Trung Bộ Kinh · bài 19/152
Kinh Hai Loại Tầm
Dvedhāvitakka Sutta — bài kinh về hai loại tầm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Hai Loại Tầm (Dvedhāvitakka Sutta) là bài kinh thứ 19 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài kinh cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Bài kinh gần như không có người đối thoại và không có câu chuyện bên lề: Đức Thế Tôn kể lại một việc Ngài đã làm trước khi giác ngộ, và phần lớn bài kinh là lời tự thuật ấy.
Trước khi giác ngộ, Ngài nhận ra trong tâm mình có hai loại tầm — tức hai loại suy nghĩ hướng về một đối tượng — rất khác nhau. Một bên là tầm hướng về dục lạc, về sân hại, về não hại người khác. Bên kia là tầm hướng về sự từ bỏ, về thiện chí, về không làm hại. Ngài không vội đè nén bên này hay ca ngợi bên kia, mà làm một việc đơn giản hơn: chia chúng thành hai nhóm, rồi quan sát mỗi nhóm đưa mình tới đâu.
Tiêu chuẩn để phán đoán nằm ở chỗ rất thực tế. Một tầm bất thiện dẫn đến làm hại mình, làm hại người khác, làm hại cả hai; nó chặn đứng tuệ, thuộc về phía khổ não, không dẫn đến Niết-bàn. Một tầm thiện thì ngược lại: không làm hại ai, nuôi dưỡng tuệ, hướng đến sự chấm dứt khổ. Cứ thế, người tu lần lượt nhận diện, suy xét, rồi buông bỏ.
Nhưng câu chuyện chưa dừng ở đó. Ngay cả tầm thiện, nếu kéo dài mãi, cũng làm thân mỏi mệt, khiến tâm xáo động và xa rời định. Bài kinh vì thế đi theo một đường rất riêng: từ bỏ tầm bất thiện, rồi từ bỏ cả tầm thiện, để tâm lắng xuống và nhập thiền. Hai ẩn dụ về người chăn bò — một vào tháng cuối mùa mưa, khi lúa còn dày và phải canh chừng từng bước; một vào tháng cuối mùa hè, khi mùa màng đã gặt xong và chỉ cần ngồi nhớ rằng đàn bò vẫn ở đó — nói đúng cái chuyển biến ấy: từ gắng sức sang buông xả.
Nửa sau bài kinh kể tiếp chặng đường đã quen thuộc: bốn tầng thiền, ba minh chứng đạt trong ba canh đêm, và sự giải thoát cuối cùng. Rồi đến ẩn dụ con nai: một khu rừng có đầm lầy, một đàn thú, hai người — một người bày mồi để đưa đàn vào chỗ diệt vong, một người mở đường an toàn để đàn sinh sôi. Bài kinh tự giải thích từng hình ảnh, và khép lại bằng lời nhắc ngắn: hãy ngồi dưới gốc cây, đừng phóng dật.
Điều đáng chú ý là bài kinh không ra lệnh cấm nghĩ. Nó mô tả một cách quan sát: cứ để ý xem mình đang nuôi dưỡng loại suy nghĩ nào, vì tâm sẽ nghiêng về phía được nuôi dưỡng. Với người chưa từng tìm hiểu kinh điển, đây có thể là phần dễ dùng nhất của bài kinh: không cần tin gì trước, chỉ cần thử nhìn lại một ngày của mình.
[Chú thích của người dịch: Dvedhā là "hai phần, hai loại"; vitakka là "tầm", tức sự hướng tâm và suy nghĩ về một đối tượng.]
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh cho thấy người tu thiền phải từ bỏ tầm bất thiện, rồi sau đó cả tầm thiện, trước khi nhập thiền. Đây là một trong nhiều bài dạy chi tiết cách đối xử với tầm trong khi thiền, như MN 18, MN 20 và AN 3.101. Thiền định đã có trước thời Đức Thế Tôn, nhưng lời khuyên thực hành cụ thể như thế này thì không thấy ở nơi khác.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa chứng ngộ trọn vẹn, còn là Bồ-tát, Ta đã nghĩ như vầy:
[Chú thích: Giai đoạn phát triển thiền định này hẳn diễn ra sau khi Ngài từ bỏ lối hành xác. MN 36:34.1 kể rằng lúc ấy, sau khi ăn lại thức ăn đặc để hồi phục sức, Ngài chứng các tầng thiền, khiến người ta dễ tưởng việc ấy xảy ra ngay lập tức; nhưng bài kinh này, cùng với MN 128:16.2, cho thấy phải mất một thời gian, dù không rõ là bao lâu.]
Hay là Ta chia các tầm thành hai loại, rồi an trú trong cách phân loại ấy?
Vậy là, này các tỳ-kheo, tầm về dục, tầm về sân hại, và tầm về não hại,
[Chú thích: Bằng cách phân tích các tầm, Ngài đang chủ động phát triển chi phần thứ hai của con đường tám nhánh cao thượng, tức chánh tư duy. Trong ngữ cảnh này, tầm và tư duy là những từ đồng nghĩa.]
Ta đặt chúng vào nhóm thứ nhất.
Còn tầm về xuất ly, tầm về không sân hại, và tầm về không não hại,
Ta đặt chúng vào nhóm thứ hai.
Này các tỳ-kheo, khi Ta đang sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm như vậy, tầm về dục khởi lên nơi Ta.
Ta biết rõ như vầy:
Tầm về dục này đã khởi lên nơi Ta.
[Chú thích: Trước hết, người tu biết mình đang có tầm ấy và hiểu nó theo đúng khuôn mẫu phân tích.]
Nó dẫn đến tự làm hại mình, dẫn đến làm hại người khác, dẫn đến làm hại cả hai. Nó chặn đứng tuệ, thuộc về phía khổ não, không dẫn đến Niết-bàn.
[Chú thích: Rồi người tu suy xét đến kết quả mà tầm ấy đưa đến.]
Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến tự làm hại mình, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất.
[Chú thích: Tầm không bị diệt bằng sức mạnh hay bằng lên án, mà bằng tuệ quán chiếu.]
Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến làm hại người khác, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất.
Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến làm hại cả hai, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất.
Khi Ta suy xét rằng nó chặn đứng tuệ, thuộc về phía khổ não, không dẫn đến Niết-bàn, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất.
Vậy là, này các tỳ-kheo, mỗi khi tầm về dục khởi lên, Ta đều từ bỏ nó, xua tan nó, dứt sạch nó.
Này các tỳ-kheo, khi Ta đang sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm như vậy, tầm về sân hại khởi lên nơi Ta. Ta biết rõ như vầy: tầm về sân hại này đã khởi lên nơi Ta; nó dẫn đến tự làm hại mình, dẫn đến làm hại người khác, dẫn đến làm hại cả hai; nó chặn đứng tuệ, thuộc về phía khổ não, không dẫn đến Niết-bàn. Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến tự làm hại mình, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất. Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến làm hại người khác, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất. Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến làm hại cả hai, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất. Khi Ta suy xét rằng nó chặn đứng tuệ, thuộc về phía khổ não, không dẫn đến Niết-bàn, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất. Vậy là, này các tỳ-kheo, mỗi khi tầm về sân hại khởi lên, Ta đều từ bỏ nó, xua tan nó, dứt sạch nó.
[Chú thích: Sự khác biệt giữa sân hại và não hại rất tinh tế; chúng lần lượt là đối lập của tâm từ và tâm bi. Tâm từ chỉ đơn thuần mong điều tốt mà không kèm điều kiện, cũng như sân hại chỉ đơn thuần mong điều xấu. Tâm bi vui với việc làm vơi nỗi đau, còn não hại lại vui với việc gây đau.]
Này các tỳ-kheo, khi Ta đang sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm như vậy, tầm về não hại khởi lên nơi Ta.
Ta biết rõ như vầy:
Tầm về não hại này đã khởi lên nơi Ta.
Nó dẫn đến tự làm hại mình, dẫn đến làm hại người khác, dẫn đến làm hại cả hai. Nó chặn đứng tuệ, thuộc về phía khổ não, không dẫn đến Niết-bàn.
Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến tự làm hại mình, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất.
Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến làm hại người khác, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất.
Khi Ta suy xét rằng nó dẫn đến làm hại cả hai, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất.
Khi Ta suy xét rằng nó chặn đứng tuệ, thuộc về phía khổ não, không dẫn đến Niết-bàn, này các tỳ-kheo, tầm ấy liền biến mất.
Vậy là, này các tỳ-kheo, mỗi khi tầm về não hại khởi lên, Ta đều từ bỏ nó, xua tan nó, dứt sạch nó.
Này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo thường xuyên suy tầm và suy xét điều gì, thì tâm của vị ấy cứ hướng về điều ấy.
[Chú thích: Đây là nguyên lý cốt lõi của phép tu thiền. Có thể so với Śatapatha Brāhmaṇa 10.5.2.20, nơi cách thờ một vị thần quyết định hình thức vị thần hiện ra.]
Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thường xuyên suy tầm và suy xét tầm về dục, vị ấy đã từ bỏ tầm về xuất ly, đã làm cho tầm về dục trở nên nhiều; tâm của vị ấy hướng về tầm về dục.
Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thường xuyên suy tầm và suy xét tầm về sân hại, vị ấy đã từ bỏ tầm về không sân hại, đã làm cho tầm về sân hại trở nên nhiều; tâm của vị ấy hướng về tầm về sân hại.
Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thường xuyên suy tầm và suy xét tầm về não hại, vị ấy đã từ bỏ tầm về không não hại, đã làm cho tầm về não hại trở nên nhiều; tâm của vị ấy hướng về tầm về não hại.
Này các tỳ-kheo, ví như vào tháng cuối của mùa mưa, tiết thu, khi lúa má mọc dày, một người chăn bò phải trông coi đàn bò.
[Chú thích: So với AN 3.101, nơi Đức Thế Tôn dùng ẩn dụ nấu chảy vàng để nói cùng một điểm.]
Người ấy phải dùng gậy mà đập, mà lùa đàn bò từ bên này sang bên kia, ngăn chặn và giữ chúng lại.
Vì sao vậy?
Vì này các tỳ-kheo, người chăn bò thấy rằng vì chuyện đó mà mình có thể bị đánh giết, bị trói, bị phạt tiền, hay bị quở trách.
[Chú thích: Ở đây, người tu canh giữ tâm khỏi các tầm bất thiện, nhẹ nhàng mà bền bỉ.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, Ta thấy sự nguy hại, sự hèn kém, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy nơi sự xuất ly lợi ích và phía thanh tịnh của các pháp thiện.
Này các tỳ-kheo, khi Ta đang sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm như vậy, tầm về xuất ly khởi lên nơi Ta.
Ta biết rõ như vầy:
Tầm về xuất ly này đã khởi lên nơi Ta.
Nó không dẫn đến tự làm hại mình, không dẫn đến làm hại người khác, không dẫn đến làm hại cả hai. Nó làm tăng trưởng tuệ, thuộc về phía không khổ não, dẫn đến Niết-bàn.
Nếu ban đêm Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó.
Nếu ban ngày Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó.
Nếu cả đêm lẫn ngày Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó.
[Chú thích: Người tu thường mong đạt tới trạng thái không còn tầm, nhưng tầm là chức năng tự nhiên và thiết yếu của tâm, và thói quen suy tầm thiện là một phần của con đường tám nhánh cao thượng.]
Nhưng nếu Ta suy tầm và suy xét quá lâu, thân Ta sẽ mỏi mệt.
Khi thân mỏi mệt, tâm bị xáo động.
Khi tâm bị xáo động, tâm rời xa định.
[Chú thích: Ngay cả tầm thiện cũng có giới hạn, vì tâm vẫn còn hoạt động. Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.4.21 cũng khuyên người hành thiền đừng nghĩ quá nhiều, vì nghĩ nhiều thì lời nói cũng mỏi mệt.]
Này các tỳ-kheo, Ta ổn định tâm ngay bên trong, làm cho nó lắng dịu, làm cho nó thành một, và đặt nó vào định.
[Chú thích: Như bài kinh sẽ cho thấy ở phần sau, điều này có nghĩa Ngài đã nhập thiền. Tiến trình mô tả ở đây kéo dài một thời gian, trong đó các yếu tố khác nhau lần lượt khởi lên, chứ không phải chỉ một lần ngồi thiền.]
Vì sao vậy?
Để tâm Ta khỏi bị xáo động.
Này các tỳ-kheo, khi Ta đang sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm như vậy, tầm về không sân hại khởi lên nơi Ta. Ta biết rõ như vầy: tầm về không sân hại này đã khởi lên nơi Ta; nó không dẫn đến tự làm hại mình, không dẫn đến làm hại người khác, không dẫn đến làm hại cả hai; nó làm tăng trưởng tuệ, thuộc về phía không khổ não, dẫn đến Niết-bàn. Nếu ban đêm Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó. Nếu ban ngày Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó. Nếu cả đêm lẫn ngày Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó. Nhưng nếu Ta suy tầm và suy xét quá lâu, thân Ta sẽ mỏi mệt. Khi thân mỏi mệt, tâm bị xáo động. Khi tâm bị xáo động, tâm rời xa định. Này các tỳ-kheo, Ta ổn định tâm ngay bên trong, làm cho nó lắng dịu, làm cho nó thành một, và đặt nó vào định. Vì sao vậy? Để tâm Ta khỏi bị xáo động.
Này các tỳ-kheo, khi Ta đang sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm như vậy, tầm về không não hại khởi lên nơi Ta.
Ta biết rõ như vầy:
Tầm về không não hại này đã khởi lên nơi Ta.
Nó không dẫn đến tự làm hại mình, không dẫn đến làm hại người khác, không dẫn đến làm hại cả hai. Nó làm tăng trưởng tuệ, thuộc về phía không khổ não, dẫn đến Niết-bàn.
Nếu ban đêm Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó.
Nếu ban ngày Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó.
Nếu cả đêm lẫn ngày Ta cứ suy tầm và suy xét điều ấy, Ta không thấy nguy hiểm nào phát sinh từ đó.
Nhưng nếu Ta suy tầm và suy xét quá lâu, thân Ta sẽ mỏi mệt.
Khi thân mỏi mệt, tâm bị xáo động.
Khi tâm bị xáo động, tâm rời xa định.
Này các tỳ-kheo, Ta ổn định tâm ngay bên trong, làm cho nó lắng dịu, làm cho nó thành một, và đặt nó vào định.
Vì sao vậy?
Để tâm Ta khỏi bị xáo động.
Này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo thường xuyên suy tầm và suy xét điều gì, thì tâm của vị ấy cứ hướng về điều ấy.
Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thường xuyên suy tầm và suy xét tầm về xuất ly, vị ấy đã từ bỏ tầm về dục, đã làm cho tầm về xuất ly trở nên nhiều; tâm của vị ấy hướng về tầm về xuất ly.
Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thường xuyên suy tầm và suy xét tầm về không sân hại, vị ấy đã từ bỏ tầm về sân hại, đã làm cho tầm về không sân hại trở nên nhiều; tâm của vị ấy hướng về tầm về không sân hại.
Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thường xuyên suy tầm và suy xét tầm về không não hại, vị ấy đã từ bỏ tầm về não hại, đã làm cho tầm về không não hại trở nên nhiều; tâm của vị ấy hướng về tầm về không não hại.
Này các tỳ-kheo, ví như vào tháng cuối của mùa hè, khi mọi vụ mùa đã được gặt hái và đưa về làng, một người chăn bò phải trông coi đàn bò; dù ngồi dưới gốc cây hay ở giữa trời, người ấy chỉ cần chánh niệm rằng:
"Đàn bò ấy đang ở đó."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, Ta chỉ cần chánh niệm rằng:
"Các pháp ấy đang ở đó."
[Chú thích: So với MN 140:20.2 và AN 3.102:2.1, nơi thợ vàng chỉ quan sát với tâm xả khi việc nấu chảy đã thuận.]
Này các tỳ-kheo, tinh tấn của Ta đã được khởi lên, không thối chuyển; chánh niệm đã an trú, không quên mất; thân đã khinh an, không căng thẳng; tâm đã định, nhất tâm.
[Chú thích: Đoạn văn mô tả tiến trình nhập thiền này đối lập với tình trạng trước đó, khi tâm còn tiếp tục suy tầm dù là tầm thiện.]
Này các tỳ-kheo, Ta ly khỏi các dục, ly khỏi các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ nhất (tầng thiền định thứ nhất), có tầm và tứ, với hỷ lạc do ly dục sinh.
[Chú thích: Thiền-na thứ nhất vẫn có tầm; ở phần trên, tầm được hiểu là sự suy nghĩ thành lời. Nhưng thiền-na là trạng thái của tâm cao hơn, trong đó mọi hoạt động tâm đều được nâng lên: lạc không còn là kích thích thô của giác quan, ly dục không còn chỉ là cách ly thân xác, hỷ không còn là sự phấn khích, và tầm không còn là lời nói thầm trong đầu — vì chính bài kinh cho thấy ngay cả tầm thiện cũng ngăn cản việc nhập thiền, nên tầm ở đây được hiểu là tiến trình vi tế đặt tâm vào và giữ tâm lại (MN 117:14.2). Peṭakopadesa thời kỳ sau có một cách phân tích đáng chú ý, đi trước cách hiểu của các nhà chú giải Nguyên thủy về điểm này.]
Do tầm và tứ lắng xuống, Ta chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ hai: nội tâm tĩnh lặng, tâm thành một, không tầm không tứ, với hỷ lạc do định sinh.
[Chú thích: Mỗi tầng thiền bắt đầu đúng lúc khía cạnh thô nhất của tầng trước chấm dứt. Điều này không do chủ ý điều khiển mà mô tả tiến trình lắng dịu tự nhiên. Người tu lúc này đã hoàn toàn vững tin, không cần gắng sức đặt tâm nữa: tâm chỉ còn lặng yên và hợp nhất.]
Do ly hỷ, Ta trú với tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác, và Ta cảm nhận lạc bằng thân; Ta chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ ba, thiền-na mà các bậc thánh gọi là "người trú lạc, có xả và chánh niệm".
[Chú thích: Cảm nhận về lạc trưởng thành dần, từ cái rung động tinh tế của hỷ đến sự thăng bằng của xả. Chánh niệm có mặt trong mọi tầng thiền sâu, nhưng khi có xả thì nó trở nên nổi bật.]
Do đoạn trừ lạc và đoạn trừ khổ, do hỷ và ưu trước đây đã lặng mất, Ta chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ tư: không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.
[Chú thích: Sự thăng bằng của xả khiến cảm giác lạc lắng xuống thành cảm giác trung tính tinh tế hơn. Khổ và ưu đã được đoạn trừ từ lâu, nhưng ở đây được nhắc lại vì chúng là đối ứng tinh tế của lạc.]
Khi tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, trở nên mềm mỏng, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động, Ta hướng tâm đến trí nhớ về các đời sống quá khứ.
Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như sau: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới mở ra, nhiều kiếp thế giới vừa co lại vừa mở ra. "Ở nơi ấy, Ta đã sống với tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này; từ đó chết đi, Ta sinh ra ở một nơi khác. Ở nơi ấy, Ta cũng đã sống với tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này; từ đó chết đi, Ta sinh ra ở đây." Như vậy, với các nét và chi tiết, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ.
[Chú thích: Văn bản Pali lược đoạn ở đây, nhưng rõ ràng phải hiểu đầy đủ theo MN 4:27.2.]
Này các tỳ-kheo, đây là minh thứ nhất mà Ta đã chứng đạt trong canh đầu của đêm.
Vô minh đã bị diệt, minh đã khởi lên; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã khởi lên — như điều xảy ra với người sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm.
Khi tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, trở nên mềm mỏng, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động, Ta hướng tâm đến trí về sự chết và sinh của chúng sinh.
Bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, Ta thấy chúng sinh chết đi và sinh lại — hạ liệt hay cao quý, xấu xí hay xinh đẹp, sinh vào nơi lành hay nơi dữ. Ta hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình: "Những chúng sinh này đã thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, xúc phạm các bậc thánh, có tà kiến, thọ nhận hành động theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi khổ, đường dữ, nơi đọa lạc, địa ngục. Còn những chúng sinh kia đã thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, không xúc phạm các bậc thánh, có chánh kiến, thọ nhận hành động theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi lành, cõi trời." Như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, Ta thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, hạ liệt hay cao quý, xấu xí hay xinh đẹp, sinh vào nơi lành hay nơi dữ; Ta hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình.
Này các tỳ-kheo, đây là minh thứ hai mà Ta đã chứng đạt trong canh giữa của đêm.
Vô minh đã bị diệt, minh đã khởi lên; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã khởi lên — như điều xảy ra với người sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm.
Khi tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, trở nên mềm mỏng, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động, Ta hướng tâm đến trí đoạn tận các lậu hoặc.
Ta như thật biết rõ rằng đây là khổ, đây là nguồn gốc của khổ, đây là sự chấm dứt khổ, đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.
Ta như thật biết rõ rằng đây là các lậu hoặc, đây là nguồn gốc của lậu hoặc, đây là sự chấm dứt lậu hoặc, đây là con đường đưa đến sự chấm dứt lậu hoặc.
Với Ta, khi biết như vậy và thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về dục, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về hữu, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về vô minh. Khi đã giải thoát, Ta biết rõ rằng mình đã giải thoát:
"Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa." Ta như thật biết rõ điều ấy.
Này các tỳ-kheo, đây là minh thứ ba mà Ta đã chứng đạt trong canh cuối của đêm.
Vô minh đã bị diệt, minh đã khởi lên; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã khởi lên — như điều xảy ra với người sống không phóng dật, tinh cần, quyết tâm.
Này các tỳ-kheo, ví như trong một khu rừng sâu có một vùng trũng đầm lầy rộng lớn.
Một đàn thú lớn sống nương tựa vào đó.
Rồi có một người xuất hiện, muốn điều bất lợi, muốn điều không tốt, muốn sự không an ổn cho chúng.
Người ấy chặn con đường an toàn, tốt lành, dẫn đến hạnh phúc, mở ra con đường sai trái, đặt con nai mồi đực, dựng con nai mồi cái.
Như vậy, này các tỳ-kheo, đàn thú lớn ấy về sau sẽ rơi vào tai họa và suy vong.
Rồi cũng với đàn thú lớn ấy, này các tỳ-kheo, có một người xuất hiện, muốn điều lợi, muốn điều tốt, muốn sự an ổn cho chúng.
Người ấy mở con đường an toàn, tốt lành, dẫn đến hạnh phúc, chặn lại con đường sai trái, dẹp bỏ con nai mồi đực, diệt trừ con nai mồi cái.
Như vậy, này các tỳ-kheo, đàn thú lớn ấy về sau sẽ được lớn mạnh, tăng trưởng, sung mãn.
Này các tỳ-kheo, Ta đã dùng ẩn dụ này để làm rõ ý nghĩa.
Ý nghĩa ở đây là thế này:
"Vùng trũng đầm lầy rộng lớn", này các tỳ-kheo, là tên gọi của các dục.
[Chú thích: Như ở SN 22.84:10.11.]
"Đàn thú lớn", này các tỳ-kheo, là tên gọi của chúng sinh.
"Người muốn điều bất lợi, muốn điều không tốt, muốn sự không an ổn", này các tỳ-kheo, là tên gọi của Ma vương Ác ma.
"Con đường sai trái", này các tỳ-kheo, là tên gọi của con đường tám nhánh sai lầm, đó là:
tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
"Con nai mồi đực", này các tỳ-kheo, là tên gọi của sự thích thú và tham ái.
"Con nai mồi cái", này các tỳ-kheo, là tên gọi của vô minh.
"Người muốn điều lợi, muốn điều tốt, muốn sự an ổn", này các tỳ-kheo, là tên gọi của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
"Con đường an toàn, tốt lành, dẫn đến hạnh phúc", này các tỳ-kheo, là tên gọi của con đường tám nhánh cao thượng, đó là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Như vậy, này các tỳ-kheo, con đường an toàn, tốt lành, dẫn đến hạnh phúc đã được Ta mở ra; con đường sai trái đã được đóng lại; con nai mồi đực đã được dẹp bỏ; con nai mồi cái đã được diệt trừ.
Này các tỳ-kheo, vì lòng thương tưởng, Ta đã làm cho các ông những gì một bậc đạo sư muốn điều tốt lành cho các đệ tử phải làm.
Này các tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống vắng. Hãy thiền định, này các tỳ-kheo, chớ có phóng dật, chớ để sau này phải hối hận. Đây là lời dạy của Ta cho các ông.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Hai Loại Tầm, bài thứ chín, đã kết thúc.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.