaya nghĩa là "chiến thắng", và thành Ujjeni ở Avantī đôi khi cũng được viết là Ujjaya, nên có thể đây là người từ đó.]
một vị ẩn sĩ khác là Sayha, bậc có sự nỗ lực không ai bằng;
[Chú thích: Sayha là tên một vùng núi, nơi sông Godāvarī bắt nguồn, ở phía nam Ujjeni. Có lẽ cả tên này lẫn tên trước đều chỉ người từ những vùng ấy.]
Ānanda, Nanda và Upananda, mười hai vị,
[Chú thích: Chú giải nói mỗi tên có bốn vị, cộng lại là mười hai. Cả ba tên đều thông dụng và đều nghĩa là "niềm vui".]
và Bhāradvāja, bậc đang mang thân xác cuối cùng.
[Chú thích: Bhāradvāja là một trong bảy vị ẩn sĩ lớn của kinh Vệ-đà, người mở đầu một dòng dõi có tiếng, có nhắc trong DN 32 và MN 95.]
Bodhi, Mahānāma, và cả Uttara,
[Chú thích: Ba tên này nghĩa là "giác ngộ", "đại danh" và "phương bắc" hoặc "tối thượng", đều là tên thông dụng.]
Kesī, Sikhī, Sundara, và Dvārabhāja;
[Chú thích: Kesī là tên một đệ tử nổi tiếng của Pārśva trong Kỳ-na giáo; Sikhī là tên một vị Phật thời quá khứ, và cả hai tên đều gợi đến mặt trời. Bản Mahāsaṅgīti đọc tên thứ tư là Dvārabhāja, trong khi các bản khác đọc Bhāradvāja, vốn đã có ở đoạn trước. Ở đây giữ theo bản Mahāsaṅgīti và để nguyên chỗ căng ấy, vì Bhāradvāja là tên của nhiều người.]
Tissa và Upatissa, những vị đã cắt đứt dây trói buộc vào hữu,
[Chú thích: Tissa là tên thông dụng, nghĩa là "sinh dưới sao Thiên Lang". Tissa và Bhāradvāja từng là tên hai vị đệ tử chính của bậc Chánh đẳng giác Kassapa, gắn với núi Vepulla ở Rājagaha trong một thời quá khứ.]
Upasikhi và Sikharī, những vị đã cắt đứt ái dục.
[Chú thích: Bản Pali ở đây đọc là Upasikhi và Sikharī; nhiều bản khác và bản tiếng Anh đọc là Upasīdarī và Sīdarī. Sīdarī có lẽ nghĩa là "người sống bên sông Sīdā", con sông trong dãy Himalaya (Hy-mã-lạp-sơn) nơi các ẩn sĩ tụ tập, và cũng có thể là cách viết khác của sītā, "lạnh", một tên sông thông dụng. Vị tổ sư thứ mười của Kỳ-na giáo có tên gần giống là Śītala.]
Maṅgala đã giác ngộ, bậc không còn tham,
[Chú thích: Maṅgala nghĩa là "điềm lành", một tên thông dụng.]
Usabha đã cắt đứt lưới ái, gốc rễ của khổ đau;
[Chú thích: Usabha nghĩa là "bò đực", tiếng Phạn là ṛṣabha; đây là tên của nhiều vị ẩn sĩ Bà-la-môn và của vị tổ sư thứ nhất của Kỳ-na giáo.]
Upanīta, bậc đã chứng đạt trạng thái an tịnh,
[Chú thích: Upanīta nghĩa là "người đã được dẫn vào", chỉ nghi lễ upanayana, khi một cậu bé bắt đầu học kinh Vệ-đà.]
Uposatha, Sundara, và Saccanāma.
[Chú thích: Uposatha nghĩa là "ngày trai giới", cũng là tên con voi của vua Sudassana trong DN 17. Đây là Sundara thứ hai trong danh sách, nên một trong hai có thể chỉ là phẩm chất. Saccanāma nghĩa là "người có tên đúng như thật", gợi nhớ vị ẩn sĩ Satyakāma Jābāla trong Chāndogya Upaniṣad.]
Jeta, Jayanta, Paduma, và Uppala;
[Chú thích: Jeta và Jayanta đều nghĩa là "người chiến thắng", Paduma và Uppala đều nghĩa là "hoa sen". Trong Kỳ-na giáo, Paduma gợi đến vị tổ sư thứ sáu Padmaprabha, còn Jayanta là một ẩn sĩ tu trong núi.]
Padumuttara, Rakkhita, và Pabbata;
[Chú thích: Padumuttara nghĩa là "hoa sen tối thượng", tên vị Phật thứ mười ba trong hai mươi tám vị Phật. Rakkhita nghĩa là "được hộ trì", một tên thông dụng; Pabbata nghĩa là "núi", có lẽ chỉ một vị ẩn sĩ sống trên núi, như trong Ja 505. Trong truyền thống Vệ-đà cũng có một nhà thơ tên Parvata, cháu của Nārada.]
Mānatthaddha, Sobhita, bậc không còn tham,
[Chú thích: Mānatthaddha nghĩa là "cứng đầu vì kiêu mạn"; một bà-la-môn mang tên này có mặt trong SN 7.15, và rất có thể đó là biệt danh cũ được giữ lại.]
và Kaṇha đã giác ngộ, bậc có tâm khéo giải thoát.
[Chú thích: Kaṇha nghĩa là "đen", quen thuộc hơn với tên tiếng Phạn là Krishna. Vị thần ấy không nổi bật trong các bài kinh, nhưng DN 3 cho thấy người ta đã biết đến một số nét trong câu chuyện về vị ấy.]
Những vị này và những vị khác, bậc đại uy lực,
[Chú thích: Đếm lại thì có 103 vị Độc Giác được nêu tên trong bài kinh này, nhưng con số ấy không chắc chắn, vì có những từ lưỡng nghĩa giữa tên riêng và phẩm chất.]
những bậc Độc Giác đã đoạn tận sợi dây dẫn đến hữu;
các bậc đại ẩn sĩ ấy, những vị đã vượt qua mọi ràng buộc,
hãy đảnh lễ các vị đã hoàn toàn tịch tịnh, không thể lường được.
Kinh Isigili đã kết thúc, bài thứ sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.