Trung Bộ Kinh · bài 61/152
Kinh Dạy Rāhula
Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta — bài kinh Đức Thế Tôn dạy Rāhula tại Ambalaṭṭhika
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Dạy Rāhula (Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta) là bài kinh thứ sáu mươi mốt trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Điều làm bài kinh này đặc biệt là người được dạy: không phải một vị trưởng lão, một vị vua hay một du sĩ ngoại đạo, mà là Rāhula, con trai của Đức Thế Tôn, lúc bấy giờ còn là một cậu bé vừa xuất gia làm sa-di. Người thầy ở đây là cha, người học là con; nhưng bài học không hề nhẹ nhàng.
Đức Thế Tôn là danh hiệu các đệ tử dùng để gọi vị thầy của mình, nghĩa là bậc được tôn kính trên đời. Bài kinh mở ra vào một buổi chiều tại Rājagaha (Vương Xá), khi Ngài ra khỏi chỗ tĩnh cư và đi bộ đến chỗ Rāhula trú, trong khu Ambalaṭṭhika bên cạnh Trúc Lâm. Cuộc gặp gỡ bắt đầu rất đời thường: cậu bé sắp chỗ ngồi, múc nước cho cha rửa chân.
Thay vì giảng một bài dài về đạo đức, Đức Thế Tôn dùng chính chậu nước ấy để dạy. Ngài để lại một ít nước trong chậu và hỏi con có thấy không; rồi Ngài đổ chỗ nước ấy đi và hỏi lại; rồi lật úp chậu; rồi lật ngửa chậu lên cho con thấy cái chậu trống không. Bốn hình ảnh nối tiếp nhau, và mỗi lần Ngài nói thêm một câu: người không biết xấu hổ khi cố ý nói dối thì thân phận sa-môn của người ấy chỉ còn ít ỏi như chỗ nước kia, rồi bị quăng bỏ, bị lật úp, cuối cùng là trống rỗng.
Để cậu bé thấy rõ hơn, Ngài kể chuyện một con voi chúa ra trận. Con voi ấy dùng chân, thân, đầu, tai, ngà và đuôi để chiến đấu, nhưng vẫn giữ gìn cái vòi; chừng nào nó còn giữ vòi, người quản tượng còn biết nó chưa liều mạng. Khi nào nó dùng cả vòi, nghĩa là nó đã sẵn sàng làm mọi thứ. Cũng vậy, một người đã không còn biết xấu hổ khi nói dối thì chẳng còn việc ác nào là không làm.
Từ đó, bài kinh chuyển sang phần hướng dẫn cụ thể. Đức Thế Tôn hỏi cái gương dùng để làm gì, và Rāhula đáp: để soi lại mình. Ngài nói hành động của thân, của lời và của ý cũng phải được xem xét lại như vậy, ba lần. Trước khi làm, người tu tự hỏi hành động ấy có làm hại mình, hại người, hại cả hai hay không, và nó là thiện hay bất thiện, có kết quả là khổ hay an lạc. Trong khi làm, người ấy hỏi lại chính câu ấy. Sau khi làm xong, người ấy xét lại lần nữa; nếu đã lỡ làm điều bất thiện thì phải thưa trình và mở rõ với bậc Đạo sư hay với các vị đồng phạm hạnh, rồi tự chế ngự về sau. Riêng hành động của ý thì không cần thú nhận với ai, nhưng người ấy phải tự kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm nó.
Bài kinh khép lại bằng một cái nhìn rộng: mọi sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ, vị lai và hiện tại đều thanh lọc hành động của mình bằng cách xem xét lại nhiều lần như thế. Với người đọc hôm nay, Kinh Dạy Rāhula không phải một bản danh sách điều cấm, mà là một phương pháp rèn sự chú ý: trước khi nói hay làm, dừng lại một chút, nhìn xem việc ấy sẽ đi về đâu. Đó là lý do bài kinh ngắn này vẫn được xem là một trong những lời dạy gần gũi nhất của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy.
[Chú thích của người dịch: Rāhula là con trai của Đức Thế Tôn, xuất gia làm sa-di khi còn nhỏ. Ovāda là lời khuyên dạy; Ambalaṭṭhikā là tên gọi một tòa nhà bên cạnh Trúc Lâm, nơi bài kinh diễn ra.]
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Đức Thế Tôn dạy con trai mình là Rāhula về sự nguy hiểm của lời nói dối, dùng cử chỉ để minh họa. Đề tài giản dị và cách dạy phù hợp với trẻ nhỏ ủng hộ nhận định của chú giải rằng đây là lúc Rāhula còn là một cậu bé, vừa mới xuất gia. Bài kinh này cũng nằm trong số những bài được vua Asoka (A-dục) khuyên Tăng đoàn nên học, theo Sắc lệnh trên đá thứ ba.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Rāhula trú tại Ambalaṭṭhika.
[Chú thích: Chú giải nói đây là một tòa nhà bên cạnh Trúc Lâm, không phải chỗ của nhà nghỉ dành cho vua được nhắc trong Trường Bộ Kinh 1.]
Rồi vào buổi chiều, Đức Thế Tôn ra khỏi chỗ tĩnh cư, đi đến Ambalaṭṭhika, đến chỗ Tôn giả Rāhula.
Tôn giả Rāhula thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến.
Thấy vậy, ông sắp đặt một chỗ ngồi và múc nước để rửa chân.
Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ ngồi đã sắp đặt.
Ngồi xong, Ngài rửa chân.
Tôn giả Rāhula đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Sau đó, Đức Thế Tôn để lại một ít nước trong chậu nước, gọi Tôn giả Rāhula và nói:
"Này Rāhula, con có thấy chút nước còn lại này trong chậu không?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này Rāhula, thân phận sa-môn của những ai không biết xấu hổ khi cố ý nói dối cũng chỉ còn ít ỏi như vậy."
[Chú thích của người dịch: Sāmañña là thân phận hay tư cách của một sa-môn, tức người xuất gia sống đời không nhà.]
Bấy giờ, Đức Thế Tôn vứt bỏ chút nước còn lại trong chậu, gọi Tôn giả Rāhula và nói:
"Này Rāhula, con có thấy chút nước còn lại ấy đã bị vứt bỏ không?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này Rāhula, thân phận sa-môn của những ai không biết xấu hổ khi cố ý nói dối cũng bị vứt bỏ như vậy."
Rồi Đức Thế Tôn lật úp chậu nước lại, gọi Tôn giả Rāhula và nói:
"Này Rāhula, con có thấy chậu nước này đã bị lật úp không?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này Rāhula, thân phận sa-môn của những ai không biết xấu hổ khi cố ý nói dối cũng bị lật úp như vậy."
Sau đó, Đức Thế Tôn lật ngửa chậu nước lại, gọi Tôn giả Rāhula và nói:
"Này Rāhula, con có thấy chậu nước này trống không và rỗng tuếch không?"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
"Này Rāhula, thân phận sa-môn của những ai không biết xấu hổ khi cố ý nói dối cũng trống không và rỗng tuếch như vậy."
Này Rāhula, ví như một con voi chúa của vua, có ngà lớn như cán cày, kéo nổi vật nặng, dòng giống tốt, đã quen chinh chiến. Khi vào trận, nó lấy chân trước mà làm việc, lấy chân sau mà làm việc, lấy thân trước mà làm việc, lấy thân sau mà làm việc, lấy đầu mà làm việc, lấy tai mà làm việc, lấy ngà mà làm việc, lấy đuôi mà làm việc; nhưng nó vẫn giữ gìn cái vòi.
[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn tỏ rõ tài dạy dỗ của mình. Ngài mở đầu bằng động tác và cử chỉ, để minh họa điều mà với một cậu bé rất dễ thành khô khan và trừu tượng. Rồi Ngài khơi tiếp hứng thú của cậu bé bằng cách so sánh đời sống sa-môn với những con voi chiến.]
Bấy giờ người quản tượng nghĩ như vầy:
"Voi chúa của vua này có ngà lớn như cán cày, kéo nổi vật nặng, dòng giống tốt, đã quen chinh chiến. Khi vào trận, nó lấy chân trước mà làm việc, lấy chân sau mà làm việc, lấy thân trước mà làm việc, lấy thân sau mà làm việc, lấy đầu mà làm việc, lấy tai mà làm việc, lấy ngà mà làm việc, lấy đuôi mà làm việc; nhưng nó vẫn giữ gìn cái vòi.
Voi chúa của vua vẫn chưa bỏ mạng mình."
Nhưng khi voi chúa của vua ấy, có ngà lớn như cán cày, kéo nổi vật nặng, dòng giống tốt, đã quen chinh chiến, vào trận và lấy chân trước mà làm việc, lấy chân sau mà làm việc, lấy thân trước mà làm việc, lấy thân sau mà làm việc, lấy đầu mà làm việc, lấy tai mà làm việc, lấy ngà mà làm việc, lấy đuôi mà làm việc, lấy cả vòi mà làm việc, thì bấy giờ người quản tượng nghĩ như vầy:
"Voi chúa của vua này có ngà lớn như cán cày, kéo nổi vật nặng, dòng giống tốt, đã quen chinh chiến. Khi vào trận, nó lấy chân trước mà làm việc, lấy chân sau mà làm việc, lấy thân trước mà làm việc, lấy thân sau mà làm việc, lấy đầu mà làm việc, lấy tai mà làm việc, lấy ngà mà làm việc, lấy đuôi mà làm việc, lấy cả vòi mà làm việc.
Voi chúa của vua đã bỏ mạng rồi.
Giờ đây voi chúa của vua chẳng còn việc gì là không chịu làm nữa."
Cũng vậy, này Rāhula, với ai mà không biết xấu hổ khi cố ý nói dối, Ta nói rằng kẻ ấy chẳng còn việc ác nào là không làm.
Vì vậy, này Rāhula, con phải học tập như vầy: "Dù chỉ để đùa, ta cũng sẽ không nói lời dối trá."
[Chú thích: Điều này không có nghĩa là người ta không được nói đùa, hay lời đùa không được nhắc đến những điều không thật. Muốn phạm tội nói dối, người ta phải cố ý làm cho người khác tin một điều sai. Truyện nền trong Luật tạng của bộ phái Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ kể rằng Rāhula từng tinh nghịch chỉ cho khách rằng Đức Thế Tôn đang ở núi Linh Thứu, trong khi Ngài đang ở Trúc Lâm.]
Con phải học tập đúng như vậy, này Rāhula.
"Này Rāhula, con nghĩ sao,
cái gương dùng để làm gì?"
[Chú thích: Gương đồng đánh bóng là cách người thời ấy ngắm chính mình, một thú làm đỏm của tuổi trẻ. Giới tu sĩ bị cấm dùng gương, trừ khi bị bệnh.]
"Để soi lại chính mình, bạch Thế Tôn."
Này Rāhula, cũng vậy, sau khi đã xem xét lại nhiều lần, con mới nên làm hành động qua thân; sau khi đã xem xét lại nhiều lần, con mới nên làm hành động qua lời; sau khi đã xem xét lại nhiều lần, con mới nên làm hành động qua ý.
[Chú thích: Đức Thế Tôn minh họa khái niệm trừu tượng là sự tự xét mình bằng hình ảnh có lẽ căn bản nhất: cái thấy chính khuôn mặt mình. Xem thêm Chāndogya Upaniṣad 8.7.4 và Kaṭha Upaniṣad 2.3.5.]
Này Rāhula, khi con muốn làm một hành động qua thân, con phải xem xét lại chính hành động qua thân ấy:
"Hành động qua thân này mà con muốn làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua thân này mà con muốn làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, con phải cố hết sức mà đừng làm loại hành động qua thân như vậy.
[Chú thích: Sasakkaṁ do sa (của mình) hợp với sakka (khả năng), nghĩa là làm hết khả năng của mình.]
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua thân này mà con muốn làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác, cũng không làm hại cả hai,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con nên làm loại hành động qua thân như vậy.
Này Rāhula, ngay khi con đang làm một hành động qua thân, con phải xem xét lại chính hành động qua thân ấy:
"Hành động qua thân này mà con đang làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua thân này mà con đang làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, con hãy ngưng lại, đừng làm loại hành động qua thân như vậy.
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua thân này mà con đang làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác, cũng không làm hại cả hai,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con hãy tiếp tục làm loại hành động qua thân như vậy.
Này Rāhula, sau khi đã làm một hành động qua thân, con phải xem xét lại chính hành động qua thân ấy:
"Hành động qua thân này mà con đã làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua thân này mà con đã làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, loại hành động qua thân như vậy con phải thưa trình, mở ra và nói rõ với bậc Đạo sư hoặc với các vị đồng phạm hạnh hiểu biết;
sau khi đã thưa trình, mở ra và nói rõ, con phải tự chế ngự từ đây về sau.
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua thân này mà con đã làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác, cũng không làm hại cả hai,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con hãy sống với niềm vui và hoan hỷ vì điều ấy, ngày đêm học tập trong các pháp thiện.
Này Rāhula, khi con muốn làm một hành động qua lời, con phải xem xét lại chính hành động qua lời ấy:
[Chú thích: Sự tỉnh giác ba lần, trước, trong và sau khi hành động, được nhấn mạnh trong phần phân tích của Luật tạng về giới cấm cố ý nói dối.]
"Hành động qua lời này mà con muốn làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua lời này mà con muốn làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, con phải cố hết sức mà đừng làm loại hành động qua lời như vậy.
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua lời này mà con muốn làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con nên làm loại hành động qua lời như vậy.
[Chú thích của người dịch: Câu Pali ở đoạn này chỉ nêu hai vế đầu, thiếu vế thứ ba là cả hai; các đoạn tương ứng khác đều nêu đủ ba vế.]
Này Rāhula, ngay khi con đang làm một hành động qua lời, con phải xem xét lại chính hành động qua lời ấy:
"Hành động qua lời này mà con đang làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua lời này mà con đang làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, con hãy ngưng lại, đừng làm loại hành động qua lời như vậy.
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua lời này mà con đang làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác, cũng không làm hại cả hai,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con hãy tiếp tục làm loại hành động qua lời như vậy.
Này Rāhula, sau khi đã làm một hành động qua lời, con phải xem xét lại chính hành động qua lời ấy:
"Hành động qua lời này mà con đã làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua lời này mà con đã làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, loại hành động qua lời như vậy con phải thưa trình, mở ra và nói rõ với bậc Đạo sư hoặc với các vị đồng phạm hạnh hiểu biết;
sau khi đã thưa trình, mở ra và nói rõ, con phải tự chế ngự từ đây về sau.
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua lời này mà con đã làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác, cũng không làm hại cả hai,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con hãy sống với niềm vui và hoan hỷ vì điều ấy, ngày đêm học tập trong các pháp thiện.
Này Rāhula, khi con muốn làm một hành động qua ý, con phải xem xét lại chính hành động qua ý ấy:
"Hành động qua ý này mà con muốn làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua ý này mà con muốn làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, con phải cố hết sức mà đừng làm loại hành động qua ý như vậy.
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua ý này mà con muốn làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác, cũng không làm hại cả hai,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con nên làm loại hành động qua ý như vậy.
Này Rāhula, ngay khi con đang làm một hành động qua ý, con phải xem xét lại chính hành động qua ý ấy:
"Hành động qua ý này mà con đang làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua ý này mà con đang làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, con hãy ngưng lại, đừng làm loại hành động qua ý như vậy.
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua ý này mà con đang làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác, cũng không làm hại cả hai,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con hãy tiếp tục làm loại hành động qua ý như vậy.
Này Rāhula, sau khi đã làm một hành động qua ý, con phải xem xét lại chính hành động qua ý ấy:
"Hành động qua ý này mà con đã làm, có dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai không?
Đây có phải là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ không?"
Này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua ý này mà con đã làm, quả thật dẫn đến sự làm hại chính mình, làm hại người khác, hay làm hại cả hai,
đây là hành động bất thiện, có kết quả là khổ, có quả báo là khổ", thì này Rāhula, con phải kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm loại hành động qua ý như vậy;
sau khi đã kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm, con phải tự chế ngự từ đây về sau.
[Chú thích: Hành động của ý không thuộc phạm vi Luật tạng, nên không cần thú nhận như hành động của thân và của lời. Đây là chuyện tự trọng của riêng mỗi người, không phải chuyện ràng buộc từ bên ngoài.]
Nhưng này Rāhula, nếu trong khi xem xét lại, con biết như vầy:
"Hành động qua ý này mà con đã làm, không dẫn đến sự làm hại chính mình, không làm hại người khác, cũng không làm hại cả hai,
đây là hành động thiện, có kết quả là an lạc, có quả báo là an lạc", thì này Rāhula, con hãy sống với niềm vui và hoan hỷ vì điều ấy, ngày đêm học tập trong các pháp thiện.
Này Rāhula, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã thanh lọc hành động qua thân, đã thanh lọc hành động qua lời, đã thanh lọc hành động qua ý. Tất cả những vị ấy đều đã thanh lọc hành động qua thân sau khi đã xem xét lại nhiều lần, đã thanh lọc hành động qua lời sau khi đã xem xét lại nhiều lần, đã thanh lọc hành động qua ý sau khi đã xem xét lại nhiều lần.
Này Rāhula, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời vị lai sẽ thanh lọc hành động qua thân, sẽ thanh lọc hành động qua lời, sẽ thanh lọc hành động qua ý. Tất cả những vị ấy đều sẽ thanh lọc hành động qua thân sau khi đã xem xét lại nhiều lần, sẽ thanh lọc hành động qua lời sau khi đã xem xét lại nhiều lần, sẽ thanh lọc hành động qua ý sau khi đã xem xét lại nhiều lần.
Này Rāhula, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào hiện nay đang thanh lọc hành động qua thân, đang thanh lọc hành động qua lời, đang thanh lọc hành động qua ý. Tất cả những vị ấy đều đang thanh lọc hành động qua thân sau khi đã xem xét lại nhiều lần, đang thanh lọc hành động qua lời sau khi đã xem xét lại nhiều lần, đang thanh lọc hành động qua ý sau khi đã xem xét lại nhiều lần.
Vì vậy, này Rāhula, con phải học tập như vầy: "Ta sẽ thanh lọc hành động qua thân sau khi đã xem xét lại nhiều lần, ta sẽ thanh lọc hành động qua lời sau khi đã xem xét lại nhiều lần, ta sẽ thanh lọc hành động qua ý sau khi đã xem xét lại nhiều lần."
Con phải học tập đúng như vậy, này Rāhula.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Dạy Rāhula tại Ambalaṭṭhika, bài thứ nhất, đã xong.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.