buppou

Trung Bộ Kinh · bài 20/152

Kinh An Trú Tầm

Vitakkasaṇṭhāna Sutta — bài kinh về cách an trú tầm, tức cách làm lắng đọng những suy nghĩ.

16 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh An Trú Tầm (Vitakkasaṇṭhāna Sutta) là bài kinh thứ 20 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Bài rất ngắn và gần như không có câu chuyện: tại Sāvatthī (Xá-vệ), Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo lại và dạy năm cách xử lý những suy nghĩ không mong muốn. Không có phép lạ, không có cuộc tranh luận với giáo phái khác, chỉ có một vấn đề mà ai ngồi thiền cũng gặp, và năm cách giải quyết xếp theo thứ tự từ nhẹ đến mạnh.

Vấn đề ấy, bài kinh gọi là tầm: những suy nghĩ tự động hướng về một đối tượng, thường là chuyện ham muốn, chuyện bực bội, chuyện mơ mộng. Chúng không phải kẻ thù, nhưng khiến tâm không đứng yên được. Bài kinh giả định một người đang hành thiền để đạt tâm cao thượng — tức bốn tầng thiền-na — và người ấy thấy những tầm ác, bất thiện cứ khởi lên hoài dù đã cố gắng.

Cách thứ nhất là đổi đề mục: rời chỗ đang bám và chú tâm sang một đề mục khác, thuộc phía thiện. Ví như người thợ mộc lấy một cái chốt nhỏ đóng bật một cái chốt lớn. Cách thứ hai là nhìn thẳng vào cái giá của những tầm ấy: chúng bất thiện, đáng chê trách, đưa đến quả khổ. Ví như một người trẻ đang ưa trang điểm mà bị treo vào cổ một xác rắn, xác chó hay xác người — phản ứng tự nhiên là kinh sợ, xấu hổ, ghê tởm, và cái tầm ấy rơi mất.

Cách thứ ba là không ghi nhớ và không chú tâm đến chúng, như người có mắt không muốn thấy cảnh trước mặt thì nhắm mắt lại hoặc nhìn đi chỗ khác. Cách thứ tư là chú tâm đến sự an trú của các hành tầm, tức nhìn vào cái năng lực đang thúc đẩy mình nghĩ. Bài kinh minh hoạ bằng một người đang đi nhanh: tự hỏi "vì sao ta đi nhanh thế này?", rồi đi chậm lại, rồi đứng lại, rồi ngồi xuống, rồi nằm xuống — mỗi bước là một lần làm dịu đi, chứ không phải dừng phắt lại.

Cách thứ năm là cách mạnh tay nhất, chỉ dùng khi bốn cách trước đã thất bại: cắn chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm chế ngự tâm. Bài kinh so sánh với một lực sĩ nắm lấy đầu, cổ hay vai của một người yếu hơn mà đè nén. Đây là biện pháp cuối, và chính bài kinh cũng cho thấy nó không phải chỗ dừng: khi cả năm cách đều thành công, người tu mới được gọi là người làm chủ các nẻo đường của tầm — muốn nghĩ gì thì nghĩ, không muốn thì thôi.

Bài kinh khép lại bằng một câu về việc cắt đứt ái, làm tan rã kiết sử và chấm dứt khổ, tức kết quả cuối cùng của cả con đường. Nhưng phần đáng dùng nhất cho người đọc hôm nay nằm ở giữa: năm cách ấy được dạy như những phương kế tùy lúc, không phải những pháp phải tu mọi lúc. Nói cách khác, đây là một bài hướng dẫn xử lý sự cố trong thiền — càng biết rõ mình đang gặp chuyện gì, càng ít phải dùng đến cách mạnh nhất.

[Chú thích của người dịch: Vitakka là "tầm", tức sự hướng tâm và suy nghĩ về một đối tượng; saṇṭhāna là "sự an trú, sự lắng lại". Tên bài kinh có thể hiểu là "cách làm cho các tầm an trú, lắng xuống".]


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã dấn thân tu tập tâm cao thượng phải tùy lúc chú tâm đến năm đề mục.

[Chú thích: "Tâm cao thượng" (adhicitta) ở đây là bốn tầng thiền-na. "Đề mục" (nimitta) là một phương diện của kinh nghiệm mà khi chú tâm đến sẽ nuôi dưỡng những phương diện tương tự; chủ yếu đó là đề mục hành thiền đã chọn, nhưng cũng gồm bất cứ đối tượng nào tâm đang dựa vào. "Tùy lúc" (kālena kālaṁ) cho biết đây không phải những pháp nền như chánh niệm, phải tu tập mọi lúc, mà là những phương kế đối phó với vấn đề cụ thể khi chúng khởi lên.]

Năm đề mục ấy là gì?

Này các tỳ-kheo, ở đây, vị tỳ-kheo nương vào một đề mục nào đó, chú tâm đến một đề mục nào đó, mà những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si khởi lên, thì này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy phải rời đề mục ấy mà chú tâm đến một đề mục khác, gắn với thiện.

[Chú thích: Chẳng hạn, một hành giả thấy mình bị những tầm bực bội giày vò, sau khi đã nhận ra điều ấy theo cách dạy trong MN 19, thì chuyển sang một đề mục mới như tâm từ (mettā).]

Khi vị ấy rời đề mục ấy mà chú tâm đến một đề mục khác, gắn với thiện, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Ví như, này các tỳ-kheo, một người thợ mộc khéo léo, hay học trò của người thợ ấy, dùng một cái chốt nhỏ mà đánh bật, kéo ra, làm xoay chuyển một cái chốt lớn;

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nương vào một đề mục nào đó, chú tâm đến một đề mục nào đó, mà những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si khởi lên, thì này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy phải rời đề mục ấy mà chú tâm đến một đề mục khác, gắn với thiện.

Khi vị ấy rời đề mục ấy mà chú tâm đến một đề mục khác, gắn với thiện, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Này các tỳ-kheo, nếu vị tỳ-kheo ấy đã rời đề mục ấy mà chú tâm đến một đề mục khác gắn với thiện, nhưng những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si vẫn khởi lên, thì này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy phải xem xét sự nguy hại của những tầm ấy:

[Chú thích: Năm phương pháp này tiến dần, mỗi cách giả định cách trước đã không thành công. Việc nhìn vào sự nguy hại của những tầm bất thiện là nền tảng trong cách làm của Bồ-tát ở MN 19:3.4.]

'Những tầm này là bất thiện, những tầm này đáng chê trách, những tầm này đưa đến quả khổ.'

[Chú thích: Như trong MN 19:3.4.]

Khi vị ấy xem xét sự nguy hại của những tầm ấy, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Ví như, này các tỳ-kheo, một người phụ nữ hay một người đàn ông trẻ tuổi, đang độ thanh xuân, ưa trang điểm, mà bị treo vào cổ một xác rắn, một xác chó hay một xác người, thì sẽ kinh sợ, xấu hổ và ghê tởm;

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, nếu vị tỳ-kheo ấy đã rời đề mục ấy mà chú tâm đến một đề mục khác gắn với thiện, nhưng những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si vẫn khởi lên, thì này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy phải xem xét sự nguy hại của những tầm ấy:

'Những tầm này là bất thiện, những tầm này đáng chê trách, những tầm này đưa đến quả khổ.'

Khi vị ấy xem xét sự nguy hại của những tầm ấy, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Này các tỳ-kheo, nếu vị tỳ-kheo ấy, khi xem xét sự nguy hại của những tầm ấy, mà những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si vẫn khởi lên, thì này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy phải thực hiện sự không ghi nhớ và không chú tâm đối với những tầm ấy.

[Chú thích: "Không ghi nhớ" là asati, "không chú tâm" là amanasikāra.]

Khi vị ấy không ghi nhớ và không chú tâm đến những tầm ấy, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Ví như, này các tỳ-kheo, một người có mắt, không muốn thấy những sắc đang hiện ra trước mắt;

Người ấy chỉ nhắm mắt lại hoặc nhìn sang chỗ khác;

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, nếu vị tỳ-kheo ấy, khi xem xét sự nguy hại của những tầm ấy, mà những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si vẫn khởi lên, thì chúng được từ bỏ và tiêu tan.

[Chú thích: Những chỗ lặp ở đây có phần đáng ngờ: bản Mahāsaṅgīti bỏ sót phương pháp làm dừng các tầm, tuy vậy ý ấy hẳn được ngụ ý. Bản dịch giữ nguyên vẻ thô ráp của Pali vì không có bản nào ghi rõ.]

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Này các tỳ-kheo, nếu vị tỳ-kheo ấy đã không ghi nhớ và không chú tâm đến những tầm ấy, nhưng những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si vẫn khởi lên, thì này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy phải chú tâm đến sự an trú của các hành tầm.

[Chú thích: Cụm từ "sự an trú của các hành tầm" (vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṁ) là chỗ đặt tên cho bài kinh. Ở đây hành (saṅkhāra) là năng lực thúc đẩy sự hình thành của tầm; hiểu rõ nguyên nhân sẽ giúp làm nó mất sức mạnh.]

Khi vị ấy chú tâm đến sự an trú của các hành tầm, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Ví như, này các tỳ-kheo, một người đang đi nhanh.

[Chú thích: "Đi nhanh" ở đây giống như một người bị nhiều tầm tràn ngập (MN 18:16.1).]

Người ấy nghĩ như vầy:

'Vì sao ta lại đi nhanh thế này?

Hay là ta đi chậm lại?'

Thế là người ấy đi chậm lại.

[Chú thích: Nhiều cách làm lắng tầm đã thất bại, nên cách này nhắm đến việc chậm lại dần dần thay vì dừng phắt lại. Câu hỏi "vì sao ta nghĩ nhiều thế này?" xoay sự chú ý trở lại, hướng vào tầm vừa rồi thay vì vào việc sắp tới.]

Người ấy nghĩ như vầy:

'Vì sao ta lại đi chậm thế này?

Hay là ta đứng lại?'

Thế là người ấy đứng lại.

Người ấy nghĩ như vầy:

'Vì sao ta lại đứng?

Hay là ta ngồi xuống?'

Thế là người ấy ngồi xuống.

Người ấy nghĩ như vầy:

'Vì sao ta lại ngồi?

Hay là ta nằm xuống?'

Thế là người ấy nằm xuống.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người ấy lần lượt từ bỏ những tư thế thô hơn và chuyển sang những tư thế vi tế hơn.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, nếu vị tỳ-kheo ấy, khi không ghi nhớ và không chú tâm đến những tầm ấy, mà những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si vẫn khởi lên, thì những tầm ấy được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Này các tỳ-kheo, nếu vị tỳ-kheo ấy đã chú tâm đến sự an trú của các hành tầm, nhưng những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si vẫn khởi lên.

Vị tỳ-kheo ấy phải cắn chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, rồi dùng tâm chế ngự tâm, đè nén tâm, bức bách tâm.

[Chú thích: Đây là biện pháp cuối cùng: hành giả dùng sức mạnh nghiền nát những tầm bất thiện và buộc mình nghĩ những tầm thiện. Trong MN 36:20.2, MN 85:20.2 và MN 100:17.2, cách hành xác này là cách nhẹ nhất trong những phép khổ hạnh mà Bồ-tát đã thử trước khi tìm ra trung đạo; ở đây nó lại là cách mạnh tay nhất trong các phương pháp được dạy trong bài kinh này. Hai động từ đầu (abhiniggaṇhāti, abhinippīḷeti) còn xuất hiện trong ngữ cảnh tranh luận và trong giới luật, còn abhisantāpeti không thấy ở chỗ khác trong Pali sơ kỳ.]

Khi vị ấy cắn chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm chế ngự tâm, đè nén tâm, bức bách tâm, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Ví như, này các tỳ-kheo, một người đàn ông mạnh mẽ nắm lấy đầu, cổ hay vai của một người yếu hơn, rồi chế ngự, đè nén, bức bách người ấy;

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, nếu vị tỳ-kheo ấy, khi chú tâm đến sự an trú của các hành tầm, mà những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si vẫn khởi lên.

Vị tỳ-kheo ấy phải cắn chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, rồi dùng tâm chế ngự tâm, đè nén tâm, bức bách tâm.

Khi vị ấy cắn chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm chế ngự tâm, đè nén tâm, bức bách tâm, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Này các tỳ-kheo, khi vị tỳ-kheo nương vào một đề mục nào đó, chú tâm đến một đề mục nào đó, mà những tầm ác, bất thiện gắn với dục, gắn với sân, gắn với si khởi lên, thì vị ấy rời đề mục ấy mà chú tâm đến một đề mục khác gắn với thiện, và những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Khi vị ấy xem xét sự nguy hại của những tầm ấy, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Khi vị ấy không ghi nhớ và không chú tâm đến những tầm ấy, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Khi vị ấy chú tâm đến sự an trú của các hành tầm, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Khi vị ấy cắn chặt răng, ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm chế ngự tâm, đè nén tâm, bức bách tâm, thì những tầm ác, bất thiện ấy — gắn với dục, gắn với sân, gắn với si — được từ bỏ và tiêu tan.

Do từ bỏ chúng, tâm an trú ngay bên trong, lắng lại, trở thành nhất tâm và nhập định.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo như vậy được gọi là người đã làm chủ các nẻo đường của tầm.

Vị ấy sẽ suy nghĩ những tầm nào mình muốn, và sẽ không suy nghĩ những tầm nào mình không muốn.

Vị ấy đã cắt đứt ái, đã làm tan rã kiết sử, và nhờ chứng ngộ đúng đắn về mạn mà đã chấm dứt khổ."

[Chú thích: Câu này có vài điểm đáng ngờ. Bản Hán tương ứng (MA 101) khá giống phần trước nhưng không có câu này, và ở đây thiếu lối kết cấu điều kiện "yato ca" thường gặp; thì quá khứ cũng xung khắc với thì tương lai của câu trước, nên nếu đảo lại thứ tự sẽ hợp lý hơn. Gộp lại, những dấu hiệu ấy cho thấy câu này có thể đã bị chèn vào Pali do nhầm lẫn, và phạm vi nguyên thủy của bài kinh có lẽ chỉ nhắm đến việc làm lặng các tầm để đạt định.]

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh An Trú Tầm, bài thứ mười, đã kết thúc.

Phẩm Sư Tử Hống, phẩm thứ hai, đã kết thúc.


Tóm tắt phẩm

[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt (uddāna) liệt kê mười bài kinh của phẩm Sư Tử Hống, từ MN 11 đến MN 20; mỗi cụm từ là một từ khóa gợi nhớ tên hoặc chủ đề của bài. Bài thứ hai ở đây được gọi theo tên nguyên thủy là Lông Dựng Ngược, tức bài mà truyền thống về sau gọi là Đại Kinh Sư Tử Hống. Bài cuối là bài kinh này, được gọi là lời dạy về năm đề mục vì nó dạy năm cách xử lý tầm.]

Tiểu Sư Tử Hống, Lông Dựng Ngược,

Đại Khổ Uẩn, Tiểu Khổ Uẩn, Kinh Suy Đoán;

Tâm Hoang Vu, Khu Rừng, Mật Hoàn, Hai Loại Tầm,

Lời dạy về năm đề mục, và phẩm ấy khép lại.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →