buppou

Trung Bộ Kinh · bài 74/152

Kinh Dīghanakha

Dīghanakhasutta

17 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Dīghanakha (Dīghanakhasutta) là bài kinh thứ bảy mươi tư trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Chuyện diễn ra tại Rājagaha (Vương Xá), một thành phố lớn của Ấn Độ thời bấy giờ, trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), trong một hang đá. Một du sĩ tên Dīghanakha (Trường Trảo) đến gặp Đức Thế Tôn. Du sĩ là người xuất gia lang thang, không thuộc Tăng đoàn nào, sống bằng khất thực và thường có chủ trương riêng về chân lý. Cái tên Dīghanakha nghĩa là móng tay dài, hẳn là biệt danh do ông để móng tay dài theo lối tu khổ hạnh.

Ông đến không phải để hỏi mà để tuyên bố. Chủ trương của ông chỉ một câu: tất cả đều không được tôi chấp nhận. Nghe qua thì đây là thái độ hoài nghi triệt để, từ chối mọi giáo lý và mọi quan điểm. Nhưng câu ấy có một chỗ hở, và Đức Thế Tôn nhìn thấy ngay: bản thân nó cũng là một tri kiến, một quan điểm. Ngài hỏi lại, cái quan điểm ấy có được chính ông chấp nhận không. Nếu ông nói có, ông đã chấp nhận một điều, trái với chủ trương của mình. Nếu ông nói không, ông đã tự bỏ chủ trương ấy. Dīghanakha né câu hỏi bằng một câu nước đôi, và cuộc đối thoại đi tiếp từ chỗ ấy.

Đức Thế Tôn bèn chia những người dạy đạo làm ba hạng: hạng chấp nhận tất cả, hạng không chấp nhận gì, và hạng chấp nhận một số điều mà thôi. Điều đáng chú ý là Ngài không bảo hạng thứ hai là đúng. Ngài nói quan điểm của hạng thứ nhất thì gần với tham lam và dính mắc, còn quan điểm của hạng thứ hai thì xa những thứ ấy, nhưng xa chưa đủ để là giải thoát. Rồi Ngài dựng lên hình ảnh một người có trí: người ấy tự hỏi, nếu mình khăng khăng rằng chỉ điều này là đúng, mọi điều khác đều sai, thì mình sẽ phải tranh cãi với ai, và cuộc tranh cãi ấy dẫn tới đâu. Câu trả lời là tranh cãi dẫn tới tranh luận, tranh luận dẫn tới bực bội, bực bội dẫn tới làm hại nhau. Thấy vậy, người ấy buông quan điểm ấy xuống mà không nhặt lên một quan điểm khác để thay thế.

Phần giữa bài kinh chuyển sang thân và cảm thọ, hai thứ gần gũi nhất với mỗi người. Đức Thế Tôn nói thân này do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sinh ra, được nuôi bằng cơm cháo, và tự bản chất là thứ đang hư hoại. Ngài khuyên nhìn nó như một khối bệnh, một mũi tên, một vật mình không làm chủ được, và khi nhìn như vậy thì lòng ham muốn đối với thân sẽ lắng xuống. Rồi Ngài nói về cảm thọ: có ba loại là lạc, khổ và không khổ không lạc. Khi một loại đang có mặt thì hai loại kia vắng mặt, nên cảm thọ nào cũng chỉ là thứ đến rồi đi, do duyên mà sinh, và nhất định phải chấm dứt. Ai thấy được như vậy thì nhàm chán, ly tham, và tâm được giải thoát.

Câu chuyện có một nhân vật thứ ba mà lúc đầu người đọc không để ý. Phía sau lưng Đức Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đang đứng quạt cho Ngài. Nghe tới câu nói rằng các pháp ấy được từ bỏ và buông bỏ là nhờ thắng trí, Tôn giả suy xét ngay tại chỗ ấy, và tâm Ngài được giải thoát hoàn toàn khỏi các lậu hoặc. Đây là điểm khiến bài kinh nổi tiếng trong truyền thống: theo chú giải, một ngàn hai trăm năm mươi vị A-la-hán đã tụ về đúng dịp ấy, và ngày nay lễ Makha Puja ở Thái Lan kỷ niệm biến cố này. Như vậy bài kinh ghi lại hai lần chứng ngộ trong cùng một buổi: một vị đã tu lâu, và một vị vừa mới nghe.

Dīghanakha thì chỉ đắc quả Dự lưu. Pháp nhãn khởi lên nơi ông với câu: phàm cái gì có tính sinh khởi, tất cả cái ấy đều có tính chấm dứt. Ông xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo, và bản Pali kết thúc bằng việc ông trở thành người cư sĩ. Với người đọc hôm nay, bài kinh này không hề xa lạ. Ai cũng từng gặp một người nói rằng mình chẳng tin gì cả, và cũng từng thấy chính mình khăng khăng rằng quan điểm của mình là đúng nhất. Bài kinh không bảo phải im lặng hay phải hoài nghi; nó chỉ ra rằng một quan điểm, dù đúng đến đâu, khi bị nắm chặt thì vẫn dẫn tới tranh cãi. Và nó cho thấy chỗ buông ra không phải là một quan điểm mới, mà là một sự thấy.

[Chú thích của người dịch: Dīghanakha nghĩa là móng tay dài, hẳn là một biệt danh do ông để móng tay dài theo lối khổ hạnh; bản dịch Hán thường gọi ông là Trường Trảo.]

Dīghanakhasutta — bài kinh mang tên du sĩ Dīghanakha, người chủ trương không có gì là mình chấp nhận được


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh ghi lại hai việc lớn trong cùng một buổi: Tôn giả Sāriputta hoàn toàn giác ngộ, và du sĩ Dīghanakha quy hướng về Đức Thế Tôn. Theo chú giải, đây là cuộc tụ họp có bốn đặc điểm: đúng ngày trăng tròn tháng Māgha, một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo tự tụ về, tất cả đều là bậc A-la-hán có sáu thắng trí, và tất cả đều được xuất gia bằng lời mời 'hãy đến, này tỳ-kheo'. Ở Thái Lan, ngày ấy nay được cử hành thành lễ Makha Puja.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), trong hang Sūkarakhatā (hang Heo).

Rồi du sĩ Dīghanakha (Trường Trảo) đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, ông chào hỏi Ngài.

[Chú thích: Móng tay dài bị Luật cấm, và người đang làm lễ tấn phong của bà-la-môn cũng không được để như vậy. Nhưng các giáo phái khổ hạnh lại xem việc bỏ mặc tóc, râu và móng tay là một hạnh tu, nên cái tên ấy hẳn là biệt danh của một du sĩ. Theo chú giải Pali và một số văn bản phương bắc, ông là cháu của Tôn giả Sāriputta.]

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng nhớ, ông đứng sang một bên. Đứng một bên, du sĩ Dīghanakha nói với Đức Thế Tôn:

"Thưa ngài Gotama, tôi là người nói như vầy, có tri kiến như vầy:

'Tất cả đều không được tôi chấp nhận.'"

[Chú thích: Câu 'tất cả đều không được tôi chấp nhận' cố ý mơ hồ, và chỗ mơ hồ ấy có lẽ chính là dụng ý. Các bản Phạn và Tây Tạng tương ứng cũng giữ nguyên như vậy, còn vài bản Hán thì thêm chữ tri kiến cho rõ nghĩa. Cách nói gần nhất trong Pali là ở DN 25:10.11, nơi câu ấy dùng cho một tỳ-kheo kén ăn từ chối món ăn, cho thấy sự khắt khe trong ăn uống được xem là dấu hiệu của đức hạnh.]

"Còn tri kiến này của ông, này Aggivessana:

'Tất cả đều không được tôi chấp nhận' — tri kiến ấy có được ông chấp nhận không?"

[Chú thích: Aggivessana là tên dòng họ bà-la-môn của ông.]

"Nếu tri kiến ấy được tôi chấp nhận, thưa ngài Gotama, thì cũng chẳng có gì khác, cũng chẳng có gì khác!"

[Chú thích: Câu hỏi vừa rồi vừa là một nét khôi hài, vừa đụng vào một nỗi lo sâu hơn: nói rằng mình không tin gì thì dễ, nhưng tâm không thể sống mãi trong trạng thái không biết, vì nó luôn đi tìm câu trả lời. Khi một người nhận mình không có tri kiến nào, chính thái độ hoài nghi ấy lại là chỗ ông ta giấu tri kiến của mình.]

Này Aggivessana, trong thế gian này có rất nhiều người, nhiều hơn thế nữa, đã nói như vầy:

'Cũng chẳng có gì khác, cũng chẳng có gì khác.'

Nhưng họ không từ bỏ tri kiến ấy, mà lại nắm lấy một tri kiến khác.

Này Aggivessana, trong thế gian này có rất ít người, ít hơn thế nữa, đã nói như vầy:

'Cũng chẳng có gì khác, cũng chẳng có gì khác.'

Và họ từ bỏ tri kiến ấy, không nắm lấy một tri kiến khác.

Này Aggivessana, có những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy:

'Tất cả đều được tôi chấp nhận.'

Này Aggivessana, có những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy:

'Tất cả đều không được tôi chấp nhận.'

Này Aggivessana, có những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy:

'Một số điều được tôi chấp nhận, một số điều không được tôi chấp nhận.'

Về điểm này, này Aggivessana, những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy: 'tất cả đều được tôi chấp nhận'

thì tri kiến ấy của họ gần với tham, gần với sự trói buộc, gần với sự ưa thích, gần với sự bám chặt, gần với sự nắm giữ;

về điểm này, này Aggivessana, những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy: 'tất cả đều không được tôi chấp nhận'

thì tri kiến ấy của họ xa với tham, xa với sự trói buộc, xa với sự ưa thích, xa với sự bám chặt, xa với sự nắm giữ.

Khi Ngài nói vậy, du sĩ Dīghanakha nói với Đức Thế Tôn:

"Ngài Gotama ca ngợi tri kiến của tôi! Ngài Gotama tán dương tri kiến của tôi!"

Này Aggivessana, còn những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy:

'Một số điều được tôi chấp nhận, một số điều không được tôi chấp nhận.'

Điều gì họ chấp nhận thì tri kiến ấy của họ gần với tham, gần với sự trói buộc, gần với sự ưa thích, gần với sự bám chặt, gần với sự nắm giữ;

điều gì họ không chấp nhận thì tri kiến ấy của họ xa với tham, xa với sự trói buộc, xa với sự ưa thích, xa với sự bám chặt, xa với sự nắm giữ.

Này Aggivessana, còn những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy:

'Tất cả đều được tôi chấp nhận.'

Về điểm này, một người có trí suy xét như vầy:

"Tri kiến của tôi là:

tất cả đều được tôi chấp nhận."

"Nếu tôi khăng khăng nắm chặt và bám vào tri kiến này mà nói:

'chỉ điều này là sự thật, mọi điều khác đều hư dối';

thì tôi sẽ tranh cãi với hai hạng người:

một sa-môn hay bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy: 'tất cả đều không được tôi chấp nhận',

và một sa-môn hay bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy: 'một số điều được tôi chấp nhận, một số điều không được tôi chấp nhận' —

tôi sẽ tranh cãi với hai hạng người ấy.

Khi có tranh cãi thì có tranh luận; khi có tranh luận thì có bực bội; khi có bực bội thì có sự tổn hại."

Như vậy, người ấy tự thấy nơi mình sự tranh cãi, sự tranh luận, sự bực bội và sự tổn hại, nên từ bỏ tri kiến ấy mà không nắm lấy một tri kiến khác.

Đó là cách các tri kiến ấy được từ bỏ, đó là cách các tri kiến ấy được buông ra.

Này Aggivessana, còn những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy:

'Tất cả đều không được tôi chấp nhận.'

Về điểm này, một người có trí suy xét như vầy:

"Tri kiến của tôi là:

tất cả đều không được tôi chấp nhận."


"Nếu tôi khăng khăng nắm chặt và bám vào tri kiến này mà nói:

'chỉ điều này là sự thật, mọi điều khác đều hư dối';

thì tôi sẽ tranh cãi với hai hạng người:

một sa-môn hay bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy: 'tất cả đều được tôi chấp nhận',

và một sa-môn hay bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy: 'một số điều được tôi chấp nhận, một số điều không được tôi chấp nhận' —

tôi sẽ tranh cãi với hai hạng người ấy.

Khi có tranh cãi thì có tranh luận; khi có tranh luận thì có bực bội; khi có bực bội thì có sự tổn hại."

Như vậy, người ấy tự thấy nơi mình sự tranh cãi, sự tranh luận, sự bực bội và sự tổn hại, nên từ bỏ tri kiến ấy mà không nắm lấy một tri kiến khác.

Đó là cách các tri kiến ấy được từ bỏ, đó là cách các tri kiến ấy được buông ra.

Này Aggivessana, còn những sa-môn và bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy:

'Một số điều được tôi chấp nhận, một số điều không được tôi chấp nhận.'

Về điểm này, một người có trí suy xét như vầy:

"Tri kiến của tôi là:

một số điều được tôi chấp nhận, một số điều không được tôi chấp nhận."

"Nếu tôi khăng khăng nắm chặt và bám vào tri kiến này mà nói:

'chỉ điều này là sự thật, mọi điều khác đều hư dối';

thì tôi sẽ tranh cãi với hai hạng người:

một sa-môn hay bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy: 'tất cả đều được tôi chấp nhận',

và một sa-môn hay bà-la-môn nói như vầy, có tri kiến như vầy: 'tất cả đều không được tôi chấp nhận' —

tôi sẽ tranh cãi với hai hạng người ấy.

Khi có tranh cãi thì có tranh luận; khi có tranh luận thì có bực bội; khi có bực bội thì có sự tổn hại."

Như vậy, người ấy tự thấy nơi mình sự tranh cãi, sự tranh luận, sự bực bội và sự tổn hại, nên từ bỏ tri kiến ấy mà không nắm lấy một tri kiến khác.

Đó là cách các tri kiến ấy được từ bỏ, đó là cách các tri kiến ấy được buông ra.

Này Aggivessana, thân này có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo bồi đắp mà thành, là pháp phải chịu vô thường, phải bị bào mòn, chà xát, bẻ gãy và tiêu hoại. Cần phải quán thân này là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã.

Khi quán thân này như vậy là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã, thì lòng ham muốn đối với thân, sự luyến ái đối với thân và sự tùy thuộc vào thân đều được từ bỏ.

[Chú thích: Từ kāyanvayatā, sự tùy thuộc vào thân, cũng gặp ở MN 36:4.4. Việc dùng từ hiếm gặp này ở đây gợi ý đến những lối tu hành hạ thân như nhịn ăn của các du sĩ thời ấy.]

Này Aggivessana, có ba cảm thọ này:

cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc.

Này Aggivessana, khi nào người ta cảm thọ lạc, thì lúc ấy người ta không cảm thọ khổ, cũng không cảm thọ không khổ không lạc;

lúc ấy người ta chỉ cảm thọ lạc.

Này Aggivessana, khi nào người ta cảm thọ khổ, thì lúc ấy người ta không cảm thọ lạc, cũng không cảm thọ không khổ không lạc;

lúc ấy người ta chỉ cảm thọ khổ.

Này Aggivessana, khi nào người ta cảm thọ không khổ không lạc, thì lúc ấy người ta không cảm thọ lạc, cũng không cảm thọ khổ;

lúc ấy người ta chỉ cảm thọ không khổ không lạc.

Này Aggivessana, cảm thọ lạc cũng là vô thường, là pháp hữu vi, do duyên sinh, là pháp phải tiêu hoại, phải tan rã, phải lìa bỏ, phải chấm dứt;

cảm thọ khổ cũng là vô thường, là pháp hữu vi, do duyên sinh, là pháp phải tiêu hoại, phải tan rã, phải lìa bỏ, phải chấm dứt;

cảm thọ không khổ không lạc cũng là vô thường, là pháp hữu vi, do duyên sinh, là pháp phải tiêu hoại, phải tan rã, phải lìa bỏ, phải chấm dứt.

Này Aggivessana, thấy vậy, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán cảm thọ lạc, nhàm chán cảm thọ khổ, nhàm chán cảm thọ không khổ không lạc;

do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết: "Ta đã được giải thoát."

Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'

Này Aggivessana, vị tỳ-kheo có tâm giải thoát như vậy không theo phe ai, không tranh cãi với ai. Điều gì người đời nói, vị ấy cũng dùng lời ấy mà nói, nhưng không nắm chặt vào.

[Chú thích: Cách nói này cũng gặp ở DN 9:53.5.]

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đang đứng sau lưng Đức Thế Tôn, quạt cho Ngài.

Rồi Tôn giả Sāriputta nghĩ rằng:

"Hóa ra Đức Thế Tôn nói đến sự từ bỏ từng pháp ấy bằng thắng trí; hóa ra Đức Thiện Thệ nói đến sự buông bỏ từng pháp ấy bằng thắng trí."

Trong khi Tôn giả Sāriputta suy xét như vậy, tâm của Ngài được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn nắm giữ.

[Chú thích: Tôn giả Sāriputta đắc quả Dự lưu khi nghe một bài giảng ngắn của tỳ-kheo Assaji, rồi cùng Moggallāna rời thầy cũ là Sañjaya. AN 4.172 nói Ngài giác ngộ hoàn toàn nửa tháng sau khi xuất gia, nên cuộc đối thoại này diễn ra chỉ khoảng nửa tháng sau khi rời Sañjaya. Giáo lý của Sañjaya là tránh mọi lập trường, rất giống chủ trương của Dīghanakha, nên có lẽ ông cũng là đệ tử của Sañjaya.]

Còn nơi du sĩ Dīghanakha, pháp nhãn không bụi, không cấu khởi lên:

"Phàm cái gì có tính sinh khởi, tất cả cái ấy đều có tính chấm dứt."

Rồi du sĩ Dīghanakha, người đã thấy Pháp, đã đạt Pháp, đã biết Pháp, đã thấu suốt Pháp, đã vượt qua nghi ngờ, đã dứt sạch do dự, đã được sự không sợ hãi, không còn phải nhờ ai khác trong lời dạy của bậc Đạo sư, bèn nói với Đức Thế Tôn:

"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời!

Ví như, thưa ngài Gotama, có người dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc. Cũng vậy, ngài Gotama đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách.

Con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo."


"Mong ngài Gotama nhận con làm người cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời."

[Chú thích: Chỉ bản Pali nói Dīghanakha trở thành người cư sĩ; các bản tương ứng đều nói ông xuất gia và đắc quả A-la-hán, và khó có du sĩ nào lại chọn làm cư sĩ, nên nhiều khả năng bản Pali có sai sót. Theo truyền thống phương bắc, trong đó có Đại trí độ luận và Avadānaśataka, ông cắt móng tay trước khi xuất gia và được gọi bằng tên thật là Koṣṭhila, tức tỳ-kheo Mahākoṭṭhita trong Pali. Điều này trái với truyền thống Pali, nhưng như Anālayo cho thấy, các ghi chép Pali có vài chỗ không nhất quán nên truyền thống phương bắc vẫn đáng tin.]

Kinh Dīghanakha, bài thứ tư, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →