Trung Bộ Kinh · bài 134/152
Kinh Lomasakaṅgiya
Lomasakaṅgiya Sutta — bài kinh Lomasakaṅgiya, về người có một đêm lành
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Lomasakaṅgiya (Lomasakaṅgiya Sutta) là bài kinh thứ 134 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh thứ hai trong Kinh tạng Pali, gồm 152 bài giảng cỡ vừa. Đây là bài cuối trong bốn bài liên tiếp (MN 131 đến MN 134) cùng xoay quanh một bài kệ ngắn về "người có một đêm lành". Ba bài trước đặt bài kệ ấy vào những hoàn cảnh khác nhau; bài này kể một chuyện có phần lạ: bài kệ đến với người nghe qua một vị trời hiện ra giữa đêm.
Bối cảnh của bài kinh ở Kapilavatthu, nơi Tôn giả Lomasakaṅgiya đang trú trong tịnh xá Nigrodha. Đêm đã về khuya, thiên tử Candana — tên có nghĩa là "chiên-đàn", một loại gỗ thơm — với dung sắc rạng rỡ chiếu sáng cả nơi ấy, hiện đến hỏi ông có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không. Ông thưa rằng không nhớ. Vị trời cũng không nhớ phần phân tích, nhưng nhớ bài kệ, bèn đọc lại trọn bài kệ rồi khuyên ông học cho đủ, vì phần tóm tắt và phần phân tích ấy đem lại lợi ích và là căn bản của đời sống phạm hạnh.
Bài kệ nói một điều rất gọn: đừng quay về quá khứ, đừng mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại; cái gì chưa tới thì chưa tới. Chỉ có những gì đang có mặt ngay lúc này là chỗ để thấy rõ, và cái không lay chuyển ấy cần được biết rồi vun bồi. Vì cái chết có thể đến ngay ngày mai, việc cần làm phải làm ngay hôm nay; người sống như vậy, không mệt mỏi ngày đêm, được gọi là người có một đêm lành.
Khi đêm ấy đã qua, Tôn giả Lomasakaṅgiya dọn chỗ ở, mang bát và y, đi bộ từng chặng đến Sāvatthī để gặp Đức Thế Tôn. Ông thuật lại cuộc gặp và thỉnh Ngài giảng trọn phần tóm tắt cùng phần phân tích. Đức Thế Tôn hỏi ông có biết vị trời ấy không; ông thưa không. Ngài cho biết đó là thiên tử Candana, khen vị ấy biết chú tâm lắng nghe Pháp, rồi giảng lại bài kệ và mở ra phần phân tích.
Phần phân tích mới là chỗ bài kinh chạm vào đời sống thật. Quay về quá khứ không phải là nhớ chuyện cũ, mà là khơi dậy lòng thích thú nơi những gì mình đã từng là; mong đợi tương lai là ước mình sẽ có những thứ ấy về sau; còn bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt là coi năm uẩn — sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tức thân và các hoạt động của tâm — là tự ngã, hay coi tự ngã là có năm uẩn ấy, hay coi năm uẩn ấy ở trong tự ngã, hay coi tự ngã ở trong năm uẩn ấy. Vị thánh đệ tử đã nghe Pháp thì không làm như vậy. Bài kinh kết thúc bằng lời hoan hỷ của Tôn giả Lomasakaṅgiya.
Bản dịch này làm từ nguyên bản Pali, đối chiếu với bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato. Những chỗ Pali viết tắt bằng dấu lược đều được viết đủ lại theo đúng khuôn — cả mười ba dòng kệ còn lại trong lời vị trời, lẫn toàn bộ phần phân tích năm uẩn — để người đọc thấy rõ bài kinh lặp lại những gì. Các từ kỹ thuật như tỳ-kheo, thiên tử, năm uẩn, tự ngã, phạm hạnh được giữ theo cách gọi quen thuộc trong kinh điển Việt Nam.
[Chú thích của người dịch: Bhaddekaratta là một hợp từ khó, thường được hiểu là "một đêm lành" hay "người có một đêm lành" — người sống trọn vẹn đêm nay, không để nó trôi qua trong tiếc nuối quá khứ hay mong chờ tương lai. Bốn bài kinh liên tiếp trong Trung Bộ Kinh (MN 131 đến MN 134) cùng xoay quanh một bài kệ, và đây là bài cuối.]
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Lomasakaṅgiya đang trú trong xứ Sākya (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong tịnh xá Nigrodha.
[Chú thích: Bài kệ của Lomasakaṅgiya trong Trưởng lão kệ nói về quyết tâm của ông vượt qua rừng rậm để tìm chỗ vắng vẻ. Có lẽ ông cũng chính là vị tỳ-kheo xuất hiện trong Tương Ưng Bộ Kinh 54.12. Tên của ông nghĩa là "tay chân nhiều lông".]
Rồi vào lúc đêm đã về khuya, thiên tử Candana (Chiên-đàn) với dung sắc rạng rỡ, chiếu sáng khắp cả tịnh xá Nigrodha, đi đến chỗ Tôn giả Lomasakaṅgiya; đến rồi, đứng sang một bên. Đứng sang một bên, thiên tử Candana nói với Tôn giả Lomasakaṅgiya:
"Này tỳ-kheo, ông có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không?"
"Này hiền giả, tôi không nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Nhưng này hiền giả, ông có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không?"
"Này tỳ-kheo, tôi cũng không nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Nhưng này tỳ-kheo, ông có nhớ các bài kệ về người có một đêm lành không?"
"Này hiền giả, tôi không nhớ các bài kệ về người có một đêm lành.
Nhưng này hiền giả, ông có nhớ các bài kệ về người có một đêm lành không?"
"Này tỳ-kheo, tôi có nhớ các bài kệ về người có một đêm lành."
"Nhưng này hiền giả, ông nhớ các bài kệ về người có một đêm lành như thế nào?"
"Này tỳ-kheo, một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang trú giữa chư thiên cõi Tāvatiṁsa (Đao-lợi), dưới gốc cây Pāricchattaka, trên phiến đá trải thảm Paṇḍukambala.
[Chú thích: Điều này cho thấy Candana là một trong ba mươi ba vị trời cõi Tāvatiṁsa. Các bản tương ứng bằng Hán ngữ lại nói ông nghe bài giảng ấy tại Rājagaha. Cây Pāricchattaka là cơ sở cho một ví dụ dài về sự xuất ly trong Tăng Chi Bộ Kinh 7.69, còn Paṇḍukambala là một loại vải bọc cao cấp.]
Tại đó, Đức Thế Tôn giảng cho chư thiên cõi Tāvatiṁsa phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành:
'Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai.
Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,
tương lai thì chưa tới;
và pháp nào đang có mặt,
thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;
cái không lay chuyển, không dao động:
biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.
Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,
ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?
Vì chẳng có sự mặc cả nào
với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.
Ai sống như vậy, tinh cần,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.'
Này tỳ-kheo, đó là cách tôi nhớ các bài kệ về người có một đêm lành.
Này tỳ-kheo, ông hãy học phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành;
hãy học thuộc lòng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành;
hãy ghi nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Này tỳ-kheo, phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành đem lại lợi ích và là căn bản của đời sống phạm hạnh."
Thiên tử Candana nói như vậy.
Nói xong, vị ấy biến mất ngay tại chỗ ấy.
Rồi Tôn giả Lomasakaṅgiya, khi đêm ấy đã qua, dọn dẹp chỗ trú, mang bát và y, lên đường du hành về phía Sāvatthī.
Đi từng chặng, Tôn giả đến Sāvatthī, đến rừng Jeta, tịnh xá của Anāthapiṇḍika, đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngồi xuống sang một bên. Ngồi xuống sang một bên, Tôn giả Lomasakaṅgiya bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, một thuở nọ con đang trú trong xứ Sākya, tại Kapilavatthu, trong tịnh xá Nigrodha.
Bạch Thế Tôn, rồi vào lúc đêm đã về khuya, một thiên tử kia với dung sắc rạng rỡ, chiếu sáng khắp cả tịnh xá Nigrodha, đi đến chỗ con; đến rồi, đứng sang một bên. Đứng sang một bên, bạch Thế Tôn, vị thiên tử ấy nói với con:
"Này tỳ-kheo, ông có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không?"
Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, con nói với vị thiên tử ấy:
"Này hiền giả, tôi không nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Nhưng này hiền giả, ông có nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành không?"
"Này tỳ-kheo, tôi cũng không nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Nhưng này tỳ-kheo, ông có nhớ các bài kệ về người có một đêm lành không?"
"Này hiền giả, tôi không nhớ các bài kệ về người có một đêm lành.
Nhưng này hiền giả, ông có nhớ các bài kệ về người có một đêm lành không?"
"Này tỳ-kheo, tôi có nhớ các bài kệ về người có một đêm lành."
"Nhưng này hiền giả, ông nhớ các bài kệ về người có một đêm lành như thế nào?"
"Này tỳ-kheo, một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang trú giữa chư thiên cõi Tāvatiṁsa, dưới gốc cây Pāricchattaka, trên phiến đá trải thảm Paṇḍukambala.
Tại đó, Đức Thế Tôn giảng cho chư thiên cõi Tāvatiṁsa phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành:
'Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại, tương lai thì chưa tới; và pháp nào đang có mặt, thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ; cái không lay chuyển, không dao động: biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó. Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm, ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai? Vì chẳng có sự mặc cả nào với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó. Ai sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy.'
Này tỳ-kheo, đó là cách tôi nhớ các bài kệ về người có một đêm lành.
Này tỳ-kheo, ông hãy học phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành;
hãy học thuộc lòng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành;
hãy ghi nhớ phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Này tỳ-kheo, phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành đem lại lợi ích và là căn bản của đời sống phạm hạnh."
Bạch Thế Tôn, vị thiên tử ấy nói như vậy.
Nói xong, vị ấy biến mất ngay tại chỗ ấy.
Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn giảng cho con phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
"Nhưng này tỳ-kheo, ông có biết vị thiên tử ấy không?"
"Bạch Thế Tôn, con không biết vị thiên tử ấy."
"Này tỳ-kheo, vị thiên tử ấy tên là Candana.
Này tỳ-kheo, thiên tử Candana coi trọng, tác ý, dồn hết tâm ý và lắng tai nghe Pháp.
[Chú thích: Ở đây Candana được khen vì khéo học hỏi, nhưng trước đó ông nói rằng tuy có mặt khi Đức Thế Tôn giảng phần tóm tắt và phần phân tích, ông chỉ nhớ các bài kệ. Các bản tương ứng nhất quán hơn, vì chỉ nói ông nghe được các bài kệ.]
Vậy thì này tỳ-kheo, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Lomasakaṅgiya đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai.
Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,
tương lai thì chưa tới;
và pháp nào đang có mặt,
thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;
cái không lay chuyển, không dao động:
biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.
Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,
ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?
Vì chẳng có sự mặc cả nào
với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.
Ai sống như vậy, tinh cần,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."
Và này tỳ-kheo, thế nào là quay về với quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
[Chú thích của người dịch: Từ đây, phần phân tích lặp lại nguyên văn phần phân tích trong Kinh Một Đêm Lành (MN 131), chỉ đổi cách gọi người nghe từ số nhiều sang số ít.]
Này tỳ-kheo, đó là cách quay về với quá khứ.
Và này tỳ-kheo, thế nào là không quay về với quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này tỳ-kheo, đó là cách không quay về với quá khứ.
Và này tỳ-kheo, thế nào là mong đợi tương lai? Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có sắc như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thọ như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có tưởng như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có hành như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thức như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này tỳ-kheo, đó là cách mong đợi tương lai.
Và này tỳ-kheo, thế nào là không mong đợi tương lai? Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có sắc như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thọ như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có tưởng như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có hành như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thức như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này tỳ-kheo, đó là cách không mong đợi tương lai.
Và này tỳ-kheo, thế nào là bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt? Này tỳ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân. Vị ấy coi sắc là tự ngã, coi tự ngã là có sắc, coi sắc ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong sắc; coi thọ là tự ngã, coi tự ngã là có thọ, coi thọ ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong thọ; coi tưởng là tự ngã, coi tự ngã là có tưởng, coi tưởng ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong tưởng; coi hành là tự ngã, coi tự ngã là có hành, coi hành ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong hành; coi thức là tự ngã, coi tự ngã là có thức, coi thức ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong thức.
Này tỳ-kheo, đó là cách bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Và này tỳ-kheo, thế nào là không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt? Này tỳ-kheo, ở đây có vị thánh đệ tử đã nghe Pháp, đã thấy các bậc thánh, hiểu biết và khéo được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; đã thấy những bậc chân nhân, hiểu biết và khéo được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân. Vị ấy không coi sắc là tự ngã, không coi tự ngã là có sắc, không coi sắc ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong sắc; không coi thọ là tự ngã, không coi tự ngã là có thọ, không coi thọ ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong thọ; không coi tưởng là tự ngã, không coi tự ngã là có tưởng, không coi tưởng ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong tưởng; không coi hành là tự ngã, không coi tự ngã là có hành, không coi hành ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong hành; không coi thức là tự ngã, không coi tự ngã là có thức, không coi thức ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong thức.
Này tỳ-kheo, đó là cách không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
"Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai.
Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,
tương lai thì chưa tới;
và pháp nào đang có mặt,
thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;
cái không lay chuyển, không dao động:
biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.
Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,
ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?
Vì chẳng có sự mặc cả nào
với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.
Ai sống như vậy, tinh cần,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Lomasakaṅgiya hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Lomasakaṅgiya Một Đêm Lành, bài thứ tư, đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.