Trung Bộ Kinh · bài 69/152
Kinh Gulissāni
Gulissāni Sutta — bài kinh về những điều một tỳ-kheo sống ở rừng phải giữ khi về giữa Tăng đoàn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Gulissāni (Gulissāni Sutta) là bài kinh thứ 69 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali — tức phần kinh điển cổ nhất còn giữ được, ghi lại lời dạy của Đức Thế Tôn và các đệ tử lớn của Ngài. Bài kinh không kể một câu chuyện ly kỳ. Nó mở ra bằng một chuyện rất nhỏ: một vị tỳ-kheo — tức một nhà sư — sống trong rừng, tính tình thô lỗ, vì có việc nên về ở giữa Tăng đoàn, tức cộng đồng những người cùng xuất gia tu hành. Chỉ có thế, và rồi tôn giả Sāriputta, một trong hai đệ tử lớn nhất của Đức Thế Tôn, nổi tiếng nhất về trí tuệ, nhân chuyện ấy mà nói với các tỳ-kheo về những điều một người sống ở rừng phải giữ khi trở về sống chung với mọi người.
Ai mới tìm hiểu Phật giáo cũng dễ nghĩ rằng tu hành là lánh đời: vào rừng, ở một mình, không ai nhắc nhở, muốn ngồi đâu thì ngồi, muốn đi đâu thì đi. Bài kinh này lật lại quan niệm ấy bằng một lý lẽ rất thực tế. Sống một mình thì dễ tự do theo ý mình, và cái tự do ấy rất dễ thành thói quen. Khi thói quen ấy theo người ta về lại giữa cộng đồng, nó lộ ra ngay: chen vào chỗ các vị lớn tuổi, đến làng quá sớm, ghé nhà này nhà kia trước và sau bữa ăn, nói năng tràn lan, khó nghe lời nhắc nhở. Người ngoài nhìn vào sẽ hỏi một câu rất khó trả lời: sống một mình trong rừng để làm gì, nếu về đây lại cư xử như vậy?
Câu hỏi ấy là linh hồn của bài kinh, và nó trở lại mười tám lần trong những lời chê, theo một khuôn gần như không đổi. Mỗi lần như vậy có bốn bước: trước hết là điều một tỳ-kheo ở rừng phải làm; thứ hai là trường hợp vị ấy không làm được; thứ ba là lời chê của những người chung quanh, đặt trong ngoặc kép; thứ tư là câu kết: vì vậy, điều ấy phải được giữ. Mười tám điều ấy đi từ những chuyện bên ngoài — kính trọng các vị đồng tu, biết chọn chỗ ngồi, biết cả những phép tắc nhỏ, không vào làng quá sớm, không đi lại thân thiết với các gia đình — đến những chuyện bên trong: không dao động, không nhẹ dạ, không ăn nói thô lỗ, dễ dạy và có bạn lành, phòng hộ các cửa giác quan, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm vào sự thức tỉnh, dốc lòng tinh tấn, an trú chánh niệm, có định tâm, có tuệ. Rồi cao hơn nữa là học hiểu Pháp và Luật, chuyên tâm vào các sự giải thoát an tịnh vượt khỏi sắc, và cuối cùng là pháp siêu nhân — mục đích của chính việc xuất gia.
Điều đáng chú ý là lời chê trong bài không phải chuyện đàm tiếu. Nó là tấm gương: người ta không chê vị ấy vì phạm lỗi nặng, mà vì một sự không nhất quán. Một người rời làng vào rừng để sống viễn ly, nhưng viễn ly ấy chỉ có giá trị nếu nó làm cho người ta nhẹ nhàng hơn, dễ dạy hơn, biết giữ phép hơn khi trở lại với mọi người. Nếu không, cả chuyện vào rừng lẫn chuyện về chùa đều thành vô nghĩa. Bài kinh vì thế không phải danh sách luật lệ, mà là một bài học về sự nhất quán giữa chỗ mình sống và cách mình sống.
Cuối bài có một cuộc đối thoại ngắn làm sáng tỏ tất cả. Tôn giả Mahāmoggallāna, vị đệ tử lớn thứ hai của Đức Thế Tôn, hỏi tôn giả Sāriputta: những điều vừa nói ấy chỉ dành cho người sống ở rừng, hay cả người sống trong làng cũng phải giữ? Câu trả lời là: người sống ở rừng đã phải giữ, người sống trong làng lại càng phải giữ hơn — vì ở gần đời sống thường nhật hơn thì cám dỗ cũng gần hơn. Một câu trả lời ngắn, nhưng nó mở bài kinh ra với tất cả mọi người, không riêng ai.
Với người đọc hôm nay, Kinh Gulissāni đọc như một cuốn sổ tay về cách sống chung. Nó nhắc rằng tự do một mình là điều quý, nhưng tự do ấy phải được nuôi dưỡng bằng kỷ luật; rằng phép tắc nhỏ nhất — ngồi ở đâu, đi về lúc nào — cũng nói lên mình đang nghĩ gì về người khác; và rằng một cộng đồng lành mạnh không hình thành từ những lời khen, mà từ những lời nhắc có thể nghe được. Những đoạn lặp dài trong bài không phải chỗ văn bản bị hỏng: chúng là cách ghi nhớ của một cộng đồng truyền khẩu, và cũng là cách để người đọc tự nhận ra mình trong từng điều một.
[Chú thích của người dịch: Bản Pali dùng trong bài này in tên kinh là Goliyānisutta và tên vị tỳ-kheo là Goliyāni, đó là dị bản của Gulissāni. Bản dịch giữ Gulissāni cho thống nhất với nhan đề quen dùng của bài kinh.]
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).
Lúc bấy giờ, một tỳ-kheo tên Gulissāni, sống ở rừng, hạnh kiểm thô lỗ, vì một việc gì đó đã về giữa Tăng đoàn.
[Chú thích: Tỳ-kheo Gulissāni chỉ được nhắc đến trong bài kinh này. Padasamācāra là từ chỉ xuất hiện ở đây, nghĩa không thật chắc; chú giải không giải thích từ ngữ mà chỉ nói là "hạnh kiểm yếu ớt, hạnh kiểm thô lỗ". Có cách đọc hiểu từ này theo tiếng Phạn padra, nghĩa là "làng", để giải thích vì sao một người sống ở rừng lại cư xử thô lỗ như người ở làng.]
Tại đó, tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) nói với các tỳ-kheo về tỳ-kheo Gulissāni:
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, phải có lòng kính trọng và sự cung kính đối với các vị đồng phạm hạnh.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, mà không kính trọng, không cung kính các vị đồng phạm hạnh, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy không kính trọng, không cung kính các vị đồng phạm hạnh?"
[Chú thích: Seri nghĩa đen là "tự mình bước đi", tức sống theo ý thích của mình, không bị ai ràng buộc, như con nai sống tự do trong rừng.]
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, phải có lòng kính trọng và sự cung kính đối với các vị đồng phạm hạnh.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, phải biết chọn chỗ ngồi cho đúng phép, nghĩ rằng:
[Chú thích: Kusala nghĩa đen là "khéo léo"; ở đây là khéo biết, tức biết cách làm một việc cho phải phép.]
"Mình sẽ ngồi xuống sao cho không chen lấn vào chỗ các tỳ-kheo trưởng lão và không để chỗ mình ngồi chặn mất chỗ của các tỳ-kheo mới."
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, mà không biết chọn chỗ ngồi cho đúng phép, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy không biết chọn chỗ ngồi cho đúng phép?"
[Chú thích: Ở chỗ này bản PTS đọc là ābhisamācārika, đó là dị bản không đúng; phải đọc là āsanakusala như các bản khác.]
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, phải biết chọn chỗ ngồi cho đúng phép.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, phải biết cả pháp uy nghi nữa.
[Chú thích: Ābhisamācārika dhamma là thuật ngữ của Luật tạng, chỉ những điều nhỏ về cách ăn, cách mặc, cách đi đứng, khác với những điều cốt lõi của đời sống phạm hạnh. Về sau, trong truyền thống Đại chúng bộ, các điều ấy được tập hợp thành một bộ luận riêng.]
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, mà không biết cả pháp uy nghi, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy không biết cả pháp uy nghi?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, phải biết cả pháp uy nghi nữa.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, không được vào làng quá sớm, cũng không được trở về quá muộn trong ngày.
[Chú thích: Đi lại trong làng lúc trời tối có những nguy hiểm được kể ở MN 66:6.20; xem thêm DN 31:9.1.]
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, mà vào làng quá sớm, trở về quá muộn trong ngày, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy vào làng quá sớm, trở về quá muộn trong ngày?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, không được vào làng quá sớm, cũng không được trở về quá muộn trong ngày.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, không được đi lại thân thiết với các gia đình trước bữa ăn và sau bữa ăn.
[Chú thích: Điều học Bu Pc 46 trong Luật tạng kể chuyện tỳ-kheo Upananda dòng Sakya quen đi lại với nhiều gia đình trước và sau bữa ăn, khiến các thí chủ và các vị xuất gia bực bội. Điều học ấy có nhiều trường hợp ngoại lệ, nên đây không phải lệ tuyệt đối.]
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, mà đi lại thân thiết với các gia đình trước bữa ăn và sau bữa ăn, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Hẳn là vị tôn giả ở rừng này, khi sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, đã quen đi lại lúc trái giờ, nên nay về giữa Tăng đoàn mà thói ấy vẫn còn."
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, không được đi lại thân thiết với các gia đình trước bữa ăn và sau bữa ăn.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, không được dao động, không được nhẹ dạ.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, mà dao động, nhẹ dạ, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Hẳn là vị tôn giả ở rừng này, khi sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, đã quen với sự dao động và nhẹ dạ, nên nay về giữa Tăng đoàn mà thói ấy vẫn còn."
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, không được dao động, không được nhẹ dạ.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, không được ăn nói thô lỗ, không được nói năng tràn lan.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, mà ăn nói thô lỗ, nói năng tràn lan, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy ăn nói thô lỗ, nói năng tràn lan?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, không được ăn nói thô lỗ, không được nói năng tràn lan.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, phải dễ dạy và có bạn lành.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, mà khó dạy, có bạn ác, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy khó dạy, có bạn ác?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng, khi đã về giữa Tăng đoàn và đang sống trong Tăng đoàn, phải dễ dạy và có bạn lành.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải phòng hộ các cửa giác quan.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng mà không phòng hộ các cửa giác quan, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy không phòng hộ các cửa giác quan?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải phòng hộ các cửa giác quan.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải biết tiết độ trong việc ăn uống.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng mà ăn uống không biết tiết độ, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy ăn uống không biết tiết độ?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải biết tiết độ trong việc ăn uống.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải chuyên tâm vào sự thức tỉnh.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng mà không chuyên tâm vào sự thức tỉnh, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy không chuyên tâm vào sự thức tỉnh?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải chuyên tâm vào sự thức tỉnh.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải dốc lòng tinh tấn.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng mà biếng nhác, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy biếng nhác?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải dốc lòng tinh tấn.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải an trú chánh niệm.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng mà không có chánh niệm, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy không có chánh niệm?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải an trú chánh niệm.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải có định tâm.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng mà không có định tâm, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy không có định tâm?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải có định tâm.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải có tuệ.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng mà kém tuệ, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy kém tuệ?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải có tuệ.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải nỗ lực học hiểu về Pháp và về Luật.
[Chú thích: Abhidhamma ở đây nghĩa là những gì thuộc về Pháp, abhivinaya là những gì thuộc về Luật, tức phần giáo lý và phần giới luật, chứ chưa phải tên của hai tạng văn bản về sau. Về sau, cách nói ấy mới thành tên gọi của những bộ luận phân tích.]
Này các hiền giả, sẽ có những người hỏi vị tỳ-kheo sống ở rừng những câu hỏi về Pháp và về Luật.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi được hỏi về Pháp và về Luật, mà không giải đáp được, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy được hỏi về Pháp và về Luật mà không giải đáp được?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải nỗ lực học hiểu về Pháp và về Luật.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải chuyên tâm vào các sự giải thoát an tịnh, vượt khỏi sắc, thuộc cõi vô sắc.
Này các hiền giả, sẽ có những người hỏi vị tỳ-kheo sống ở rừng về các sự giải thoát an tịnh, vượt khỏi sắc, thuộc cõi vô sắc ấy.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi được hỏi về các sự giải thoát an tịnh, vượt khỏi sắc, thuộc cõi vô sắc ấy, mà không giải đáp được, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy được hỏi về các sự giải thoát an tịnh, vượt khỏi sắc, thuộc cõi vô sắc ấy, mà không giải đáp được?"
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải chuyên tâm vào các sự giải thoát an tịnh, vượt khỏi sắc, thuộc cõi vô sắc.
Này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải chuyên tâm vào pháp siêu nhân.
Này các hiền giả, sẽ có những người hỏi vị tỳ-kheo sống ở rừng về pháp siêu nhân.
Nếu một tỳ-kheo sống ở rừng, khi được hỏi về pháp siêu nhân, mà không giải đáp được, thì sẽ có những người nói về vị ấy rằng:
"Vị tôn giả ở rừng này sống một mình nơi rừng vắng, tự do theo ý mình, nào có ích gì, khi mà vị ấy không biết mục đích mà mình đã xuất gia?"
[Chú thích: Thường thì "pháp siêu nhân" được nói ở số nhiều, gồm các tầng thiền chứng và những năng lực tâm linh cao. Ở đây Pali dùng số ít, chỉ mục đích của việc xuất gia, tức quả vị A-la-hán; bản Hán tương ứng cũng nói đến sự đoạn tận các lậu hoặc.]
Sẽ có những người nói về vị ấy như vậy.
Vì vậy, này các hiền giả, một tỳ-kheo sống ở rừng phải chuyên tâm vào pháp siêu nhân.
Khi nghe vậy, tôn giả Mahāmoggallāna (Mục-kiền-liên) nói với tôn giả Sāriputta:
"Thưa hiền giả Sāriputta, những pháp này chỉ tỳ-kheo sống ở rừng mới phải thọ trì và thực hành, hay cả những vị sống trong làng cũng vậy?"
"Thưa hiền giả Moggallāna, những pháp này chính tỳ-kheo sống ở rừng cũng phải thọ trì và thực hành, huống chi là vị sống trong làng."
[Chú thích: Người sống trong làng ở gần những cám dỗ hơn, nên càng phải đề phòng hơn nữa.]
Kinh Gulissāni, bài thứ chín, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.