Trung Bộ Kinh · bài 103/152
Kinh Như Thế Nào
Kinti Sutta — bài kinh về câu hỏi "các ông nghĩ về ta như thế nào" và cách giữ hòa hợp khi có bất đồng về Pháp
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Như Thế Nào (Kinti Sutta) là bài kinh thứ 103 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra trong một khu rừng ở Pisinārā, nơi Đức Thế Tôn cùng các tỳ-kheo đang trú. Không có vua chúa, không có cuộc tranh luận với giáo phái khác, không có phép lạ. Chỉ có một câu hỏi rất riêng: các học trò nghĩ gì về động cơ của người thầy.
Đức Thế Tôn mở đầu bằng cách nêu ra điều tệ nhất mà người ta có thể nghĩ về mình: rằng Ngài thuyết Pháp chỉ để có y áo, có cơm ăn, có chỗ ngủ, hay để được sinh vào đời sống tốt đẹp hơn. Các tỳ-kheo phủ nhận. Rồi Ngài hỏi tiếp: vậy các ông nghĩ gì? Họ đáp: Ngài thuyết Pháp vì lòng thương tưởng, vì muốn điều tốt lành cho chúng con. Câu trả lời ấy mở ra phần còn lại của bài kinh, nhưng không phải để được khen ngợi, mà để nêu một điều kiện: nếu người ta theo mình vì lòng thương tưởng, thì chính họ cũng phải sống với nhau bằng lòng thương tưởng ấy.
Từ đó, bài kinh trở thành một cẩm nang về cách xử lý bất đồng trong một tập thể cùng tu học. Đức Thế Tôn liệt kê bảy nhóm pháp tu, rồi nói: khi cùng học những pháp ấy, thế nào cũng có lúc hai vị bất đồng. Điều quan trọng là phân biệt hai loại bất đồng: khác nhau về nghĩa và khác nhau về câu chữ. Có bốn trường hợp, khác cả hai, khác nghĩa mà thuận chữ, thuận nghĩa mà khác chữ, thuận cả hai, và mỗi trường hợp có cách nói riêng với đôi bên. Riêng chuyện câu chữ, Ngài nói, là chuyện nhỏ.
Phần sau bàn đến một trường hợp nặng hơn: có vị phạm lỗi. Đức Thế Tôn không cho phép vội vàng khiển trách. Trước hết phải quan sát người ấy, rồi cân nhắc bốn khả năng: nói ra thì mình không bị phiền nhiễu mà người kia cũng không bị tổn hại; mình phiền mà người kia không sao; mình không sao mà người kia bị tổn hại; cả hai cùng chịu. Trong mọi trường hợp, thước đo cuối cùng vẫn là: có thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện hay không. Nếu hoàn toàn không thể, thì sự xả là điều không được coi nhẹ.
Bài kinh còn đi xa hơn một bước, tới chỗ tinh tế nhất của đời sống tập thể: những oán khí âm ỉ. Hai bên cứ nhắc lại chuyện đã giải quyết, khinh miệt kiến giải của nhau, trong lòng bực bội. Cách xử lý ở đây không phải một thủ tục, mà là một câu hỏi đặt ra cho chính mình: nếu bậc sa-môn biết chuyện này, Ngài có khiển trách không? Và câu trả lời cho câu hỏi tiếp theo, không từ bỏ điều ấy thì có chứng ngộ Niết-bàn được không, là một chữ "không" dứt khoát.
Bài kinh khép lại bằng một tiêu chuẩn cho người nói: trả lời thế nào để không tán dương mình, không chê bai người khác, đúng với Pháp, và không ai bắt bẻ được. Với người đọc hôm nay, đó là một bài học về cách nói chuyện trong bất kỳ nhóm nào có người cùng chí hướng: hỏi về động cơ trước khi buộc tội, tách chuyện nghĩa khỏi chuyện chữ, cân đo thiệt hơn của cả hai phía, và đừng để oán khí cũ âm ỉ trong lòng.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Pisinārā (Câu-thi-na), trong rừng Baliharaṇa, khu rừng dâng lễ vật.
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, có phải các ông nghĩ về ta như thế này:
"Sa-môn Gotama thuyết Pháp vì y áo, vì đồ ăn khất thực, vì chỗ trú ngụ, hay vì sinh vào đời sống này hay đời sống khác"?
[Chú thích: "Hữu này hữu khác" không có nghĩa là "có và không có", mà là một hợp từ phân phối, chỉ "đời sống này hay đời sống khác". Các văn bản tôn giáo Ấn Độ đầy những bàn luận về các tầng trời và địa ngục khác nhau. Mục tiêu của Đức Thế Tôn là giải thoát, không phải tái sinh lên cõi trời.]
Bạch Thế Tôn, chúng con không nghĩ về Đức Thế Tôn như thế này:
"Sa-môn Gotama thuyết Pháp vì y áo, vì đồ ăn khất thực, vì chỗ trú ngụ, hay vì sinh vào đời sống này hay đời sống khác."
Nếu các ông không nghĩ về ta như vậy:
"Sa-môn Gotama thuyết Pháp vì y áo, vì đồ ăn khất thực, vì chỗ trú ngụ,
hay vì sinh vào đời sống này hay đời sống khác."
Vậy thì này các tỳ-kheo, các ông nghĩ về ta như thế nào?
Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ về Đức Thế Tôn như thế này:
"Đức Thế Tôn thương tưởng chúng con, muốn điều tốt lành cho chúng con;
vì lòng thương tưởng mà Ngài thuyết Pháp."
Vậy ra này các tỳ-kheo, các ông nghĩ về ta như thế này:
"Đức Thế Tôn thương tưởng chúng con, muốn điều tốt lành cho chúng con;
vì lòng thương tưởng mà Ngài thuyết Pháp."
Vậy nên, này các tỳ-kheo, những pháp mà ta đã dạy các ông bằng thắng trí, đó là:
bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, con đường tám chi phần cao quý. Ở đó, tất cả các ông phải học tập trong sự hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi.
[Chú thích: Bảy nhóm pháp này về sau được gọi là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, tức những "cánh" của sự giác ngộ. Ở đây chúng được trình bày như một bản tóm tắt cốt lõi giáo pháp của Đức Thế Tôn, và cũng xuất hiện với vai trò ấy ở DN 16, DN 29, MN 104 và AN 8.19.]
Này các tỳ-kheo, trong khi các ông hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, cùng học tập như vậy, có thể có hai tỳ-kheo bất đồng ý kiến về Pháp.
Nếu các ông nghĩ như vầy:
"Hai vị tôn giả này bất đồng cả về nghĩa lẫn về văn tự." Khi ấy, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
[Chú thích: "Nghĩa" là attha, tức mục đích, ý hướng hay lợi ích của giáo pháp; "văn tự" là byañjana, tức chữ, âm tiết hay cách diễn đạt. Những đoạn như thế này cho thấy sự quan tâm đến cả hai phương diện đã có từ thời kỳ đầu. "Dễ nói chuyện nhất" là suvacatara, nghĩa đen là "dễ nói hơn".]
"Các tôn giả bất đồng cả về nghĩa lẫn về văn tự.
Nhưng các tôn giả nên biết điều này:
sự bất đồng về nghĩa và về văn tự đã hình thành như thế nào.
Xin các tôn giả đừng vì điều ấy mà tranh cãi."
Sau đó, trong số các tỳ-kheo thuộc phía bên kia, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
"Các tôn giả bất đồng cả về nghĩa lẫn về văn tự.
Nhưng các tôn giả nên biết điều này:
sự bất đồng về nghĩa và về văn tự đã hình thành như thế nào.
Xin các tôn giả đừng vì điều ấy mà tranh cãi."
Như vậy, chỗ đã ghi nhớ sai thì phải nhận là ghi nhớ sai, chỗ đã ghi nhớ đúng thì phải nhận là ghi nhớ đúng.
[Chú thích: Khi đã nhận ra nguồn gốc của vấn đề thì phải ghi nhớ nó, để lỗi ấy không tái diễn.]
Sau khi đã nhớ điều sai là sai và điều đúng là đúng, điều gì là Pháp, là Luật thì hãy nói theo đó.
Nếu các ông nghĩ như vầy:
"Hai vị tôn giả này bất đồng về nghĩa nhưng đồng thuận về văn tự." Khi ấy, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
[Chú thích: Ở AN 6.61, một nhóm tỳ-kheo bàn luận về một bài kệ Pháp với những cách hiểu khác nhau, và Đức Thế Tôn khen tất cả đều nói đúng. Vậy không phải mọi cách hiểu khác nhau đều sai, nhưng một số cách hiểu khác nhau xung đột với mục đích nền tảng của giáo pháp, tức attha.]
"Các tôn giả bất đồng về nghĩa nhưng đồng thuận về văn tự.
Nhưng các tôn giả nên biết điều này:
sự bất đồng về nghĩa và sự đồng thuận về văn tự đã hình thành như thế nào.
Xin các tôn giả đừng vì điều ấy mà tranh cãi."
Sau đó, trong số các tỳ-kheo thuộc phía bên kia, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
"Các tôn giả bất đồng về nghĩa nhưng đồng thuận về văn tự.
Nhưng các tôn giả nên biết điều này:
sự bất đồng về nghĩa và sự đồng thuận về văn tự đã hình thành như thế nào.
Xin các tôn giả đừng vì điều ấy mà tranh cãi."
Như vậy, chỗ đã ghi nhớ sai thì phải nhận là ghi nhớ sai, chỗ đã ghi nhớ đúng thì phải nhận là ghi nhớ đúng.
Sau khi đã nhớ điều sai là sai và điều đúng là đúng, điều gì là Pháp, là Luật thì hãy nói theo đó.
Nếu các ông nghĩ như vầy:
"Hai vị tôn giả này đồng thuận về nghĩa nhưng bất đồng về văn tự." Khi ấy, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
"Các tôn giả đồng thuận về nghĩa nhưng bất đồng về văn tự.
Nhưng các tôn giả nên biết điều này:
sự đồng thuận về nghĩa và sự bất đồng về văn tự đã hình thành như thế nào.
Nhưng văn tự chỉ là chuyện nhỏ.
[Chú thích: Văn tự được xem là ít quan trọng hơn một phần vì kinh điển được xây dựng với mức lặp lại rất lớn. Với bất cứ vấn đề có ý nghĩa nào, một biến thể về câu chữ ở chỗ này gần như luôn được làm rõ nhờ một đoạn khác.]
Xin các tôn giả đừng vì một chuyện nhỏ như vậy mà tranh cãi."
Sau đó, trong số các tỳ-kheo thuộc phía bên kia, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
"Các tôn giả đồng thuận về nghĩa nhưng bất đồng về văn tự.
Nhưng các tôn giả nên biết điều này:
sự đồng thuận về nghĩa và sự bất đồng về văn tự đã hình thành như thế nào.
Nhưng văn tự chỉ là chuyện nhỏ.
Xin các tôn giả đừng vì một chuyện nhỏ như vậy mà tranh cãi."
Như vậy, chỗ đã ghi nhớ đúng thì phải nhận là ghi nhớ đúng, chỗ đã ghi nhớ sai thì phải nhận là ghi nhớ sai.
Sau khi đã nhớ điều đúng là đúng và điều sai là sai, điều gì là Pháp, là Luật thì hãy nói theo đó.
Nếu các ông nghĩ như vầy:
"Hai vị tôn giả này đồng thuận cả về nghĩa lẫn về văn tự." Khi ấy, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
"Các tôn giả đồng thuận cả về nghĩa lẫn về văn tự.
Nhưng các tôn giả nên biết điều này:
sự đồng thuận cả về nghĩa lẫn về văn tự đã hình thành như thế nào.
Xin các tôn giả đừng vì điều ấy mà tranh cãi."
Sau đó, trong số các tỳ-kheo thuộc phía bên kia, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
"Các tôn giả đồng thuận cả về nghĩa lẫn về văn tự.
Nhưng các tôn giả nên biết điều này:
sự đồng thuận cả về nghĩa lẫn về văn tự đã hình thành như thế nào.
Xin các tôn giả đừng vì điều ấy mà tranh cãi."
Như vậy, chỗ đã ghi nhớ đúng thì phải nhận là ghi nhớ đúng.
Sau khi đã nhớ điều đúng là đúng, điều gì là Pháp, là Luật thì hãy nói theo đó.
Này các tỳ-kheo, trong khi các ông hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, cùng học tập như vậy, có thể một tỳ-kheo nào đó phạm tội, có thể có sự vi phạm.
[Chú thích: Tức là sự vi phạm Luật tạng, tức Vinaya. Những lỗi ấy thuộc một chuẩn mực đạo đức chung, cần các vị xuất gia khác giải quyết, ít nhất là bằng cách nghe thú nhận.]
Này các tỳ-kheo, khi ấy không nên vội vàng khiển trách. Cần quan sát người ấy như vầy:
[Chú thích: Luật không nhằm được áp dụng một cách hình thức hay tàn nhẫn, mà để nâng đỡ và sửa đổi. Cách chấm câu trong bản Mahāsaṅgīti có chỗ sai; chữ iti sau đây thuộc về dòng này, như chỗ lặp lại bên dưới cho thấy.]
"Ta sẽ không bị phiền nhiễu, và người kia cũng không bị tổn hại; vì người kia không sân hận, không oán giữ, không bám chặt vào kiến giải của mình, dễ buông bỏ. Ta có thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện."
Này các tỳ-kheo, nếu các ông nghĩ như vậy thì nên nói với người ấy.
[Chú thích: Nếu có thể giải quyết vấn đề mà không phải dùng đến thủ tục tố tụng thì nên làm như vậy.]
Này các tỳ-kheo, nhưng nếu các ông nghĩ như vầy:
"Ta sẽ không bị phiền nhiễu, nhưng người kia sẽ bị tổn hại; vì người kia sân hận, oán giữ, không bám chặt vào kiến giải, dễ buông bỏ. Ta có thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện.
Nhưng việc người kia bị tổn hại chỉ là chuyện nhỏ.
Điều quan trọng hơn là:
rằng ta có thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện."
Này các tỳ-kheo, nếu các ông nghĩ như vậy thì nên nói với người ấy.
Này các tỳ-kheo, nhưng nếu các ông nghĩ như vầy:
"Ta sẽ bị phiền nhiễu, nhưng người kia sẽ không bị tổn hại; vì người kia không sân hận, không oán giữ, nhưng bám chặt vào kiến giải, khó buông bỏ. Ta có thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện.
Nhưng việc ta bị phiền nhiễu chỉ là chuyện nhỏ.
Điều quan trọng hơn là:
rằng ta có thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện."
Này các tỳ-kheo, nếu các ông nghĩ như vậy thì nên nói với người ấy.
Này các tỳ-kheo, nhưng nếu các ông nghĩ như vầy:
"Ta sẽ bị phiền nhiễu và người kia sẽ bị tổn hại; vì người kia sân hận, oán giữ, bám chặt vào kiến giải, khó buông bỏ. Ta có thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện.
Nhưng việc ta bị phiền nhiễu và người kia bị tổn hại chỉ là chuyện nhỏ.
Điều quan trọng hơn là:
rằng ta có thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện."
Này các tỳ-kheo, nếu các ông nghĩ như vậy thì nên nói với người ấy.
Này các tỳ-kheo, nhưng nếu các ông nghĩ như vầy:
"Ta sẽ bị phiền nhiễu và người kia sẽ bị tổn hại; vì người kia sân hận, oán giữ, bám chặt vào kiến giải, khó buông bỏ, và ta không thể đưa người ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện."
Này các tỳ-kheo, với hạng người như vậy, không nên coi nhẹ sự xả.
[Chú thích: Tuệ biết rằng có lúc không còn gì để làm. Điều ấy không có nghĩa là buông xuôi, mà là có lúc nhẫn nại là cách tốt nhất. Nhưng đây là lựa chọn cuối cùng; cách can thiệp nhẹ nhàng vẫn luôn được ưu tiên.]
Này các tỳ-kheo, trong khi các ông hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, cùng học tập như vậy, có thể khởi lên chuyện hai bên nói qua nói lại với nhau, khinh miệt kiến giải của nhau, tâm sinh bực bội, không bằng lòng, không vui.
[Chú thích: Chữ này có nhiều dị bản: vacīsaṁsāro, vacīsaṁhāro, vacīsaṅkhāro; bản AN 2.63 dùng vacīsaṁsāro, được chú giải giải là "chuyện nói qua nói lại". Vì nghĩa thông thường của saṁsāra là "kéo dài không dứt", và vì ở cả MN lẫn AN đoạn này tiếp sau phần dạy cách dàn xếp tranh cãi, nên có lẽ ở đây muốn nói đến việc cứ nhắc lại những chuyện đã được giải quyết.]
Trong trường hợp ấy, trong số các tỳ-kheo thuộc một phía, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
"Thưa hiền giả, trong khi chúng ta hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, cùng học tập như vậy, đã khởi lên chuyện hai bên nói qua nói lại với nhau, khinh miệt kiến giải của nhau, tâm sinh bực bội, không bằng lòng, không vui. Nếu bậc sa-môn biết được điều ấy, liệu Ngài có khiển trách không?"
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trả lời đúng đắn thì nên trả lời như vầy:
"Thưa hiền giả, trong khi chúng ta hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, cùng học tập như vậy, đã khởi lên chuyện hai bên nói qua nói lại với nhau, khinh miệt kiến giải của nhau, tâm sinh bực bội, không bằng lòng, không vui; nếu bậc sa-môn biết được điều ấy, Ngài sẽ khiển trách."
"Nhưng thưa hiền giả, nếu không từ bỏ pháp ấy, liệu có thể chứng ngộ Niết-bàn không?"
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trả lời đúng đắn thì nên trả lời như vầy:
"Thưa hiền giả, nếu không từ bỏ pháp ấy thì không thể chứng ngộ Niết-bàn."
Sau đó, trong số các tỳ-kheo thuộc phía bên kia, hãy đến chỗ vị tỳ-kheo nào mà các ông thấy là dễ nói chuyện nhất, và nói với vị ấy như vầy:
"Thưa hiền giả, trong khi chúng ta hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, cùng học tập như vậy, đã khởi lên chuyện hai bên nói qua nói lại với nhau, khinh miệt kiến giải của nhau, tâm sinh bực bội, không bằng lòng, không vui. Nếu bậc sa-môn biết được điều ấy, liệu Ngài có khiển trách không?"
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trả lời đúng đắn thì nên trả lời như vầy:
"Thưa hiền giả, trong khi chúng ta hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, cùng học tập như vậy, đã khởi lên chuyện hai bên nói qua nói lại với nhau, khinh miệt kiến giải của nhau, tâm sinh bực bội, không bằng lòng, không vui; nếu bậc sa-môn biết được điều ấy, Ngài sẽ khiển trách."
"Nhưng thưa hiền giả, nếu không từ bỏ pháp ấy, liệu có thể chứng ngộ Niết-bàn không?"
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trả lời đúng đắn thì nên trả lời như vầy:
"Thưa hiền giả, quả thật nếu không từ bỏ pháp ấy thì không thể chứng ngộ Niết-bàn."
Này các tỳ-kheo, nếu người khác hỏi vị tỳ-kheo ấy như vầy:
"Thưa tôn giả, có phải chính tôn giả đã đưa các tỳ-kheo ấy ra khỏi điều bất thiện và an lập vào điều thiện?"
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trả lời đúng đắn thì nên trả lời như vầy:
"Thưa các hiền giả, tôi đã đến chỗ Đức Thế Tôn; Đức Thế Tôn thuyết Pháp cho tôi; sau khi nghe Pháp ấy, tôi giảng lại cho các tỳ-kheo kia.
Các tỳ-kheo ấy sau khi nghe Pháp ấy đã ra khỏi điều bất thiện và được an lập vào điều thiện."
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trả lời như vậy thì không tán dương mình, không chê bai người khác, trả lời đúng Pháp và thuận theo Pháp, và không có lời phê bình nào đúng Pháp có thể bắt lỗi được.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Như Thế Nào hoàn tất, bài thứ ba.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.