Trung Bộ Kinh · bài 133/152
Đại Kinh Kaccāna Một Đêm Lành
Mahākaccānabhaddekaratta Sutta — bài kinh Mahākaccāna giảng phần phân tích bài kệ về người có một đêm lành
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Đại Kinh Kaccāna Một Đêm Lành (Mahākaccānabhaddekaratta Sutta) là bài kinh thứ 133 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Đây là bài thứ ba trong bốn bài kinh liên tiếp cùng xoay quanh một bài kệ ngắn, thường được gọi là bài kệ về người có một đêm lành; bốn bài ấy là MN 131, MN 132, MN 133 và MN 134. Cả bốn không phải bốn dị bản của cùng một bài, mà mỗi bài đặt cùng bài kệ ấy vào một hoàn cảnh khác nhau. Ở bài này, người giảng phần phân tích không phải Đức Thế Tôn mà là Tôn giả Mahākaccāna (Đại Ca Chiên Diên).
Bài kinh mở ra tại Rājagaha (Vương Xá), ở Tapodārāma, tịnh xá có suối nước nóng. Vào lúc rạng đông, Tôn giả Samiddhi đi đến suối để tắm. Tắm xong, ông đứng chỉ với một chiếc y để hong khô thân. Bấy giờ một vị trời hiện ra, chiếu sáng khắp khu suối, hỏi ông có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành hay không. Ông thưa không nhớ và hỏi lại vị trời; vị trời cũng không nhớ, nhưng khuyên ông hãy học, hãy ghi nhớ, vì đó là điều đem lại lợi ích và là nền tảng của đời sống phạm hạnh. Nói xong, vị trời biến mất.
Sáng hôm sau, Tôn giả Samiddhi thuật lại câu chuyện cho Đức Thế Tôn và thỉnh Ngài giảng. Đức Thế Tôn nhận lời, đọc trọn bài kệ rồi đứng dậy đi vào tịnh thất, không giảng phần phân tích. Các tỳ-kheo bối rối: Ngài nói sẽ giảng cả phần tóm tắt lẫn phần phân tích, nhưng chỉ để lại bài kệ. Họ bàn nhau tìm người hiểu được ý nghĩa, và nhớ ra Tôn giả Mahākaccāna, người được Đức Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Tôn giả Mahākaccāna không nhận lời ngay. Ông đưa ra một ví dụ: một người cần lõi cây, đi tìm lõi cây, gặp một cây lớn có lõi cây, lại bỏ qua rễ và thân mà tìm lõi trong cành lá. Cũng vậy, khi bậc Đạo sư còn ngay trước mắt, các tỳ-kheo lại bỏ qua Ngài để hỏi ông. Nhưng rồi ông vẫn giảng, vì được thỉnh cầu đến lần thứ hai.
Phần phân tích của bài kinh rất gọn mà rất sâu. Quay về với quá khứ không phải là nhớ chuyện cũ, mà là để thức bị trói buộc bởi dục tham nơi những gì mình đã từng có, rồi thích thú điều ấy. Mong đợi tương lai là hướng tâm đến chỗ có được những gì mình chưa có. Bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt là để thức bị trói buộc ngay nơi mắt và sắc, tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và các pháp. Cả ba lối ấy đều đi qua sáu giác quan, và cả ba đều được cắt đứt bằng cùng một cách: không để dục tham trói buộc thức, không thích thú, thì không còn bị cuốn đi.
Cuối bài, các tỳ-kheo thuật lại lời giảng cho Đức Thế Tôn. Ngài tán thán Tôn giả Mahākaccāna là người khôn ngoan, có tuệ lớn, và nói rằng nếu các tỳ-kheo hỏi chính Ngài câu ấy, Ngài cũng sẽ trả lời y như vậy. Chi tiết ấy cho thấy bài kinh không kể chuyện một đệ tử giỏi hơn thầy, mà xác nhận lời giảng của Mahākaccāna đúng là ý của Đức Thế Tôn.
[Chú thích của người dịch: Bhaddekaratta là một hợp từ khó, thường được hiểu là "một đêm lành" hay "người có một đêm lành", tức người sống trọn vẹn đêm nay, không để nó trôi qua trong tiếc nuối quá khứ hay mong chờ tương lai. Bốn bài kinh liên tiếp trong Trung Bộ Kinh (MN 131 đến MN 134) cùng xoay quanh một bài kệ, và đây là bài thứ ba.]
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), ở Tapodārāma, tịnh xá có suối nước nóng.
[Chú thích: Suối nước nóng gần Rājagaha là nơi các tỳ-kheo thường đến tắm, đông đến mức phải đặt ra một giới luật để họ không chiếm độc suối. Suối ấy ngày nay vẫn còn và vẫn đông người dùng.]
Rồi Tôn giả Samiddhi, vào lúc rạng đông, đứng dậy, đi đến suối nước nóng để tắm rửa thân thể.
[Chú thích: Không lâu sau khi xuất gia, Samiddhi bị một vị trời tại chính nơi ấy dụ dỗ hưởng thú dục lạc; nếu ông sa vào, đó sẽ là một trường hợp bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt. Ông còn xuất hiện trong MN 136 và AN 9.14, và trong SN 4.22 có lần bị Ma vương đe dọa lay chuyển lòng tin.]
Tắm rửa thân thể ở suối nước nóng xong, ông bước lên bờ, đứng chỉ với một chiếc y, hong khô thân thể.
Rồi một vị trời nọ, vào lúc đêm đã về khuya, với dung sắc rực rỡ, chiếu sáng khắp cả khu suối nước nóng, đi đến chỗ Tôn giả Samiddhi; đến nơi, đứng một bên. Đứng một bên, vị trời ấy nói với Tôn giả Samiddhi:
"Này tỳ-kheo, ông có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không?"
"Này hiền giả, tôi không nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Còn ngài, này hiền giả, ngài có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không?"
"Này tỳ-kheo, tôi cũng không nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Nhưng này tỳ-kheo, ông có nhớ bài kệ về người có một đêm lành không?"
[Chú thích: Thật ra "bài kệ" ở đây cũng chính là "phần tóm tắt" vừa nhắc, chỉ khác tên gọi. Bản Tây Tạng và bản Hán không có câu hỏi lặp lại này.]
"Này hiền giả, tôi không nhớ bài kệ về người có một đêm lành.
Còn ngài, này hiền giả, ngài có nhớ bài kệ về người có một đêm lành không?"
"Này tỳ-kheo, tôi cũng không nhớ bài kệ về người có một đêm lành.
Này tỳ-kheo, ông hãy học phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành;
hãy học cho kỹ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành;
hãy ghi nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Này tỳ-kheo, phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành ấy đem lại lợi ích và là nền tảng của đời sống phạm hạnh."
Vị trời ấy nói như vậy,
nói xong, liền biến mất ngay tại chỗ ấy.
Rồi khi đêm đã qua, Tôn giả Samiddhi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, ở đây, vào lúc rạng đông, con đứng dậy, đi đến suối nước nóng để tắm rửa thân thể.
Tắm rửa thân thể ở suối nước nóng xong, con bước lên bờ, đứng chỉ với một chiếc y, hong khô thân thể.
Bạch Thế Tôn, rồi một vị trời nọ, vào lúc đêm đã về khuya, với dung sắc rực rỡ, chiếu sáng khắp cả khu suối nước nóng, đi đến chỗ con; đến nơi, đứng một bên. Đứng một bên, vị trời ấy nói với con:
'Này tỳ-kheo, ông có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không?'
Bạch Thế Tôn, khi nghe vậy, con nói với vị trời ấy:
'Này hiền giả, tôi không nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Còn ngài, này hiền giả, ngài có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không?'
'Này tỳ-kheo, tôi cũng không nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Nhưng này tỳ-kheo, ông có nhớ bài kệ về người có một đêm lành không?'
'Này hiền giả, tôi không nhớ bài kệ về người có một đêm lành.
Còn ngài, này hiền giả, ngài có nhớ bài kệ về người có một đêm lành không?'
'Này tỳ-kheo, tôi cũng không nhớ bài kệ về người có một đêm lành.
Này tỳ-kheo, ông hãy học phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành;
hãy học cho kỹ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành;
hãy ghi nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Này tỳ-kheo, phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành ấy đem lại lợi ích và là nền tảng của đời sống phạm hạnh.'
Bạch Thế Tôn, vị trời ấy nói như vậy,
nói xong, liền biến mất ngay tại chỗ ấy."
"Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn giảng cho con phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành."
"Vậy thì, này tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Samiddhi đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai.
Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,
tương lai thì chưa tới;
và pháp nào đang có mặt,
thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;
cái không lay chuyển, không dao động:
biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó."
"Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,
ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?
Vì chẳng có sự mặc cả nào
với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.
Ai sống như vậy, tinh cần,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."
Đức Thế Tôn nói như vậy;
nói xong, bậc Thiện thệ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi vào tịnh thất.
[Chú thích: Tuy nói sẽ giảng cả phần tóm tắt lẫn phần phân tích, Đức Thế Tôn lại chỉ đọc bài kệ rồi vào tịnh thất, nên các tỳ-kheo phải nhờ Tôn giả Mahākaccāna giảng phần phân tích. Tình huống tương tự xảy ra ở MN 138. Bản Hán và bản Tây Tạng tránh được chỗ này, vì ở đó Đức Thế Tôn chỉ nói sẽ giảng bài kệ.]
Rồi không lâu sau khi Đức Thế Tôn rời đi, các tỳ-kheo ấy nghĩ như vầy:
"Này hiền giả, Đức Thế Tôn đã nói phần tóm tắt cho chúng ta nhưng chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai.
Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,
tương lai thì chưa tới;
và pháp nào đang có mặt,
thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;
cái không lay chuyển, không dao động:
biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.
Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,
ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?
Vì chẳng có sự mặc cả nào
với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.
Ai sống như vậy, tinh cần,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.'
Ai có thể phân tích ý nghĩa của phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt ấy một cách chi tiết?"
Rồi các tỳ-kheo ấy nghĩ như vầy:
"Tôn giả Mahākaccāna (Đại Ca Chiên Diên) này được Đức Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
[Chú thích: Xem chú thích ở MN 18:10.9.]
Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích ý nghĩa của phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt ấy một cách chi tiết.
Vậy chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến nơi, hỏi Tôn giả Mahākaccāna về việc này."
Rồi các tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến nơi, họ chào hỏi Tôn giả Mahākaccāna.
Sau khi chào hỏi và nói những lời thân thiện, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỳ-kheo ấy nói với Tôn giả Mahākaccāna:
"Này hiền giả Kaccāna, Đức Thế Tôn đã nói phần tóm tắt cho chúng tôi nhưng chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại, tương lai thì chưa tới; và pháp nào đang có mặt, thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ; cái không lay chuyển, không dao động: biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó. Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm, ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai? Vì chẳng có sự mặc cả nào với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó. Ai sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.'
Này hiền giả Kaccāna, không lâu sau khi Đức Thế Tôn rời đi, chúng tôi nghĩ như vầy—
Này hiền giả, Đức Thế Tôn đã nói phần tóm tắt cho chúng tôi nhưng chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại, tương lai thì chưa tới; và pháp nào đang có mặt, thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ; cái không lay chuyển, không dao động: biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó. Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm, ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai? Vì chẳng có sự mặc cả nào với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó. Ai sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.'"
"Ai có thể phân tích ý nghĩa của phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt ấy một cách chi tiết?
Này hiền giả Kaccāna, chúng tôi nghĩ như vầy:
Tôn giả Mahākaccāna này được Đức Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích ý nghĩa của phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt ấy một cách chi tiết."
"Vậy chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến nơi, hỏi Tôn giả Mahākaccāna về việc này."
"Xin Tôn giả Mahākaccāna hãy phân tích việc ấy."
"Này các hiền giả, ví như một người cần lõi cây, tìm lõi cây, đi lang thang tìm lõi cây; người ấy gặp một cây lớn đứng vững, có lõi cây, nhưng lại bỏ qua rễ, bỏ qua thân, tưởng rằng phải tìm lõi cây trong cành và lá.
Này các hiền giả, các vị cũng như vậy: khi bậc Đạo sư có mặt ngay trước mắt, các vị lại bỏ qua Đức Thế Tôn mà nghĩ rằng nên hỏi tôi về việc này.
Này các hiền giả, Đức Thế Tôn biết điều cần biết, thấy điều cần thấy; Ngài đã thành con mắt, đã thành trí biết, đã thành Pháp, đã thành Phạm Thiên; Ngài là người nói, người tuyên bố, người dẫn dắt ý nghĩa, người ban bố bất tử, bậc chủ của Pháp, là Như Lai.
Này các hiền giả, ấy chính là lúc các vị nên hỏi chính Đức Thế Tôn về việc này; và Ngài trả lời thế nào, các vị nên ghi nhớ đúng như vậy."
"Này hiền giả Kaccāna, đúng vậy, Đức Thế Tôn biết điều cần biết, thấy điều cần thấy; Ngài đã thành con mắt, đã thành trí biết, đã thành Pháp, đã thành Phạm Thiên; Ngài là người nói, người tuyên bố, người dẫn dắt ý nghĩa, người ban bố bất tử, bậc chủ của Pháp, là Như Lai.
Ấy chính là lúc chúng tôi nên hỏi chính Đức Thế Tôn về việc này;
và Ngài trả lời thế nào, chúng tôi nên ghi nhớ đúng như vậy.
Nhưng Tôn giả Mahākaccāna đây được Đức Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng;
Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích ý nghĩa của phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt ấy một cách chi tiết.
Xin Tôn giả Mahākaccāna giảng giải, chớ coi đó là điều khó nhọc."
"Vậy thì, này các hiền giả, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ giảng."
"Thưa vâng, hiền giả," các tỳ-kheo ấy đáp lời Tôn giả Mahākaccāna.
Tôn giả Mahākaccāna nói như vầy:
"Này các hiền giả, Đức Thế Tôn đã nói phần tóm tắt cho chúng ta nhưng chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại, tương lai thì chưa tới; và pháp nào đang có mặt, thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ; cái không lay chuyển, không dao động: biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó. Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm, ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai? Vì chẳng có sự mặc cả nào với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó. Ai sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.'
Này các hiền giả, phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt và chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết ấy, tôi hiểu ý nghĩa chi tiết như vầy—
Và này các hiền giả, thế nào là quay về với quá khứ?
Rằng 'Xưa kia mắt ta đã như vậy, các sắc đã như vậy'—
[Chú thích: Như ở MN 18:16.1 và MN 138:10.2, cách phân tích ưa dùng của Kaccāna là đi qua sáu giác quan.]
Ở nơi ấy, thức bị trói buộc bởi dục tham; do thức bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia tai ta đã như vậy, các âm thanh đã như vậy'; thức bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia mũi ta đã như vậy, các mùi hương đã như vậy'; thức bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia lưỡi ta đã như vậy, các vị đã như vậy'; thức bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia thân ta đã như vậy, các xúc đã như vậy'; thức bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia ý ta đã như vậy, các pháp đã như vậy'—
thức bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên quay về với quá khứ—
Này các hiền giả, đó là cách quay về với quá khứ.
Và này các hiền giả, thế nào là không quay về với quá khứ?
Rằng 'Xưa kia mắt ta đã như vậy, các sắc đã như vậy'—
Ở nơi ấy, thức không bị trói buộc bởi dục tham; do thức không bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia tai ta đã như vậy, các âm thanh đã như vậy'; thức không bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức không bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia mũi ta đã như vậy, các mùi hương đã như vậy'; thức không bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức không bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia lưỡi ta đã như vậy, các vị đã như vậy'; thức không bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức không bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia thân ta đã như vậy, các xúc đã như vậy'; thức không bị trói buộc bởi dục tham ở nơi ấy; do thức không bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không quay về với quá khứ.
Rằng 'Xưa kia ý ta đã như vậy, các pháp đã như vậy'—
Ở nơi ấy, thức không bị trói buộc bởi dục tham; do thức không bị trói buộc bởi dục tham, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không quay về với quá khứ—
Này các hiền giả, đó là cách không quay về với quá khứ.
Và này các hiền giả, thế nào là mong đợi tương lai?
Rằng 'Trong tương lai, ước gì mắt ta được như vậy, các sắc được như vậy'—
vị ấy hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm hướng đến, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì tai ta được như vậy, các âm thanh được như vậy'; vị ấy hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm hướng đến, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì mũi ta được như vậy, các mùi hương được như vậy'; vị ấy hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm hướng đến, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì lưỡi ta được như vậy, các vị được như vậy'; vị ấy hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm hướng đến, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì thân ta được như vậy, các xúc được như vậy'; vị ấy hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm hướng đến, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì ý ta được như vậy, các pháp được như vậy'—
vị ấy hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm hướng đến, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên mong đợi tương lai—"
"Này các hiền giả, đó là cách mong đợi tương lai.
Và này các hiền giả, thế nào là không mong đợi tương lai?
Rằng 'Trong tương lai, ước gì mắt ta được như vậy, các sắc được như vậy'—
vị ấy không hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm không hướng đến, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì tai ta được như vậy, các âm thanh được như vậy'; vị ấy không hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm không hướng đến, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì mũi ta được như vậy, các mùi hương được như vậy'; vị ấy không hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm không hướng đến, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì lưỡi ta được như vậy, các vị được như vậy'; vị ấy không hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm không hướng đến, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì thân ta được như vậy, các xúc được như vậy'; vị ấy không hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm không hướng đến, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không mong đợi tương lai.
Rằng 'Trong tương lai, ước gì ý ta được như vậy, các pháp được như vậy'—
vị ấy không hướng tâm đến chỗ đạt được cái chưa đạt được; do nhân duyên tâm không hướng đến, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không mong đợi tương lai—
Này các hiền giả, đó là cách không mong đợi tương lai.
Và này các hiền giả, thế nào là bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt?
Này các hiền giả, con mắt và các sắc—
cả hai đều đang có mặt ở hiện tại.
Nếu thức bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, tai và các âm thanh— cả hai đều đang có mặt ở hiện tại. Nếu thức bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, mũi và các mùi hương— cả hai đều đang có mặt ở hiện tại. Nếu thức bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, lưỡi và các vị— cả hai đều đang có mặt ở hiện tại. Nếu thức bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, thân và các xúc— cả hai đều đang có mặt ở hiện tại. Nếu thức bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, ý và các pháp—
[Chú thích: Ở đây dhamma chỉ những gì được ý nhận biết, tức các ý niệm và đối tượng của tâm. Khi dhamma được hiểu rộng hơn, nó gồm cả các ý niệm ấy lẫn mọi thứ khác được biết.]
cả hai đều đang có mặt ở hiện tại.
Nếu thức bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy thích thú điều ấy; thích thú điều ấy nên bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt—
Này các hiền giả, đó là cách bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Và này các hiền giả, thế nào là không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt?
Này các hiền giả, con mắt và các sắc—
cả hai đều đang có mặt ở hiện tại.
Nếu thức không bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, tai và các âm thanh— cả hai đều đang có mặt ở hiện tại. Nếu thức không bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, mũi và các mùi hương— cả hai đều đang có mặt ở hiện tại. Nếu thức không bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, lưỡi và các vị— cả hai đều đang có mặt ở hiện tại. Nếu thức không bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, thân và các xúc— cả hai đều đang có mặt ở hiện tại. Nếu thức không bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, ý và các pháp—
cả hai đều đang có mặt ở hiện tại.
Nếu thức không bị trói buộc bởi dục tham nơi ấy trong hiện tại, vị ấy không thích thú điều ấy; không thích thú điều ấy nên không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt—
Này các hiền giả, đó là cách không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này các hiền giả, Đức Thế Tôn đã nói phần tóm tắt cho chúng ta nhưng chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại, tương lai thì chưa tới; và pháp nào đang có mặt, thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ; cái không lay chuyển, không dao động: biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó. Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm, ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai? Vì chẳng có sự mặc cả nào với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó. Ai sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.'
Này các hiền giả, phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt và chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết ấy, tôi hiểu ý nghĩa chi tiết như vậy.
Nếu các vị muốn, hãy đi đến chỗ Đức Thế Tôn và hỏi Ngài về việc này,
và Ngài trả lời thế nào, các vị hãy ghi nhớ đúng như vậy."
Rồi các tỳ-kheo ấy, sau khi tán thán và hoan hỷ lời Tôn giả Mahākaccāna dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, Đức Thế Tôn đã nói phần tóm tắt cho chúng con nhưng chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại, tương lai thì chưa tới; và pháp nào đang có mặt, thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ; cái không lay chuyển, không dao động: biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó. Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm, ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai? Vì chẳng có sự mặc cả nào với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó. Ai sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.'
Bạch Thế Tôn, không lâu sau khi Đức Thế Tôn rời đi, chúng con nghĩ như vầy:"
"'Này hiền giả, Đức Thế Tôn đã nói phần tóm tắt cho chúng tôi nhưng chưa phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai.
Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,
tương lai thì chưa tới;
và pháp nào đang có mặt,
thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;
cái không lay chuyển, không dao động:
biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.
Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,
ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?
Vì chẳng có sự mặc cả nào
với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.
Ai sống như vậy, tinh cần,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.
Ai có thể phân tích ý nghĩa của phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt ấy một cách chi tiết?'
Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ như vầy:
'Tôn giả Mahākaccāna này được Đức Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Tôn giả Mahākaccāna có khả năng phân tích ý nghĩa của phần tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nói vắn tắt ấy một cách chi tiết.
Vậy chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến nơi, hỏi Tôn giả Mahākaccāna về việc này.'
Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến nơi, chúng con hỏi Tôn giả Mahākaccāna về việc này.
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahākaccāna đã phân tích ý nghĩa cho chúng con bằng những cách này, bằng những lời này, bằng những câu này."
"Này các tỳ-kheo, Mahākaccāna là người khôn ngoan; này các tỳ-kheo, Mahākaccāna là người có tuệ lớn.
Này các tỳ-kheo, nếu các ông đến hỏi Ta việc này, Ta cũng sẽ trả lời đúng như vậy, đúng như Mahākaccāna đã trả lời.
Đó chính là ý nghĩa của việc ấy. Các ông hãy ghi nhớ như vậy."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Bài kinh Đại Kaccāna Một Đêm Lành, bài thứ ba, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.