Trung Bộ Kinh · bài 96/152
Kinh Esukārī
Esukārī Sutta — bài kinh về bốn kiểu phục vụ và bốn loại của cải mà giới bà-la-môn đặt ra, và về chỗ đứng của con người tùy theo việc làm chứ không tùy theo giai cấp
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Esukārī (Esukārī Sutta) là bài kinh thứ 96 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra ở Sāvatthī, nơi Đức Thế Tôn trú trong rừng Jeta. Một bà-la-môn tên là Esukārī đến thăm Ngài, chào hỏi theo lệ, rồi ngồi xuống một bên và bắt đầu kể ra những điều mà giới bà-la-môn thời ấy vẫn dạy về trật tự xã hội.
Chuyện thứ nhất là bốn kiểu phục vụ. Giới bà-la-môn dạy rằng một người bà-la-môn thì ai cũng phục vụ được, nhưng chính bà-la-môn thì chỉ phục vụ bà-la-môn; một người vua chúa thì có người vua chúa, thương nhân và nô lệ phục vụ; một thương nhân thì chỉ có thương nhân và nô lệ phục vụ; còn một nô lệ thì chỉ nô lệ phục vụ nô lệ, vì còn ai khác nữa mà đi phục vụ một nô lệ. Nói cách khác, đây là trật tự giai cấp được diễn đạt thành một bảng phân công ai được sai bảo ai.
Đức Thế Tôn không tranh cãi về bảng ấy. Ngài hỏi một câu đơn giản: cả thế gian có cho phép các bà-la-môn đặt ra luật ấy không? Esukārī đáp không. Ngài bèn ví chuyện đó như người ta treo một miếng thịt lên cổ một kẻ nghèo khó, dù anh ta không muốn, rồi bắt anh ta ăn và trả tiền. Một luật do một nhóm người tự đặt ra rồi áp lên tất cả mọi người thì cũng vậy.
Từ chỗ ấy, Ngài đưa ra tiêu chuẩn khác để quyết định nên phục vụ ai. Không phải phục vụ tất cả, cũng không phải không phục vụ ai. Hãy phục vụ người mà khi phục vụ, mình trở nên tốt hơn chứ không kém hơn, nghĩa là lòng tin, giới, sự nghe học, sự bố thí và tuệ nơi mình tăng trưởng. Còn dòng dõi cao sang, sắc đẹp hay của cải thì không làm ai tốt hơn hay kém hơn, vì có kẻ sinh ra trong dòng dõi cao sang mà vẫn sát sinh, trộm cắp, nói dối, và cũng có kẻ sinh ra trong dòng dõi ấy mà làm ngược lại.
Sau đó Esukārī kể tiếp chuyện thứ hai: giới bà-la-môn cũng đặt ra bốn loại của cải riêng cho từng giai cấp, là đời sống khất thực cho bà-la-môn, cây cung và ống tên cho người vua chúa, nghề nông và chăn nuôi cho thương nhân, cái liềm và cái đập lúa cho nô lệ. Đức Thế Tôn lại hỏi câu cũ, lại dùng ví dụ miếng thịt, rồi nói thẳng điều Ngài chủ trương: của cải thật của một con người là Pháp cao quý, vượt ra ngoài thế gian. Cách gọi ai là bà-la-môn hay nô lệ chỉ là quy ước theo dòng dõi cha mẹ, giống như lửa được gọi là lửa củi hay lửa cỏ tùy theo thứ nó đang đốt.
Phần cuối bài kinh là ba phép thử, và cả ba đều rất giản dị. Ai cũng có thể tu tập tâm từ không thù địch, không não hại; ai cũng có thể lấy đồ tắm rửa ra sông mà rửa trôi bụi bẩn; ai cũng có thể nhóm lửa, và lửa nào cũng có ngọn, có màu, có ánh sáng. Cũng vậy, người xuất gia từ bất cứ gia đình nào, khi nương vào giáo pháp và giới luật của Như Lai mà từ bỏ mười việc ác, thì đều thành tựu được pháp thiện lành như nhau. Nghe đến đó, Esukārī tán thán và xin quy y làm người cư sĩ. Bài kinh này đáng đọc vì nó không chỉ nói về một xã hội cách đây hơn hai ngàn năm, mà còn đặt lại câu hỏi vẫn còn nguyên: giá trị của một con người nằm ở chỗ nào.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Rồi bà-la-môn Esukārī đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi rồi, ông chào hỏi Ngài.
[Chú thích: Vị bà-la-môn này chỉ xuất hiện trong bài kinh này, không có chi tiết nào khác để nhận diện ông. Một vị vua cùng tên có mặt trong Jātaka 509. Có thể esukārī tương đương với ayaskārī, nghĩa là thợ rèn.]
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và chuyện trò thân thiện, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên rồi, bà-la-môn Esukārī nói với Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn đặt ra bốn kiểu phục vụ:
[Chú thích: Chữ pāricariyā chỉ việc phục vụ nói chung, có thể là chăm sóc, nuôi dưỡng, hầu hạ, cũng có thể là dâng cúng trong nghi lễ, và trong vài ngữ cảnh còn chỉ sự hiến dâng thân xác.]
kiểu phục vụ dành cho người bà-la-môn, kiểu phục vụ dành cho người vua chúa, kiểu phục vụ dành cho thương nhân, kiểu phục vụ dành cho nô lệ.
Thưa ngài Gotama, đây là kiểu phục vụ mà các bà-la-môn đặt ra cho người bà-la-môn:
'Bà-la-môn, người vua chúa, thương nhân hay nô lệ, ai cũng có thể phục vụ một bà-la-môn.'
[Chú thích: Luật Manu, từ câu 238 chương 2 trở đi, cho phép trong thời loạn một bà-la-môn được nhận giáo lý từ các giai cấp thấp hơn, trừ giai cấp nô lệ.]
Thưa ngài Gotama, đó là kiểu phục vụ mà các bà-la-môn đặt ra cho người bà-la-môn.
Thưa ngài Gotama, đây là kiểu phục vụ mà các bà-la-môn đặt ra cho người vua chúa:
'Người vua chúa, thương nhân hay nô lệ, ai cũng có thể phục vụ một người vua chúa.'
Thưa ngài Gotama, đó là kiểu phục vụ mà các bà-la-môn đặt ra cho người vua chúa.
Thưa ngài Gotama, đây là kiểu phục vụ mà các bà-la-môn đặt ra cho thương nhân:
'Thương nhân hay nô lệ, ai cũng có thể phục vụ một thương nhân.'
Thưa ngài Gotama, đó là kiểu phục vụ mà các bà-la-môn đặt ra cho thương nhân.
Thưa ngài Gotama, đây là kiểu phục vụ mà các bà-la-môn đặt ra cho nô lệ:
'Chỉ nô lệ mới phục vụ nô lệ.
Vì ai khác nữa lại đi phục vụ một nô lệ?'
Thưa ngài Gotama, đó là kiểu phục vụ mà các bà-la-môn đặt ra cho nô lệ.
Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn đặt ra bốn kiểu phục vụ ấy.
Ngài Gotama nói sao về việc này?"
"Nhưng này bà-la-môn, có phải cả thế gian đã cho phép các bà-la-môn đặt ra bốn kiểu phục vụ ấy không?"
"Thưa ngài Gotama, không phải vậy."
"Ví như, này bà-la-môn, người ta treo một miếng thịt lên người một kẻ nghèo khó, không có gì, không có chút của cải nào, dù anh ta không muốn, rồi bảo: 'Này anh kia, anh phải ăn miếng thịt này và phải trả tiền cho nó.'
Cũng vậy, này bà-la-môn, các bà-la-môn đặt ra bốn kiểu phục vụ ấy mà không có sự thừa nhận của những sa-môn và bà-la-môn kia."
[Chú thích: Chữ "kia" ở đây có vẻ lạc chỗ, vì trước đó chưa hề nhắc đến sa-môn hay bà-la-môn nào. Ở đoạn tương đương trong Tăng Chi Bộ Kinh 6.57 thì câu này lại hợp mạch, nên rất có thể nó được chép từ đó sang.]
"Này bà-la-môn, Ta không nói rằng 'phải phục vụ tất cả'; Ta cũng không nói rằng 'không phải phục vụ ai cả'.
Này bà-la-môn, nếu phục vụ ai mà do việc phục vụ ấy mình trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, thì Ta không nói rằng 'phải phục vụ người ấy';
còn nếu phục vụ ai mà do việc phục vụ ấy mình trở nên tốt hơn chứ không kém hơn, thì Ta nói rằng 'phải phục vụ người ấy'."
"Này bà-la-môn, nếu người ta hỏi một người vua chúa như vầy:
'Nên phục vụ ai đây: người mà khi phục vụ, do việc phục vụ ấy mình trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, hay người mà khi phục vụ, do việc phục vụ ấy mình trở nên tốt hơn chứ không kém hơn?
Vậy ông sẽ phục vụ ai trong hai người ấy?', thì này bà-la-môn, một người vua chúa trả lời đúng đắn sẽ trả lời như vầy:
'Người mà khi tôi phục vụ, do việc phục vụ ấy tôi trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, thì tôi sẽ không phục vụ người ấy; còn người mà khi tôi phục vụ, do việc phục vụ ấy tôi trở nên tốt hơn chứ không kém hơn, thì tôi sẽ phục vụ người ấy.'"
"Này bà-la-môn, nếu người ta hỏi một bà-la-môn như vầy: 'Nên phục vụ ai đây: người mà khi phục vụ, do việc phục vụ ấy mình trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, hay người mà khi phục vụ, do việc phục vụ ấy mình trở nên tốt hơn chứ không kém hơn? Vậy ông sẽ phục vụ ai trong hai người ấy?', thì này bà-la-môn, một bà-la-môn trả lời đúng đắn cũng sẽ trả lời như vầy: 'Người mà khi tôi phục vụ, do việc phục vụ ấy tôi trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, thì tôi sẽ không phục vụ người ấy; còn người mà khi tôi phục vụ, do việc phục vụ ấy tôi trở nên tốt hơn chứ không kém hơn, thì tôi sẽ phục vụ người ấy.'"
"Này bà-la-môn, nếu người ta hỏi một thương nhân như vầy: 'Nên phục vụ ai đây: người mà khi phục vụ, do việc phục vụ ấy mình trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, hay người mà khi phục vụ, do việc phục vụ ấy mình trở nên tốt hơn chứ không kém hơn? Vậy ông sẽ phục vụ ai trong hai người ấy?', thì này bà-la-môn, một thương nhân trả lời đúng đắn cũng sẽ trả lời như vầy: 'Người mà khi tôi phục vụ, do việc phục vụ ấy tôi trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, thì tôi sẽ không phục vụ người ấy; còn người mà khi tôi phục vụ, do việc phục vụ ấy tôi trở nên tốt hơn chứ không kém hơn, thì tôi sẽ phục vụ người ấy.'"
"Này bà-la-môn, nếu người ta hỏi một nô lệ như vầy:
'Nên phục vụ ai đây: người mà khi phục vụ, do việc phục vụ ấy mình trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, hay người mà khi phục vụ, do việc phục vụ ấy mình trở nên tốt hơn chứ không kém hơn?
Vậy ông sẽ phục vụ ai trong hai người ấy?', thì này bà-la-môn, một nô lệ trả lời đúng đắn cũng sẽ trả lời như vầy:
'Người mà khi tôi phục vụ, do việc phục vụ ấy tôi trở nên kém hơn chứ không tốt hơn, thì tôi sẽ không phục vụ người ấy; còn người mà khi tôi phục vụ, do việc phục vụ ấy tôi trở nên tốt hơn chứ không kém hơn, thì tôi sẽ phục vụ người ấy.'"
Này bà-la-môn, Ta không nói rằng "dòng dõi cao sang làm người ta tốt hơn", mà Ta cũng không nói rằng "dòng dõi cao sang làm người ta kém hơn";
Ta không nói rằng "sắc đẹp hơn người làm người ta tốt hơn", mà Ta cũng không nói rằng "sắc đẹp hơn người làm người ta kém hơn";
[Chú thích: Chú giải hiểu uḷāravaṇṇatā là thuộc giai cấp cao. Điều đó có thể đúng, nhưng thông thường trong tiếng Pali chữ này chỉ sắc đẹp.]
Ta không nói rằng "của cải dồi dào làm người ta tốt hơn", mà Ta cũng không nói rằng "của cải dồi dào làm người ta kém hơn".
Vì này bà-la-môn, ở đời này có kẻ sinh ra trong dòng dõi cao sang mà lại sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, có tà kiến.
Vì thế mà Ta nói rằng: "dòng dõi cao sang không làm người ta tốt hơn".
Và này bà-la-môn, cũng có kẻ sinh ra trong dòng dõi cao sang mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến.
Vì thế mà Ta nói rằng: "dòng dõi cao sang không làm người ta kém hơn".
Và này bà-la-môn, cũng có kẻ có sắc đẹp hơn người
mà lại sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận, có tà kiến.
Và này bà-la-môn, cũng có kẻ có của cải dồi dào mà lại sát sinh, trộm cắp,
tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, tâm sân hận,
có tà kiến.
Vì thế mà Ta nói rằng: "của cải dồi dào không làm người ta tốt hơn".
Và này bà-la-môn, cũng có kẻ có của cải dồi dào mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến.
Vì thế mà Ta nói rằng: "của cải dồi dào không làm người ta kém hơn".
"Này bà-la-môn, Ta không nói rằng 'phải phục vụ tất cả'; Ta cũng không nói rằng 'không phải phục vụ ai cả'.
Này bà-la-môn, nếu phục vụ ai mà do việc phục vụ ấy lòng tin tăng trưởng, giới tăng trưởng, sự nghe học tăng trưởng, sự bố thí tăng trưởng, tuệ tăng trưởng, thì Ta nói rằng 'phải phục vụ người ấy'.
Này bà-la-môn, nếu phục vụ ai mà do việc phục vụ ấy lòng tin không tăng trưởng, giới không tăng trưởng, sự nghe học không tăng trưởng, sự bố thí không tăng trưởng, tuệ không tăng trưởng, thì Ta nói rằng 'không phải phục vụ người ấy'."
Khi Ngài nói như vậy, bà-la-môn Esukārī nói với Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn đặt ra bốn loại của cải:
họ đặt ra của cải cho người bà-la-môn, của cải cho người vua chúa, của cải cho thương nhân, của cải cho nô lệ.
[Chú thích: Trong chừng mực nhất định, người thuộc giai cấp cao có thể theo nghề của giai cấp thấp hơn, nhưng ngược lại thì không được, theo Vāsiṣṭha Dharmasūtra 2.22 đến 2.23.]
Thưa ngài Gotama, đây là của cải mà các bà-la-môn đặt ra cho người bà-la-môn: đời sống khất thực.
[Chú thích: Lối sống khất thực được Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 3.5.1 và 4.4.22 công nhận là nghề tốt nhất cho các vị hiền triết thời xưa. Vāsiṣṭha Dharmasūtra 2.13 về sau kể sáu nghề của một bà-la-môn: học, tụng, tế lễ cho mình, tế lễ cho người khác, bố thí và nhận của bố thí. Luật Manu 1.88 cũng tương tự.]
Nhưng một bà-la-môn coi thường của cải của chính mình, tức đời sống khất thực, thì là kẻ làm việc không nên làm, như người chăn bò lấy của không được cho.
Thưa ngài Gotama, đó là của cải mà các bà-la-môn đặt ra cho người bà-la-môn.
Thưa ngài Gotama, đây là của cải mà các bà-la-môn đặt ra cho người vua chúa: cây cung và ống tên.
[Chú thích: Vāsiṣṭha Dharmasūtra 2.16 và 2.18 nói vua chúa và thương nhân chia sẻ với bà-la-môn ba nghề là tụng kinh, tế lễ và bố thí; nghề riêng của họ là dùng vũ khí. Luật Manu 1.89 nói khéo hơn, gọi đó là việc bảo vệ dân chúng.]
Nhưng một người vua chúa coi thường của cải của chính mình, tức cây cung và ống tên, thì là kẻ làm việc không nên làm, như người chăn bò lấy của không được cho.
Thưa ngài Gotama, đó là của cải mà các bà-la-môn đặt ra cho người vua chúa.
Thưa ngài Gotama, đây là của cải mà các bà-la-môn đặt ra cho thương nhân: nghề nông và nghề chăn nuôi.
[Chú thích: Vāsiṣṭha Dharmasūtra 2.19 kể nghề nông, buôn bán, chăn nuôi và cho vay lấy lãi; điều này phản ánh một nền kinh tế đã phát triển hơn trong văn bản muộn ấy. Luật Manu 1.90 cũng tương tự.]
Nhưng một thương nhân coi thường của cải của chính mình, tức nghề nông và nghề chăn nuôi, thì là kẻ làm việc không nên làm, như người chăn bò lấy của không được cho.
Thưa ngài Gotama, đó là của cải mà các bà-la-môn đặt ra cho thương nhân.
Thưa ngài Gotama, đây là của cải mà các bà-la-môn đặt ra cho nô lệ: cái liềm và cái đập lúa.
[Chú thích: Vāsiṣṭha Dharmasūtra 2.20 nói việc duy nhất của một nô lệ là phục vụ các giai cấp khác. Luật Manu 1.91 cũng tương tự, nhấn mạnh sự vâng lời mà không oán trách.]
Nhưng một nô lệ coi thường của cải của chính mình, tức cái liềm và cái đập lúa, thì là kẻ làm việc không nên làm, như người chăn bò lấy của không được cho.
Thưa ngài Gotama, đó là của cải mà các bà-la-môn đặt ra cho nô lệ.
Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn đặt ra bốn loại của cải ấy.
Ngài Gotama nói sao về việc này?"
"Nhưng này bà-la-môn, có phải cả thế gian đã cho phép các bà-la-môn đặt ra bốn loại của cải ấy không?"
"Thưa ngài Gotama, không phải vậy."
"Ví như, này bà-la-môn, người ta treo một miếng thịt lên người một kẻ nghèo khó, không có gì, không có chút của cải nào, dù anh ta không muốn, rồi bảo: 'Này anh kia, anh phải ăn miếng thịt này và phải trả tiền cho nó.'
Cũng vậy, này bà-la-môn, các bà-la-môn đặt ra bốn loại của cải ấy mà không có sự thừa nhận của những sa-môn và bà-la-môn kia."
Này bà-la-môn, Ta chủ trương của cải của một con người là Pháp cao quý, vượt ra ngoài thế gian.
[Chú thích: Cách dùng lokuttara cho "giáo pháp" như trong câu trên cũng gặp ở SN 20.7:1.6, AN 2.47:1.5 và AN 5.79:5.2.] [Chú thích của người dịch: Lokuttara chỉ cái vượt ra ngoài thế gian, tức giáo pháp đưa người ra khỏi thế gian.]
Nhưng cứ theo dòng dõi cha mẹ truyền lại từ đời xưa, thì sinh ra ở đâu, người ta được gọi tên theo đó.
Nếu thân này sinh ra trong gia đình vua chúa, thì được gọi là "người vua chúa";
nếu sinh ra trong gia đình bà-la-môn, thì được gọi là "bà-la-môn";
nếu sinh ra trong gia đình thương nhân, thì được gọi là "thương nhân";
nếu sinh ra trong gia đình nô lệ, thì được gọi là "nô lệ".
Ví như, này bà-la-môn, lửa cháy nhờ duyên nào thì được gọi tên theo duyên ấy.
Lửa cháy nhờ củi thì được gọi là "lửa củi";
lửa cháy nhờ mảnh gỗ thì được gọi là "lửa mảnh gỗ";
lửa cháy nhờ cỏ thì được gọi là "lửa cỏ";
lửa cháy nhờ phân bò thì được gọi là "lửa phân bò".
Cũng vậy, này bà-la-môn, Ta chủ trương của cải của một con người là Pháp cao quý, vượt ra ngoài thế gian.
Nhưng cứ theo dòng dõi cha mẹ truyền lại từ đời xưa, thì sinh ra ở đâu, người ta được gọi tên theo đó.
Nếu thân này sinh ra trong gia đình vua chúa, thì được gọi là "người vua chúa";
nếu sinh ra trong gia đình bà-la-môn, thì được gọi là "bà-la-môn";
nếu sinh ra trong gia đình thương nhân, thì được gọi là "thương nhân";
nếu sinh ra trong gia đình nô lệ, thì được gọi là "nô lệ".
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình vua chúa mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình bà-la-môn mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình thương nhân mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình nô lệ mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
"Này bà-la-môn, ông nghĩ sao,
có phải chỉ người bà-la-môn mới có khả năng tu tập tâm từ không thù địch, không não hại ở nơi này, còn người vua chúa, thương nhân và nô lệ thì không?"
"Thưa ngài Gotama, không phải vậy.
Người vua chúa cũng có thể tu tập tâm từ không thù địch, không não hại ở nơi này;
người bà-la-môn cũng có thể tu tập tâm từ không thù địch, không não hại ở nơi này;
thương nhân cũng có thể tu tập tâm từ không thù địch, không não hại ở nơi này;
nô lệ cũng có thể tu tập tâm từ không thù địch, không não hại ở nơi này;
vì thưa ngài Gotama, cả bốn giai cấp đều có thể tu tập tâm từ không thù địch, không não hại ở nơi này."
"Cũng vậy, này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình vua chúa mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình bà-la-môn mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình thương nhân mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình nô lệ mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý."
"Này bà-la-môn, ông nghĩ sao,
có phải chỉ người bà-la-môn mới có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn, còn người vua chúa, thương nhân và nô lệ thì không?"
[Chú thích: Câu này dựa vào tục tắm rửa theo nghi lễ của giới bà-la-môn, một việc được bàn đến trong Trung Bộ Kinh 7.]
"Thưa ngài Gotama, không phải vậy.
Người vua chúa cũng có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn;
người bà-la-môn cũng có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn;
thương nhân cũng có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn;
nô lệ cũng có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn;
vì thưa ngài Gotama, cả bốn giai cấp đều có thể lấy đồ tắm rửa, đi ra sông, rửa trôi bụi bẩn."
"Cũng vậy, này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình vua chúa mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình bà-la-môn mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình thương nhân mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình nô lệ mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý."
"Này bà-la-môn, ông nghĩ sao,
ở đây, một vị vua thuộc giai cấp vua chúa, đã được làm lễ quán đỉnh, tập hợp một trăm người đàn ông thuộc đủ các dòng dõi, rồi bảo họ:
'Xin mời các ngài ở đây, ai sinh ra trong gia đình vua chúa, gia đình bà-la-môn hay gia đình quý tộc, hãy lấy que cọ lửa làm bằng gỗ sāka, gỗ sāla, gỗ salaḷa, gỗ chiên đàn hay gỗ padumaka, nhóm lên ngọn lửa và làm cho hơi nóng hiện ra.
Và xin mời các ngài ở đây, ai sinh ra trong gia đình cùng đinh, gia đình thợ săn, gia đình thợ đan tre, gia đình thợ đóng xe hay gia đình người hốt rác, hãy lấy que cọ lửa làm bằng máng ăn của chó, máng ăn của heo, máng giặt của thợ giặt hay gỗ cây thầu dầu, nhóm lên ngọn lửa và làm cho hơi nóng hiện ra.'"
"Này bà-la-môn, ông nghĩ sao,
có phải chỉ ngọn lửa do những người sinh ra trong gia đình vua chúa, gia đình bà-la-môn hay gia đình quý tộc nhóm lên bằng que cọ lửa làm bằng gỗ sāka, gỗ sāla, gỗ salaḷa, gỗ chiên đàn hay gỗ padumaka mới có ngọn, có màu, có ánh sáng, và dùng được như một ngọn lửa;
còn ngọn lửa do những người sinh ra trong gia đình cùng đinh, gia đình thợ săn, gia đình thợ đan tre, gia đình thợ đóng xe hay gia đình người hốt rác nhóm lên bằng que cọ lửa làm bằng máng ăn của chó, máng ăn của heo, máng giặt của thợ giặt hay gỗ cây thầu dầu thì lại không có ngọn, không có màu, không có ánh sáng, và không dùng được như một ngọn lửa?"
"Thưa ngài Gotama, không phải vậy.
Ngọn lửa do những người sinh ra trong gia đình vua chúa, gia đình bà-la-môn hay gia đình quý tộc nhóm lên bằng que cọ lửa làm bằng gỗ sāka, gỗ sāla, gỗ salaḷa, gỗ chiên đàn hay gỗ padumaka thì có ngọn, có màu, có ánh sáng, và dùng được như một ngọn lửa;
ngọn lửa do những người sinh ra trong gia đình cùng đinh, gia đình thợ săn, gia đình thợ đan tre, gia đình thợ đóng xe hay gia đình người hốt rác nhóm lên bằng que cọ lửa làm bằng máng ăn của chó, máng ăn của heo, máng giặt của thợ giặt hay gỗ cây thầu dầu cũng có ngọn, có màu, có ánh sáng, và cũng dùng được như một ngọn lửa.
Vì thưa ngài Gotama, ngọn lửa nào cũng có ngọn, có màu, có ánh sáng, và đều dùng được như một ngọn lửa."
"Cũng vậy, này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình vua chúa mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình bà-la-môn mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình thương nhân mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý.
Này bà-la-môn, nếu có người sinh ra trong gia đình nô lệ mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, rồi nương vào giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ phi phạm hạnh, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến, thì vị ấy cũng thành tựu được pháp thiện lành, đúng theo chánh lý."
Khi Ngài nói như vậy, bà-la-môn Esukārī nói với Đức Thế Tôn:
"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời! Ví như có người dựng lại vật bị lật ngửa, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, ngài Gotama đã dùng nhiều cách để làm sáng tỏ Pháp.
Từ hôm nay, xin ngài Gotama nhận tôi làm người cư sĩ, đã đi đến nơi nương tựa cho đến trọn đời."
Kinh Esukārī, bài thứ sáu, đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.