buppou

Trung Bộ Kinh · bài 62/152

Đại Kinh Dạy Rāhula

Mahārāhulovāda Sutta — bài kinh dạy dài dành cho Rāhula

19 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đại Kinh Dạy Rāhula (Mahārāhulovāda Sutta) là bài kinh thứ 62 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài trong Kinh tạng Pali. Đây là một trong số ít bài Đức Thế Tôn dạy riêng cho con trai mình là Rāhula (La-hầu-la), và là bài dài nhất trong số đó. So với những bài kinh nặng về giáo lý, bài này gần như một cuốn sổ tay thực hành: mỗi đoạn là một việc phải làm, chứ không phải một điều phải hiểu.

Câu chuyện bắt đầu vào một buổi sáng ở Sāvatthī. Đức Thế Tôn đắp y, mang bát, vào thành khất thực; Rāhula — theo chú giải, khi ấy mười tám tuổi và đã xuất gia làm sa-di — đi ngay sau lưng Ngài. Giữa đường, Đức Thế Tôn quay lại dạy Rāhula một câu duy nhất: mọi sắc, dù quá khứ, vị lai hay hiện tại, dù trong hay ngoài, thô hay tế, đều phải được thấy bằng tuệ rằng "cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi". Rāhula hỏi lại: chỉ có sắc thôi sao? Đức Thế Tôn bổ sung bốn thứ còn lại — thọ, tưởng, hành, thức. Năm thứ ấy là năm uẩn, tức năm nhóm mà người ta vẫn đồng hóa thành "tôi".

Rāhula không đi khất thực nữa. Ngài quay lại, ngồi xuống gốc một cây và bắt đầu quán sát. Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đi ngang, thấy vậy bèn khuyên ngài tu niệm hơi thở. Đến chiều, Rāhula ra khỏi chỗ ngồi tĩnh lặng, đến hỏi Đức Thế Tôn cách tu niệm hơi thở. Điều đáng chú ý là Đức Thế Tôn không trả lời ngay câu hỏi ấy: Ngài giảng trước về năm giới — đất, nước, lửa, gió, không gian.

Phần giảng về năm giới chạm vào thân thể một cách rất cụ thể. Giới đất là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương; giới nước là mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi; giới lửa là cái làm ấm thân, cái tiêu hóa thức ăn; giới gió là hơi thở, là những luồng khí trong bụng và trong ruột; giới không gian là lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng. Đức Thế Tôn chỉ ra rằng phần bên trong thân này và phần thế giới bên ngoài đều là cùng một giới, và không có gì trong đó đáng để gọi là "tôi" hay "của tôi".

Từ đó Ngài đưa ra một loạt phép tu rất đời thường. Hãy tu tập như đất: đất nhận cả đồ sạch lẫn đồ dơ mà không ghê tởm, cũng vậy, tâm không bị những xúc khả ý hay bất khả ý cuốn đi. Nước, lửa, gió, không gian cũng thế. Rồi đến tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả; quán bất tịnh để bỏ tham; tưởng vô thường để bỏ ngã mạn.

Cuối cùng, khi nền đã được dọn, Đức Thế Tôn mới dạy trọn mười sáu bước niệm hơi thở, từ biết mình thở dài hay ngắn, đến làm lắng dịu thân hành, cảm nhận hỷ và lạc, định tâm, giải thoát tâm, rồi quán vô thường, ly tham, diệt, từ bỏ. Bài kinh khép lại bằng một câu đáng nhớ: khi niệm hơi thở được tu tập như vậy, ngay cả những hơi thở cuối cùng cũng chấm dứt trong sự biết rõ, chứ không phải trong sự không biết. Rāhula hoan hỷ tán thán lời dạy ấy; bản dịch dưới đây giữ nguyên cách lặp của nguyên bản, vì ở bài này sự lặp chính là phương pháp.

[Chú thích của người dịch: Mahā là "lớn, dài"; tên này phân biệt bài kinh với Tiểu Kinh Dạy Rāhula, tức bài 147 trong bộ này.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: So với bài 61, ở đây Đức Thế Tôn giao cho Rāhula những phép tu tập cao hơn và giới thiệu nhiều cách thiền khác nhau. Cấu trúc khác thường của bài làm người ta đặt câu hỏi về tính lịch sử của nó; những chi tiết liên quan đã được ghi lại dọc đường, và điều này sẽ được bàn trong chú thích cuối bài.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.

Tôn giả Rāhula cũng đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đi theo sát sau lưng Đức Thế Tôn.

[Chú thích: Theo chú giải, lúc này Rāhula đã mười tám tuổi, nên bài kinh này diễn ra vài năm sau bài 61.]

Rồi Đức Thế Tôn quay lại nhìn Tôn giả Rāhula và nói:

Này Rāhula, bất cứ sắc nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao quý; xa hay gần — tất cả sắc ấy đều phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi."

Chỉ có sắc thôi sao, bạch Thế Tôn? Chỉ có sắc thôi sao, bạch Thiện thệ?

[Chú thích: Chú giải nói rằng Đức Thế Tôn quở Rāhula vì Rāhula đang ngắm vẻ đẹp của cha mình và nghĩ rằng mình giống cha. Bài 61 đoạn 8.2 cũng ngầm cho thấy tính tự phụ là một điểm yếu của Rāhula.]

Sắc, này Rāhula, cùng với thọ, này Rāhula, tưởng, này Rāhula, hành, này Rāhula, và thức, này Rāhula.

Rồi Tôn giả Rāhula nghĩ: "Hôm nay, sau khi đã được Đức Thế Tôn trực tiếp khuyên dạy như vậy, ai còn đi vào làng khất thực nữa?" Nghĩ vậy, Rāhula quay trở lại, ngồi xuống dưới gốc một cây, xếp chân bằng tròn, giữ thân thẳng, và đặt chánh niệm trước mặt.

[Chú thích: Ngài quyết định ngồi thiền thay vì đi ăn trong ngày hôm ấy.]

Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) thấy Tôn giả Rāhula đang ngồi dưới gốc một cây, xếp chân bằng tròn, giữ thân thẳng, đặt chánh niệm trước mặt.

[Chú thích: Lúc này Rāhula hẳn vẫn còn là sa-di, vì chưa đủ hai mươi tuổi. Chính Tôn giả Sāriputta là người đã độ Rāhula xuất gia.]

Thấy vậy, ngài bảo Tôn giả Rāhula:

Này Rāhula, hãy tu tập niệm hơi thở.

Này Rāhula, niệm hơi thở khi được tu tập và làm cho sung mãn thì có quả lớn, có lợi ích lớn.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Rāhula ra khỏi chỗ độc cư, đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rāhula bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, niệm hơi thở được tu tập thế nào, làm cho sung mãn thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn?

[Chú thích: Mạch kể ở đây rất lạ: Đức Thế Tôn khuyên Rāhula quán sắc, rồi Sāriputta khuyên ngài tu niệm hơi thở, nhưng khi Rāhula hỏi Đức Thế Tôn về điều đó thì Ngài lại không trả lời ngay mà tiếp tục giảng rộng về sắc. Bản Hán tương ứng (EA 17.1) kể khác hẳn: không có Sāriputta, và chính Đức Thế Tôn dạy Rāhula cả niệm hơi thở, quán bất tịnh và bốn phạm trú. Cả hai bản đều cho thấy Rāhula được dạy nhiều phép thiền, nhưng bản Pali ngụ ý rằng tâm ngài cần được rèn qua các phép khác trước khi đi vào niệm hơi thở — điều mà Sāriputta không biết.]

Này Rāhula, cái gì ở bên trong, thuộc về tự thân, cứng, rắn chắc, được thủ giữ, ấy là:

[Chú thích: Đoạn này phần lớn theo bài 140 đoạn 14.4 và bài 28 đoạn 4.1; bài sau do chính Tôn giả Sāriputta thuyết. Ở hai bài ấy, phần giảng rộng nằm gọn trong mạch quán sắc, còn ở đây thì hơi đột ngột.]

Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn chưa tiêu, phân; hay bất cứ thứ gì khác ở bên trong, thuộc về tự thân, cứng, rắn chắc, được thủ giữ —

Này Rāhula, đây được gọi là giới đất bên trong.

Giới đất bên trong và giới đất bên ngoài — cả hai chỉ là giới đất.

Cái ấy phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vầy: "Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi."

Khi đã thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán giới đất và khiến tâm lìa tham đối với giới đất.

Này Rāhula, còn giới nước là gì?

Giới nước có thể là bên trong, có thể là bên ngoài.

Này Rāhula, còn giới nước bên trong là gì?

Cái gì ở bên trong, thuộc về tự thân, là nước, thuộc về nước, được thủ giữ, ấy là:

Mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ lỏng, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu; hay bất cứ thứ gì khác ở bên trong, thuộc về tự thân, là nước, thuộc về nước, được thủ giữ —

Này Rāhula, đây được gọi là giới nước bên trong.

Giới nước bên trong và giới nước bên ngoài — cả hai chỉ là giới nước.

Cái ấy phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vầy: "Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi."

Khi đã thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán giới nước và khiến tâm lìa tham đối với giới nước.

Này Rāhula, còn giới lửa là gì?

Giới lửa có thể là bên trong, có thể là bên ngoài.

Này Rāhula, còn giới lửa bên trong là gì?

Cái gì ở bên trong, thuộc về tự thân, là lửa, thuộc về lửa, được thủ giữ, ấy là:

Cái làm ấm nóng, cái làm thân già đi, cái thiêu đốt, cái khiến đồ đã ăn, đã uống, đã nhai, đã nếm được tiêu hóa đúng cách; hay bất cứ thứ gì khác ở bên trong, thuộc về tự thân, là lửa, thuộc về lửa, được thủ giữ —

Này Rāhula, đây được gọi là giới lửa bên trong.

Giới lửa bên trong và giới lửa bên ngoài — cả hai chỉ là giới lửa.

Cái ấy phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vầy: "Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi."

Khi đã thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán giới lửa và khiến tâm lìa tham đối với giới lửa.

Này Rāhula, còn giới gió là gì?

Giới gió có thể là bên trong, có thể là bên ngoài.

Này Rāhula, còn giới gió bên trong là gì?

Cái gì ở bên trong, thuộc về tự thân, là gió, thuộc về gió, được thủ giữ, ấy là:

Gió đi lên, gió đi xuống, gió trong bụng, gió trong ruột, gió chạy khắp các chi thể, hơi thở vào và hơi thở ra; hay bất cứ thứ gì khác ở bên trong, thuộc về tự thân, là gió, thuộc về gió, được thủ giữ —

Này Rāhula, đây được gọi là giới gió bên trong.

Giới gió bên trong và giới gió bên ngoài — cả hai chỉ là giới gió.

Cái ấy phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vầy: "Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi."

Khi đã thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán giới gió và khiến tâm lìa tham đối với giới gió.

Này Rāhula, còn giới không gian là gì?

Giới không gian có thể là bên trong, có thể là bên ngoài.


Này Rāhula, còn giới không gian bên trong là gì?

Cái gì ở bên trong, thuộc về tự thân, là không gian, thuộc về không gian, được thủ giữ, ấy là:

Lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng; khoảng trống nhờ đó mà nuốt được đồ đã ăn, đã uống, đã nhai, đã nếm; khoảng trống nơi đồ ấy dừng lại; khoảng trống nhờ đó đồ ấy thoát ra ở phía dưới; hay bất cứ thứ gì khác ở bên trong, thuộc về tự thân, là không gian, thuộc về không gian, là trống, thuộc về trống, là lỗ hổng, thuộc về lỗ hổng, không bị chạm tới, được thịt và máu thủ giữ —

[Chú thích: Bản Mahāsaṅgīti ở đây có thêm một đoạn dài, hình như được đưa từ tạng Vi Diệu Pháp vào (chẳng hạn Vb 3:10.5): không gian, thuộc không gian, trống, thuộc trống, lỗ hổng, thuộc lỗ hổng, không bị chạm tới, được thịt và máu thủ giữ.]

Này Rāhula, đây được gọi là giới không gian bên trong.

Giới không gian bên trong và giới không gian bên ngoài — cả hai chỉ là giới không gian.

Cái ấy phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vầy: "Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi."

Khi đã thấy đúng như thật bằng chánh tuệ như vậy, tâm vị ấy nhàm chán giới không gian, tâm lìa tham đối với giới không gian.

Này Rāhula, hãy tu tập giống như đất.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như đất, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, ví như người ta quẳng đồ sạch lên đất, quẳng đồ dơ lên đất, quẳng phân lên đất, quẳng nước tiểu lên đất, quẳng nước bọt lên đất, quẳng mủ lên đất, quẳng máu lên đất; đất không vì thế mà ghê sợ, xấu hổ hay tởm chán.

[Chú thích: Ví dụ này và các ví dụ về nước, lửa, gió tiếp theo đều có trong Tăng Chi Bộ 9.11 đoạn 4.1, cũng do Tôn giả Sāriputta thuyết.]

Cũng vậy, này Rāhula, ông hãy tu tập giống như đất.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như đất, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, hãy tu tập giống như nước.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như nước, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, ví như người ta rửa đồ sạch trong nước, rửa đồ dơ trong nước, rửa phân trong nước, rửa nước tiểu trong nước, rửa nước bọt trong nước, rửa mủ trong nước, rửa máu trong nước; nước không vì thế mà ghê sợ, xấu hổ hay tởm chán.

Cũng vậy, này Rāhula, ông hãy tu tập giống như nước.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như nước, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, hãy tu tập giống như lửa.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như lửa, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, ví như lửa đốt cháy đồ sạch, đốt cháy đồ dơ, đốt cháy phân, đốt cháy nước tiểu, đốt cháy nước bọt, đốt cháy mủ, đốt cháy máu; lửa không vì thế mà ghê sợ, xấu hổ hay tởm chán.

Cũng vậy, này Rāhula, ông hãy tu tập giống như lửa.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như lửa, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, hãy tu tập giống như gió.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như gió, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, ví như gió thổi vào đồ sạch, thổi vào đồ dơ, thổi vào phân, thổi vào nước tiểu, thổi vào nước bọt, thổi vào mủ, thổi vào máu; gió không vì thế mà ghê sợ, xấu hổ hay tởm chán.

Cũng vậy, này Rāhula, ông hãy tu tập giống như gió.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như gió, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, hãy tu tập giống như không gian.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như không gian, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, ví như không gian không trụ vào đâu cả;

[Chú thích: Câu này chỉ xuất hiện một lần trong các văn bản Phật giáo sơ kỳ; về sau nó được trích dẫn đích danh trong Milindapañha (Mi-tiên vấn đáp), đoạn 7.4.6.]

Cũng vậy, này Rāhula, ông hãy tu tập giống như không gian.

Này Rāhula, khi ông tu tập giống như không gian, các xúc khả ý và không khả ý khởi lên sẽ không chiếm giữ được tâm ông.

Này Rāhula, hãy tu tập tâm từ.

Này Rāhula, khi ông tu tập tâm từ, mọi sân hận sẽ được đoạn trừ.

Này Rāhula, hãy tu tập tâm bi.

Này Rāhula, khi ông tu tập tâm bi, mọi sự não hại sẽ được đoạn trừ.

Này Rāhula, hãy tu tập tâm hỷ.

Này Rāhula, khi ông tu tập tâm hỷ, mọi sự bất mãn sẽ được đoạn trừ.

Này Rāhula, hãy tu tập tâm xả.

Này Rāhula, khi ông tu tập tâm xả, mọi sự sân ghét sẽ được đoạn trừ.

Này Rāhula, hãy tu tập quán bất tịnh.

Này Rāhula, khi ông tu tập quán bất tịnh, mọi tham sẽ được đoạn trừ.

Này Rāhula, hãy tu tập tưởng vô thường.

Này Rāhula, khi ông tu tập tưởng vô thường, mọi ngã mạn "tôi là" sẽ được đoạn trừ.

Này Rāhula, hãy tu tập niệm hơi thở.

Này Rāhula, niệm hơi thở khi được tu tập và làm cho sung mãn thì có quả lớn, có lợi ích lớn.

Này Rāhula, niệm hơi thở được tu tập thế nào, làm cho sung mãn thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn?

Này Rāhula, ở đây, một tỳ-kheo đi vào rừng, đến gốc cây, hay vào một căn nhà trống, ngồi xuống, xếp chân bằng tròn, giữ thân thẳng, đặt chánh niệm trước mặt.

Vị ấy, với chánh niệm, thở vào; với chánh niệm, thở ra.

[Chú thích: Về phép tu này, xem chú thích ở bài 118 đoạn 17.2.]

Khi thở vào dài, vị ấy biết: "Ta đang thở vào dài." Khi thở ra dài, vị ấy biết: "Ta đang thở ra dài."


Khi thở vào ngắn, vị ấy biết: "Ta đang thở vào ngắn." Khi thở ra ngắn, vị ấy biết: "Ta đang thở ra ngắn."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, cảm nhận trọn cả thân." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, cảm nhận trọn cả thân."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, làm lắng dịu thân hành." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, làm lắng dịu thân hành."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, cảm nhận hỷ." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, cảm nhận hỷ."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, cảm nhận lạc." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, cảm nhận lạc."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, cảm nhận tâm hành." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, cảm nhận tâm hành."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, làm lắng dịu tâm hành." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, làm lắng dịu tâm hành."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, cảm nhận tâm." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, cảm nhận tâm."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, làm cho tâm hoan hỷ." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, làm cho tâm hoan hỷ."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, định tâm." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, định tâm."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, giải thoát tâm." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, giải thoát tâm."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, quán vô thường." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, quán vô thường."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, quán ly tham." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, quán ly tham."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, quán diệt." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, quán diệt."

Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở vào, quán từ bỏ." Vị ấy luyện tập như vầy: "Ta sẽ thở ra, quán từ bỏ."

Này Rāhula, niệm hơi thở được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy thì có quả lớn, có lợi ích lớn.

Này Rāhula, khi niệm hơi thở được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, thì cả những hơi thở cuối cùng cũng chấm dứt trong sự biết rõ, chứ không phải trong sự không biết.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

[Chú thích: Bản Hán kể đầy đủ hơn: Rāhula đi nơi khác, tu các tầng thiền-na, chứng quả A-la-hán rồi trở về báo cho Đức Thế Tôn, và Ngài khen ngài là người đứng đầu trong những ai mong mỏi học tập. Bản Pali lại đặt việc chứng ngộ ấy ở bài 147 và lời khen ở Tăng Chi Bộ 1.209; rất khó đánh giá tính xác thực lịch sử của bài, vì bản Hán tuy mạch lạc hơn nhưng lại thêm phần kết, còn bộ Tăng Nhất A-hàm chứa nó là bộ A-hàm muộn nhất và ít chính thống nhất trong các bộ còn lại. Đổi lại, bản Pali có chỗ chuyển mạch đột ngột và ngụ ý rằng Sāriputta đã dạy sai phép thiền, nhưng phần riêng của bản Hán lại gồm cả nhân vật Sāriputta lẫn những lời dạy gắn với ngài, nên khó giải thích là do mất văn bản; có lẽ cả hai đều được mở rộng từ một bản gốc giản dị hơn, nơi Đức Thế Tôn dạy con trai mình cách thiền.]

Đại Kinh Dạy Rāhula, bài thứ hai, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →