buppou

Trung Bộ Kinh · bài 73/152

Đại Kinh Vacchagotta

Mahāvacchagotta Sutta — bài kinh về du sĩ Vacchagotta, từ câu hỏi thế nào là thiện và bất thiện đến quả vị A-la-hán

25 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đại Kinh Vacchagotta (Mahāvacchagotta Sutta) là bài thứ bảy mươi ba trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng trúc Veḷuvana, nơi Đức Thế Tôn đang trú. Nhân vật chính là Vacchagotta, một du sĩ: người đã rời nhà, sống lang thang khất thực, không thuộc Tăng đoàn nào, và nổi tiếng hay đặt những câu hỏi lớn. Hai bài trước trong bộ kinh đã kể hai lần ông đến gặp Đức Thế Tôn: một lần ông hỏi Ngài có thật sự biết tất cả mọi thứ hay không, một lần ông hỏi mười câu về thế giới là thường còn hay vô thường, về linh hồn và thân xác, về số phận con người sau khi chết. Lần nào Đức Thế Tôn cũng khước từ những câu hỏi ấy. Bài này là lần gặp cuối, và lần này ông hỏi một câu khác hẳn.

Câu hỏi của ông rất giản dị: xin Ngài dạy cho biết thế nào là thiện và thế nào là bất thiện, nói gọn thôi. Trong cách nói của bài kinh, "thiện" và "bất thiện" không phải là nhãn dán đạo đức trừu tượng, mà là cái dẫn đến an lành hay dẫn đến tổn hại cho mình và cho người. Đức Thế Tôn đáp gọn trong mấy câu: tham là bất thiện, không tham là thiện; sân là bất thiện, không sân là thiện; si là bất thiện, không si là thiện. Rồi Ngài mở rộng thành mười điều: sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói chuyện phù phiếm, tham muốn, sân hại, tà kiến, và mười điều ngược lại.

Nhưng câu trả lời không dừng ở danh sách. Đức Thế Tôn nói thêm rằng khi nào nơi một tỳ-kheo tham ái đã bị đoạn tận, cắt tận gốc, làm cho không còn khả năng sinh khởi nữa, thì vị ấy là bậc A-la-hán: người đã tận lậu hoặc, đã làm xong điều cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, và được giải thoát hoàn toàn. Đó là chỗ bài kinh nối hai chuyện tưởng như rất xa nhau: những việc nhỏ như nói dối hay nói lời thô ác ở đầu bài, và trạng thái giải thoát cuối cùng của một đời tu. Sợi dây nối chúng là tham ái, thứ vừa sinh ra lời nói và hành vi, vừa là gốc của mọi khổ đau.

Nghe xong, Vacchagotta lần lượt hỏi: có chăng dù chỉ một tỳ-kheo đệ tử của Ngài đã chứng được giải thoát ấy? Có chăng một tỳ-kheo-ni, một nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh, một nữ cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh, một nam cư sĩ còn hưởng thọ dục lạc, một nữ cư sĩ còn hưởng thọ dục lạc? Lần nào Đức Thế Tôn cũng đáp: không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa. Đây là chỗ đáng chú ý của bài kinh: con đường ấy không dành cho một vài người xuất sắc, mà có mặt nơi đủ mọi hạng người, kể cả những người tại gia vẫn còn sống giữa đời. Vacchagotta kết luận bằng một hình ảnh đẹp: như sông Gaṅgā nghiêng về biển và cứ thế đi mãi cho đến khi chạm tới biển, hội chúng của Đức Thế Tôn, gồm cả người tại gia lẫn người xuất gia, cũng nghiêng về Niết-bàn như vậy.

Phần cuối bài kinh kể chuyện Vacchagotta xuất gia. Vì trước đây ông đã theo một giáo phái khác, luật buộc ông phải trải qua bốn tháng thử thách; ông xin trải qua bốn năm, và được nhận ngay. Mới nửa tháng sau, ông đến thưa rằng mình đã đạt tới mức cao nhất mà một người đang trên đường tu có thể đạt, và xin Ngài dạy thêm. Đức Thế Tôn bảo ông tu tập thêm hai pháp: chỉ và quán, tức sự lắng tâm và sự thấy rõ thực tại. Rồi Ngài nêu ra sáu năng lực mà một tâm đã được tu tập như vậy có thể chứng đạt: thần thông, nghe được âm thanh xa, biết được tâm người khác, nhớ lại các đời sống trước, thấy chúng sinh chết đi sinh lại theo nghiệp của họ, và cuối cùng là đoạn tận lậu hoặc. Chẳng bao lâu sau, Vacchagotta chứng quả vị A-la-hán và cho người nhắn tới Đức Thế Tôn rằng ông đã hầu hạ Ngài trọn vẹn.

Người đọc hôm nay có thể thấy bài kinh này như một chuyện về sự đổi hướng. Vacchagotta đã dành nhiều năm cho những câu hỏi mà không câu trả lời nào làm ông yên; đến đây ông hỏi một câu có thể đem ra thực hành ngay trong ngày: điều mình đang nghĩ, đang nói, đang làm là thiện hay bất thiện, và nó đưa mình tới đâu. Bài kinh không bảo rằng những câu hỏi lớn kia là ngu ngốc; nó chỉ cho thấy chúng không phải chỗ bắt đầu. Và hình ảnh con sông nghiêng về biển nhắc một điều khác nữa: một đời sống tu tập không phải là một chuỗi nỗ lực rời rạc, mà là một hướng chảy, có khi rất chậm, nhưng không đổi.

[Chú thích của người dịch: Mahā nghĩa là "lớn"; bài kinh này dài hơn và có nội dung rộng hơn hai bài trước về cùng một nhân vật.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Đây là bài cuối trong ba bài về du sĩ Vacchagotta. Lần này ông vượt lên khỏi những câu hỏi siêu hình vô ích của mình và tìm được một cách sống tốt hơn, và sự nhẫn nại của Đức Thế Tôn cuối cùng đã được đền đáp khi ông đạt được mục đích của mình.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).

Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, ông chào hỏi Ngài.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và những câu chuyện xã giao, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Đức Thế Tôn:

"Đã từ lâu, tôi thường đàm đạo với ngài Gotama.

Lành thay, xin ngài Gotama dạy cho tôi biết thế nào là thiện và thế nào là bất thiện, một cách vắn tắt."

"Này Vaccha, ta có thể dạy cho ông biết thiện và bất thiện một cách vắn tắt, ta cũng có thể dạy cho ông biết thiện và bất thiện một cách đầy đủ chi tiết.

Nhưng thôi, này Vaccha, ta sẽ dạy cho ông biết thiện và bất thiện một cách vắn tắt.

Hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói."

"Dạ vâng, thưa ngài" — du sĩ Vacchagotta đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Này Vaccha, tham là bất thiện, không tham là thiện.

[Chú thích: Ở chỗ khác, như ở MN 9:4.1, tham, sân, si được nói là gốc của bất thiện, còn mười cách hành động mới là bất thiện; phần thiện cũng được nói theo cách ấy.]

Này Vaccha, sân là bất thiện, không sân là thiện.

Này Vaccha, si là bất thiện, không si là thiện.

Như vậy, này Vaccha, có ba pháp bất thiện và ba pháp thiện.

Này Vaccha, sát sinh là bất thiện, tránh sát sinh là thiện;

này Vaccha, trộm cắp là bất thiện, tránh trộm cắp là thiện;

này Vaccha, tà hạnh trong dục là bất thiện, tránh tà hạnh trong dục là thiện;

này Vaccha, nói dối là bất thiện, tránh nói dối là thiện;

này Vaccha, nói lời chia rẽ là bất thiện, tránh nói lời chia rẽ là thiện;

này Vaccha, nói lời thô ác là bất thiện, tránh nói lời thô ác là thiện;

này Vaccha, nói chuyện phù phiếm là bất thiện, tránh nói chuyện phù phiếm là thiện;

này Vaccha, tham muốn là bất thiện, không tham muốn là thiện;

này Vaccha, sân hại là bất thiện, không sân hại là thiện;

này Vaccha, tà kiến là bất thiện, chánh kiến là thiện.

Như vậy, này Vaccha, có mười pháp bất thiện và mười pháp thiện.

Này Vaccha, khi nào nơi một tỳ-kheo tham ái đã được đoạn tận, bị cắt tận gốc, làm cho như thân cây ta-la bị chặt, làm cho không còn hiện hữu, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai, thì vị tỳ-kheo ấy là bậc A-la-hán, đã tận lậu hoặc, đã sống trọn đời sống phạm hạnh, đã làm điều cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã đoạn tận kiết sử tái sinh, và được giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí."

"Xin gác chuyện ngài Gotama sang một bên.

Nhưng có chăng dù chỉ một tỳ-kheo là đệ tử của ngài Gotama, vị đã do đoạn tận các lậu hoặc mà tự mình chứng tri bằng thắng trí, ngay trong đời này, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát?"

[Chú thích: Hai vị chư thiên cũng hỏi Mahāvīra một câu tương tự trong Bhagavatīsūtra 4.5.59, và câu trả lời là bảy trăm vị.]

"Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa những tỳ-kheo là đệ tử của ta, đã do đoạn tận các lậu hoặc mà tự mình chứng tri bằng thắng trí, ngay trong đời này, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát."

"Xin gác chuyện ngài Gotama và các tỳ-kheo sang một bên.

Nhưng có chăng dù chỉ một tỳ-kheo-ni là đệ tử của ngài Gotama, vị đã do đoạn tận các lậu hoặc mà tự mình chứng tri bằng thắng trí, ngay trong đời này, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát?"

"Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa những tỳ-kheo-ni là đệ tử của ta, đã do đoạn tận các lậu hoặc mà tự mình chứng tri bằng thắng trí, ngay trong đời này, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát."

"Xin gác chuyện ngài Gotama, các tỳ-kheo và các tỳ-kheo-ni sang một bên.

Nhưng có chăng dù chỉ một nam cư sĩ là đệ tử của ngài Gotama, một người tại gia mặc áo trắng, sống phạm hạnh, vị đã do đoạn tận năm hạ phần kiết sử mà được hóa sinh, nhập Niết-bàn ngay tại cõi ấy, không còn khả năng trở lại từ cõi ấy?"

[Chú thích: Người tại gia sùng tín thường giữ năm giới, trong đó có giới không tà hạnh trong dục, và vào ngày bố-tát thì thọ tám giới, có cả phạm hạnh. Nhưng có lẽ thời ấy cũng như nay, vẫn có một hạng người tại gia ít theo khuôn phép hơn, thọ tám giới liên tục. Hạng tại gia mặc áo trắng sống phạm hạnh ấy có khả năng chứng quả Bất hoàn, vì quả ấy đòi hỏi buông bỏ trọn vẹn mọi hình thức dục vọng.]

"Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa những nam cư sĩ là đệ tử của ta, người tại gia mặc áo trắng, sống phạm hạnh, đã do đoạn tận năm hạ phần kiết sử mà được hóa sinh, nhập Niết-bàn ngay tại cõi ấy, không còn khả năng trở lại từ cõi ấy."

"Xin gác chuyện ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni và các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh sang một bên.

Nhưng có chăng dù chỉ một nam cư sĩ là đệ tử của ngài Gotama, một người tại gia mặc áo trắng, hưởng thọ dục lạc, làm theo lời dạy, thực hành theo lời khuyên, vị đã vượt qua hoài nghi, hết phân vân, đạt được sự không sợ hãi, không còn lệ thuộc người khác trong lời dạy của bậc Đạo sư?"

[Chú thích: Nghĩa là họ đã chứng quả Dự lưu.]

"Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa những nam cư sĩ là đệ tử của ta, người tại gia mặc áo trắng, hưởng thọ dục lạc, làm theo lời dạy, thực hành theo lời khuyên, đã vượt qua hoài nghi, hết phân vân, đạt được sự không sợ hãi, không còn lệ thuộc người khác trong lời dạy của bậc Đạo sư."

"Xin gác chuyện ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni, các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh và các nam cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc sang một bên.

Nhưng có chăng dù chỉ một nữ cư sĩ là đệ tử của ngài Gotama, một người nữ tại gia mặc áo trắng, sống phạm hạnh, vị đã do đoạn tận năm hạ phần kiết sử mà được hóa sinh, nhập Niết-bàn ngay tại cõi ấy, không còn khả năng trở lại từ cõi ấy?"

"Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa những nữ cư sĩ là đệ tử của ta, người nữ tại gia mặc áo trắng, sống phạm hạnh, đã do đoạn tận năm hạ phần kiết sử mà được hóa sinh, nhập Niết-bàn ngay tại cõi ấy, không còn khả năng trở lại từ cõi ấy."

"Xin gác chuyện ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni, các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh, các nam cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc và các nữ cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh sang một bên.

Nhưng có chăng dù chỉ một nữ cư sĩ là đệ tử của ngài Gotama, một người nữ tại gia mặc áo trắng, hưởng thọ dục lạc, làm theo lời dạy, thực hành theo lời khuyên, vị đã vượt qua hoài nghi, hết phân vân, đạt được sự không sợ hãi, không còn lệ thuộc người khác trong lời dạy của bậc Đạo sư?"

"Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa những nữ cư sĩ là đệ tử của ta, người nữ tại gia mặc áo trắng, hưởng thọ dục lạc, làm theo lời dạy, thực hành theo lời khuyên, đã vượt qua hoài nghi, hết phân vân, đạt được sự không sợ hãi, không còn lệ thuộc người khác trong lời dạy của bậc Đạo sư."

"Thưa ngài Gotama, nếu chỉ có ngài Gotama là người thành tựu trong pháp này, còn các tỳ-kheo thì không thành tựu,

thì đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nhưng vì ngài Gotama và các tỳ-kheo đều thành tựu trong pháp này,

nên đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nếu chỉ có ngài Gotama và các tỳ-kheo thành tựu trong pháp này, còn các tỳ-kheo-ni thì không thành tựu,"


"Thế thì đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nhưng vì ngài Gotama, các tỳ-kheo và các tỳ-kheo-ni đều thành tựu trong pháp này,

nên đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nếu chỉ có ngài Gotama, các tỳ-kheo và các tỳ-kheo-ni thành tựu trong pháp này, còn các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh thì không thành tựu,

thì đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nhưng vì ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni và các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh đều thành tựu trong pháp này,

nên đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nếu chỉ có ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni và các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh thành tựu trong pháp này, còn các nam cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc thì không thành tựu,

thì đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nhưng vì ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni, các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh và các nam cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc đều thành tựu trong pháp này,

nên đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nếu chỉ có ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni, các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh và các nam cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc thành tựu trong pháp này, còn các nữ cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh thì không thành tựu,

thì đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nhưng vì ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni, các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh, các nam cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc và các nữ cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh đều thành tựu trong pháp này,

nên đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nếu chỉ có ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni, các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh, các nam cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc và các nữ cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh thành tựu trong pháp này, còn các nữ cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc thì không thành tựu,

thì đời sống phạm hạnh này sẽ không được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Nhưng vì ngài Gotama, các tỳ-kheo, các tỳ-kheo-ni, các nam cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh, các nam cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc, các nữ cư sĩ áo trắng sống phạm hạnh và các nữ cư sĩ áo trắng hưởng thọ dục lạc đều thành tựu trong pháp này,

nên đời sống phạm hạnh này được trọn vẹn ở phương diện ấy.

Ví như, thưa ngài Gotama, sông Gaṅgā (Hằng Hà) nghiêng về biển, hướng về biển, xuôi về biển, và cứ thế đi mãi cho đến khi chạm tới biển; cũng vậy, hội chúng của ngài Gotama, gồm cả người tại gia lẫn người xuất gia, nghiêng về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, và cứ thế đi mãi cho đến khi chạm tới Niết-bàn."

"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời! Thưa ngài Gotama, ví như có người dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc. Cũng vậy, ngài Gotama đã dùng nhiều cách để làm sáng tỏ Pháp.

Con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo.

Mong con được xuất gia ngay trước mặt ngài Gotama, mong con được thọ cụ túc giới."

"Này Vaccha, ai trước đây đã xuất gia trong một giáo phái khác mà nay muốn xuất gia, muốn thọ cụ túc giới trong pháp và luật này, thì phải trải qua bốn tháng thử thách. Sau bốn tháng, nếu các tỳ-kheo bằng lòng, họ sẽ cho người ấy xuất gia và thọ cụ túc giới để trở thành tỳ-kheo.

Tuy vậy, ở đây ta có thấy sự khác nhau giữa từng người."

"Thưa Ngài, nếu những người trước đây đã xuất gia trong một giáo phái khác mà muốn xuất gia, muốn thọ cụ túc giới trong pháp và luật này phải trải qua bốn tháng thử thách, và sau bốn tháng, nếu các tỳ-kheo bằng lòng thì được cho xuất gia và thọ cụ túc giới để trở thành tỳ-kheo, thì con xin trải qua bốn năm thử thách. Sau bốn năm, nếu các tỳ-kheo bằng lòng, xin cho con xuất gia và thọ cụ túc giới để trở thành tỳ-kheo."

Du sĩ Vacchagotta đã được xuất gia ngay trước mặt Đức Thế Tôn, đã được thọ cụ túc giới.

Không lâu sau khi thọ cụ túc giới, mới được nửa tháng, Tôn giả Vacchagotta đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Vacchagotta bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, những gì có thể đạt được bằng trí của bậc hữu học và bằng minh của bậc hữu học, thì con đã đạt được cả rồi.

Xin Đức Thế Tôn dạy con Pháp cao hơn nữa."

"Vậy thì, này Vaccha, ông hãy tu tập thêm hai pháp: chỉ và quán.

[Chú thích của người dịch: Chỉ là samatha, tức sự lắng tâm; quán là vipassanā, tức sự thấy rõ thực tại.]

Này Vaccha, khi hai pháp ấy, tức chỉ và quán, được ông tu tập thêm, chúng sẽ dẫn đến sự thấu đạt nhiều giới."

Này Vaccha, ông sẽ có thể chứng đạt những điều ấy, tùy theo mức mình mong muốn:

'Ước gì con thực hiện được nhiều loại thần thông: từ một thân mà thành nhiều thân, từ nhiều thân lại trở về một thân; hiện ra rồi biến mất; đi xuyên qua tường, qua thành lũy, qua núi mà không bị cản trở, như đi trong hư không; lặn xuống và trồi lên trong đất như ở trong nước; đi trên mặt nước mà nước không rạn ra, như đi trên đất liền; ngồi xếp bằng bay trong hư không như con chim có cánh; lấy tay chạm vào và vuốt ve mặt trời, mặt trăng, những thiên thể có thần lực và uy lực lớn lao ấy; và tự do điều khiển thân mình cho đến tận cõi Phạm Thiên.'

Ngay tại mỗi chỗ ấy, ông sẽ đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một phạm vi ấy đều nằm trong tầm với.

Này Vaccha, ông sẽ có thể chứng đạt những điều ấy, tùy theo mức mình mong muốn:

'Ước gì với thiên nhĩ giới thanh tịnh, vượt ngoài khả năng của người thường, con nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của người, ở xa hay ở gần.' Ngay tại mỗi chỗ ấy, ông sẽ đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một phạm vi ấy đều nằm trong tầm với.

Này Vaccha, ông sẽ có thể chứng đạt những điều ấy, tùy theo mức mình mong muốn:

'Ước gì con biết được tâm của các chúng sinh khác, các cá nhân khác, sau khi dùng tâm mình bao trùm tâm của họ:

con biết tâm có tham là tâm có tham,

và biết tâm không tham là tâm không tham;

con biết tâm có sân là tâm có sân,

và biết tâm không sân là tâm không sân;

con biết tâm có si là tâm có si,

và biết tâm không si là tâm không si;

con biết tâm co rút là tâm co rút,

và biết tâm tán loạn là tâm tán loạn;

con biết tâm rộng lớn là tâm rộng lớn,

và biết tâm không rộng lớn là tâm không rộng lớn;

con biết tâm còn có bậc trên là tâm còn có bậc trên,


và biết tâm không còn bậc trên là tâm không còn bậc trên;

con biết tâm định tĩnh là tâm định tĩnh,

và biết tâm không định tĩnh là tâm không định tĩnh;

con biết tâm đã giải thoát là tâm đã giải thoát,

và biết tâm chưa giải thoát là tâm chưa giải thoát.'

Ngay tại mỗi chỗ ấy, ông sẽ đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một phạm vi ấy đều nằm trong tầm với.

Này Vaccha, ông sẽ có thể chứng đạt những điều ấy, tùy theo mức mình mong muốn:

'Ước gì con nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ, tức là một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra. Con nhớ rằng ở chỗ ấy, con đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, nhan sắc như thế này, ăn món ăn như thế này, cảm thọ lạc và khổ như thế này, tuổi thọ có giới hạn như thế này; con chết ở đó và sinh ra ở chỗ kia. Ở chỗ kia, con cũng đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, nhan sắc như thế này, ăn món ăn như thế này, cảm thọ lạc và khổ như thế này, tuổi thọ có giới hạn như thế này; con chết ở đó và sinh ra ở đây. Như vậy, con nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ với đầy đủ nét và chi tiết.'

Ngay tại mỗi chỗ ấy, ông sẽ đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một phạm vi ấy đều nằm trong tầm với.

Này Vaccha, ông sẽ có thể chứng đạt những điều ấy, tùy theo mức mình mong muốn:

'Ước gì với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài khả năng của người thường, con thấy được chúng sinh đang chết và đang sinh, kém cỏi và cao quý, đẹp và xấu, sinh vào cõi lành hay cõi dữ, và con hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình: những chúng sinh ấy đã làm ác bằng thân, đã làm ác bằng lời, đã làm ác bằng ý, đã mắng nhiếc các bậc thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp theo tà kiến, nên khi thân hoại mạng chung đã sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục; còn những chúng sinh kia đã làm lành bằng thân, đã làm lành bằng lời, đã làm lành bằng ý, không mắng nhiếc các bậc thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp theo chánh kiến, nên khi thân hoại mạng chung đã sinh vào cõi lành, cõi trời. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài khả năng của người thường, con thấy được chúng sinh đang chết và đang sinh, kém cỏi và cao quý, đẹp và xấu, sinh vào cõi lành hay cõi dữ, và con hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình.'

Ngay tại mỗi chỗ ấy, ông sẽ đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một phạm vi ấy đều nằm trong tầm với.

Này Vaccha, ông sẽ có thể chứng đạt những điều ấy, tùy theo mức mình mong muốn:

'Ước gì con do đoạn tận các lậu hoặc mà tự mình chứng tri bằng thắng trí, ngay trong đời này, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát.'

Ngay tại mỗi chỗ ấy, ông sẽ đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một phạm vi ấy đều nằm trong tầm với.

Rồi Tôn giả Vacchagotta hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy; ông từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu phía bên phải Ngài rồi ra đi.

Rồi Tôn giả Vacchagotta sống một mình, xa lánh, không buông lơi, nhiệt tâm và quyết chí. Chẳng bao lâu, ngay trong đời này, vị ấy tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và an trú vào sự viên mãn tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà những người con trai tốt lành đúng đắn xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không nhà.

Vị ấy biết rõ: "Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa."

Và Tôn giả Vacchagotta trở thành một trong những bậc A-la-hán.

Lúc bấy giờ, nhiều tỳ-kheo đang đi đến yết kiến Đức Thế Tôn.

Tôn giả Vacchagotta thấy các tỳ-kheo ấy từ xa đi đến.

Thấy vậy, ông đi đến chỗ các tỳ-kheo ấy. Đến nơi, ông nói với các tỳ-kheo ấy:

"Này các Tôn giả, các vị đang đi đâu vậy?"

"Thưa Tôn giả, chúng tôi đang đi yết kiến Đức Thế Tôn."

"Vậy thì, thưa các Tôn giả, xin các vị nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và thưa rằng:

'Bạch Thế Tôn, tỳ-kheo Vacchagotta cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và thưa rằng:

con đã hầu hạ Đức Thế Tôn, con đã hầu hạ bậc Thiện thệ.'"

"Dạ vâng, thưa Tôn giả" — các tỳ-kheo ấy đáp lời Tôn giả Vacchagotta.

Rồi các tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, Tôn giả Vacchagotta cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và thưa rằng:

'Con đã hầu hạ Đức Thế Tôn, con đã hầu hạ bậc Thiện thệ.'"

"Này các tỳ-kheo, từ trước ta đã dùng tâm mình bao trùm tâm tỳ-kheo Vacchagotta mà biết rõ:

'Tỳ-kheo Vacchagotta có ba minh, có đại thần lực, đại uy lực.'

Chư thiên cũng đã báo cho ta biết điều ấy:

[Chú thích: Thành tựu của Vacchagotta cũng được xác nhận trong bài kệ của ông ở Thag 1.112.]

'Tỳ-kheo Vacchagotta, bạch Thế Tôn, có ba minh, có đại thần lực, đại uy lực.'"

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Mahāvaccha, bài thứ ba, đến đây đã hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →