Trung Bộ Kinh · bài 119/152
Kinh Niệm Thân
Kāyagatāsati Sutta — bài kinh về chánh niệm an trú nơi thân
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Niệm Thân (Kāyagatāsati Sutta) là bài kinh thứ 119 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), tập kinh gồm 152 bài trong Kinh tạng Pali. Tên bài nói thẳng đề tài: kāya là thân, sati là niệm, tức sự nhớ biết, sự có mặt với điều đang xảy ra. Niệm thân là lấy chính thân mình làm chỗ neo lại của sự tỉnh thức.
Bài kinh mở đầu tại Sāvatthī (Xá-vệ). Sau bữa ăn, khi đi khất thực trở về, một nhóm tỳ-kheo ngồi tụ lại trong nhà tụ họp và bàn với nhau rằng thật kỳ diệu thay, Đức Thế Tôn đã nói niệm thân được tu tập đầy đủ thì có quả lớn, có lợi ích lớn đến nhường nào. Câu chuyện còn dở dang thì Đức Thế Tôn từ chỗ độc cư đi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và hỏi các ông đang bàn chuyện gì. Các tỳ-kheo kể lại đầu đuôi. Từ đó, Ngài dạy trọn bài kinh này.
Phần lớn bài kinh là mười bốn phép quán lấy thân làm đề mục. Phép đầu là hơi thở: biết mình thở vào, thở ra, dài hay ngắn; cảm nhận trọn vẹn thân; làm lắng dịu các hoạt động của thân. Phép thứ hai là tư thế: biết mình đang đi, đứng, ngồi, nằm. Tiếp đến là tỉnh giác trong mọi việc nhỏ — bước tới bước lui, nhìn ngang nhìn dọc, co tay duỗi tay, mang y và bát, ăn uống, đại tiện tiểu tiện, nói và im. Rồi quán ba mươi mốt bộ phận của thân, quán bốn đại, và quán chín giai đoạn của một thân xác nằm ở nghĩa địa. Sau cùng là bốn tầng thiền-na, mỗi tầng được diễn tả bằng một ví dụ: cục bột tắm thấm nước, hồ nước có mạch phun từ đáy, hoa sen chìm trong nước, tấm vải trắng trùm kín.
Nửa sau bài kinh chuyển sang so sánh và hệ quả. Niệm thân được ví với biển cả chứa mọi con sông. Thiếu niệm thân thì Ma vương có chỗ đột nhập, như hòn đá nặng ném vào đống đất sét ướt, như lửa cọ vào khúc gỗ khô, như nước rót vào chum rỗng. Có niệm thân thì Ma vương không chen vào được, như cuộn chỉ nhẹ ném vào cánh cửa gỗ cứng, như lửa cọ vào khúc gỗ tươi, như nước rót vào chum đầy. Người tu tập niệm thân hướng tâm đến điều gì cần chứng đạt thì đều làm được, và bài kinh kết bằng mười lợi ích cụ thể, từ chịu được lạnh nóng đói khát đến bốn tầng thiền-na và các thắng trí.
Với người chưa từng học Phật, có thể đọc bài kinh này như một chuỗi bài tập chú ý. Nó không đòi một niềm tin nào trước đó, chỉ đòi một việc: ngồi xuống và biết mình đang có mặt trong thân này. Các phép quán đi từ thô đến tế, từ hơi thở đến các bộ phận, đến các đại, đến cái chết, và cuối cùng là các tầng định; mỗi chặng đều khép lại bằng cùng một câu: tâm lắng yên bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định. Bản dịch dưới đây giữ nguyên sự lặp lại ấy, vì ở bài kinh này, lặp lại chính là cách dạy.
[Chú thích của người dịch: Tên Pali ghép từ kāya (thân), gatā (đã đi đến, an trú nơi) và sati (niệm, sự nhớ biết).]
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh này dùng những phép quán thân giống như phần quán thân trong Kinh Niệm Xứ (MN 10).]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Rồi sau bữa ăn, khi đã đi khất thực trở về, nhiều tỳ-kheo cùng ngồi tụ lại, tụ họp trong nhà tụ họp, và câu chuyện giữa họ khởi lên như vầy:
"Thật kỳ diệu thay, thưa các Hiền giả, thật hy hữu thay, thưa các Hiền giả!
Niệm thân, khi được tu tập và làm cho sung mãn, quả thật có quả lớn, có lợi ích lớn — Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, đã nói như vậy!"
Câu chuyện giữa các tỳ-kheo ấy còn đang dở dang, thì buổi chiều, Đức Thế Tôn từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến nhà tụ họp. Đến nơi, Ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn.
Ngồi xuống rồi, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
Này các tỳ-kheo, các ông đang ngồi bàn câu chuyện gì vậy? Và câu chuyện nào giữa các ông còn dở dang?
"Bạch Thế Tôn, ở đây, sau bữa ăn, khi chúng con đã đi khất thực trở về và ngồi tụ họp trong nhà tụ họp, câu chuyện giữa chúng con đã khởi lên như vầy:
'Thật kỳ diệu thay, thưa các Hiền giả, thật hy hữu thay, thưa các Hiền giả!
Niệm thân, khi được tu tập và làm cho sung mãn, quả thật có quả lớn, có lợi ích lớn — Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, đã nói như vậy!'
Bạch Thế Tôn, câu chuyện giữa chúng con đang dở dang thì Đức Thế Tôn đã đến."
Này các tỳ-kheo, niệm thân được tu tập thế nào, được làm cho sung mãn thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đi đến rừng, đi đến gốc cây, hoặc đi đến nhà trống, ngồi kiết già, giữ thân cho ngay thẳng, đặt chánh niệm trước mặt.
Vị ấy chánh niệm thở vào, chánh niệm thở ra.
Khi thở vào dài, vị ấy biết: 'Ta đang thở vào dài.' Khi thở ra dài, vị ấy biết: 'Ta đang thở ra dài.'
Khi thở vào ngắn, vị ấy biết: 'Ta đang thở vào ngắn.' Khi thở ra ngắn, vị ấy biết: 'Ta đang thở ra ngắn.'
Vị ấy học như vầy: 'Ta sẽ thở vào, cảm nhận trọn vẹn toàn thân.' Vị ấy học như vầy: 'Ta sẽ thở ra, cảm nhận trọn vẹn toàn thân.'
Vị ấy học như vầy: 'Ta sẽ thở vào, làm lắng dịu thân hành.' Vị ấy học như vầy: 'Ta sẽ thở ra, làm lắng dịu thân hành.'
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
[Chú thích: Cụm sarasaṅkappā có hai cách hiểu. Cách phổ biến đọc là "hồi tưởng và tư duy", lấy sara theo nghĩa "kỷ niệm"; bản chú giải lại đọc là "những tư duy lao đi", lấy sara theo nghĩa "dòng chảy". Cả hai đều chỉ những gì kéo tâm trở về đời sống thế tục.]
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
[Chú thích: Mỗi phép quán ở đây đều trực tiếp dẫn đến định, nhắc rằng thiền chánh niệm chính là nền tảng của định.]
Như vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, khi đang đi, vị tỳ-kheo biết: 'Ta đang đi.' Khi đang đứng, vị ấy biết: 'Ta đang đứng.' Khi đang ngồi, vị ấy biết: 'Ta đang ngồi.' Khi đang nằm, vị ấy biết: 'Ta đang nằm.'
Thân của vị ấy được đặt trong tư thế nào, thì vị ấy biết thân mình như thế ấy.
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo khi bước tới, bước lui đều có tỉnh giác; khi nhìn thẳng, nhìn nghiêng đều có tỉnh giác; khi co tay, duỗi tay đều có tỉnh giác; khi mang y ngoài, bát và y đều có tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều có tỉnh giác; khi đại tiện, tiểu tiện đều có tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng đều có tỉnh giác.
[Chú thích: Đoạn này không có ý nói rằng hành giả nhập định sâu trong lúc đi vệ sinh. Theo trình tự tu tập, những việc ấy chỉ là nền tảng chuẩn bị tâm cho thiền.]
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo quán sát chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bằng da, chứa đầy những thứ bất tịnh đủ loại:
"Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột non, màng treo ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ lỏng, nước bọt, nước mũi, chất nhờn khớp, nước tiểu."
Ví như, này các tỳ-kheo, một cái bao hai đầu mở, đựng đầy các loại hạt khác nhau, như là:
gạo hảo hạng, lúa, đậu xanh, đậu, mè và gạo thường.
Một người có mắt sáng mở bao ấy ra và xem xét:
"Đây là gạo hảo hạng, đây là lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu, đây là mè, đây là gạo thường."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo quán sát chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bằng da, chứa đầy những thứ bất tịnh đủ loại:
[Chú thích: Những phép quán như thế này, cũng như phép quán cái chết ở phần sau, dẫn đến định bằng cách gột sạch lòng ham muốn. Đề mục tuy được nhận biết là nhờm gớm, nhưng khi tâm đã lìa ham muốn thì sinh ra một niềm vui nhẹ nhàng, tự do, và chính niềm vui ấy đưa vào định.]
"Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột non, màng treo ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ lỏng, nước bọt, nước mũi, chất nhờn khớp, nước tiểu."
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo quán sát chính thân này, dù đang ở tư thế nào, đang được đặt như thế nào, theo các đại:
"Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại."
Ví như, này các tỳ-kheo, một người đồ tể khéo léo hoặc người học nghề đồ tể giết một con bò, rồi ngồi xuống ở ngã tư đường với thịt đã được cắt thành từng miếng.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo quán sát chính thân này, dù đang ở tư thế nào, đang được đặt như thế nào, theo các đại:
"Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại."
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, ví như vị tỳ-kheo thấy một thân thể bị quăng bỏ ở nghĩa địa, đã chết một ngày, hai ngày hoặc ba ngày, sình trương, tím bầm và rỉ mủ.
Vị ấy đem thân này ra so sánh:
"Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Hoặc ví như vị tỳ-kheo thấy một thân thể bị quăng bỏ ở nghĩa địa, bị quạ, diều hâu, kền kền, cò, chó, cọp, beo, chó sói và nhiều loài sinh vật nhỏ khác ăn.
Vị ấy đem thân này ra so sánh:
"Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ. Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, ví như vị tỳ-kheo thấy một thân thể bị quăng bỏ ở nghĩa địa — một bộ xương còn thịt và máu, được nối với nhau bằng gân. Vị ấy đem thân này ra so sánh: "Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
Rồi đến một bộ xương không còn thịt nhưng còn vấy máu, được nối với nhau bằng gân. Vị ấy đem thân này ra so sánh: "Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
Rồi đến một bộ xương đã hết thịt và máu, được nối với nhau bằng gân. Vị ấy đem thân này ra so sánh: "Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
Rồi đến những xương đã rời khỏi nhau, vương vãi khắp mọi phương: đây một xương tay, kia một xương chân, đây một xương cổ chân, kia một xương ống chân, đây một xương đùi, kia một xương hông, đây một xương sườn, kia một xương sống, đây một xương vai, kia một xương cổ, đây một xương hàm, kia một cái răng, đây một cái sọ.
Vị ấy đem thân này ra so sánh:
"Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ. Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, ví như vị tỳ-kheo thấy một thân thể bị quăng bỏ ở nghĩa địa:
những xương trắng, màu như vỏ sò. Vị ấy đem thân này ra so sánh: "Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
những xương đã mục, đã quá một năm. Vị ấy đem thân này ra so sánh: "Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
những xương đã mục rữa, vụn thành bột.
Vị ấy đem thân này ra so sánh:
"Thân này cũng cùng bản chất ấy, cùng loại ấy, không thể vượt qua điều đó."
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi.
[Chú thích: Trong Kinh Niệm Xứ, việc nhập thiền-na chỉ được ngụ ý qua phần quán thọ, quán tâm và quán pháp, còn bốn thiền-na được nêu rõ trong bản mở rộng (DN 22). Ở bài kinh này, chúng giữ vai trò trung tâm hơn hẳn.]
Vị ấy rưới đẫm, thấm đẫm, làm tràn đầy, làm thấm khắp thân này bằng hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi thấm khắp.
[Chú thích: Khi hành giả tiến xa hơn, cảm nhận chủ quan về thân chuyển dần từ những xúc chạm thô nơi giác quan sang kinh nghiệm tâm thức bên trong về lạc và ánh sáng, rồi đến sự chứng ngộ trực tiếp chân lý tối thượng ngay nơi thân này.]
Này các tỳ-kheo, ví như một người thợ tắm khéo léo, hoặc học trò của người ấy, đổ bột tắm vào một chậu đồng, rồi rắc nước từng chút một và nhào cho kỹ. Cục bột tắm ấy thấm nước, đẫm nước, cả trong lẫn ngoài đều ướt, thấm khắp mà nước không chảy ra ngoài.
[Chú thích: Động tác nhào bột là hình ảnh của tầm và tứ, nước là hỷ lạc, còn việc nước không chảy ra ngoài nói đến tính khép kín bên trong của kinh nghiệm.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo rưới đẫm, thấm đẫm, làm tràn đầy, làm thấm khắp thân này bằng hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi thấm khắp.
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, khi tầm và tứ lắng xuống, vị tỳ-kheo chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, một trạng thái nội tâm lắng trong, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh khởi.
Vị ấy rưới đẫm, thấm đẫm, làm tràn đầy, làm thấm khắp thân này bằng hỷ và lạc do định sinh khởi; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được hỷ và lạc do định sinh khởi thấm khắp.
Này các tỳ-kheo, ví như một hồ nước có mạch nước phun lên từ đáy. Hồ ấy không có cửa nước chảy vào từ phương đông, không có cửa nước chảy vào từ phương tây, không có cửa nước chảy vào từ phương bắc, không có cửa nước chảy vào từ phương nam, và trời cũng không thường xuyên ban mưa đúng lúc. Nhưng từ chính hồ nước ấy, những dòng nước mát tuôn lên, rưới đẫm, thấm đẫm, làm tràn đầy, làm thấm khắp hồ nước ấy bằng nước mát; không có chỗ nào nơi toàn hồ nước ấy lại không được nước mát thấm khắp.
[Chú thích: Nước ở đây là hỷ lạc, còn việc không có nước chảy vào nói đến sự khép kín và nhất tâm. Dòng nước phun lên từ đáy hồ là hỷ, tức phản ứng cảm xúc nâng đỡ đi cùng lạc.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo rưới đẫm, thấm đẫm, làm tràn đầy, làm thấm khắp thân này bằng hỷ và lạc do định sinh khởi; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được hỷ và lạc do định sinh khởi thấm khắp.
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ. Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, khi hỷ đã lìa, vị tỳ-kheo trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, và cảm nhận lạc bằng thân; vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố: 'Người có xả và chánh niệm thì sống an lạc.'
Vị ấy rưới đẫm, thấm đẫm, làm tràn đầy, làm thấm khắp thân này bằng lạc không có hỷ; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được lạc không có hỷ thấm khắp.
Này các tỳ-kheo, ví như trong một ao có hoa sen xanh, hoa sen hồng hay hoa sen trắng, có những hoa sen xanh, sen hồng, sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, chìm dưới nước và nuôi mình trong nước; những hoa ấy từ ngọn đến rễ đều thấm nước, đẫm nước, đầy nước, thấm khắp bằng nước mát; không có phần nào của những hoa ấy lại không được nước mát thấm khắp.
[Chú thích: Hành giả hoàn toàn chìm trong sự tĩnh lặng và lạc.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo rưới đẫm, thấm đẫm, làm tràn đầy, làm thấm khắp thân này bằng lạc không có hỷ; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được lạc không có hỷ thấm khắp.
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ. Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, sau khi từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, và khi hỷ và ưu từ trước đã chấm dứt, vị tỳ-kheo chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, trạng thái không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.
Vị ấy ngồi, trùm khắp thân này bằng tâm thanh tịnh, trong sáng; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được tâm thanh tịnh, trong sáng ấy trùm khắp.
Này các tỳ-kheo, ví như một người ngồi, quấn kín từ đầu đến chân bằng một tấm vải trắng; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được tấm vải trắng ấy phủ khắp.
[Chú thích: Tấm vải trắng là sự trong sạch và sáng của xả. Bản chú giải giải thích hình ảnh này là một người vừa tắm xong, ngồi khô ráo và an ổn.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ngồi, trùm khắp thân này bằng tâm thanh tịnh, trong sáng; không có chỗ nào nơi toàn thân ấy lại không được tâm thanh tịnh, trong sáng ấy trùm khắp.
Khi vị ấy sống như vậy — không phóng dật, nhiệt tâm, đã dốc lòng — thì những hồi tưởng và tư duy gắn với đời sống gia đình đều được đoạn trừ.
Do đoạn trừ chúng, tâm của vị ấy lắng yên ngay bên trong, an trú, chuyên nhất và nhập định.
Đó cũng là cách, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, thì tất cả các thiện pháp thuộc phần minh, dù là những pháp nào, đều nằm gọn trong niệm thân ấy.
[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn khẳng định niệm thân không chỉ là phần thứ nhất trong bốn niệm xứ mà bao trùm cả bốn, vì thân là nơi thọ, tâm và pháp hiện ra. Các pháp thuộc phần minh được kể là hai — chỉ và quán — trong AN 2.31; một nhóm sáu pháp khác trong SN 55.3 và AN 6.35 nghiêng về phía tuệ.]
Ví như, này các tỳ-kheo, với ai đã lấy tâm bao trùm biển cả, thì mọi con sông nhỏ đổ ra biển đều nằm gọn trong ấy.
[Chú thích: Hình ảnh các dòng sông hợp lại nơi biển cả cũng có trong một số văn bản Upaniṣad cổ.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, thì tất cả các thiện pháp thuộc phần minh, dù là những pháp nào, đều nằm gọn trong niệm thân ấy.
Này các tỳ-kheo, với ai không tu tập, không làm cho sung mãn niệm thân, thì Ma vương tìm được chỗ đột nhập, Ma vương có được chỗ bám víu.
Ví như, này các tỳ-kheo, một người ném một hòn đá nặng vào một đống đất sét ướt.
Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo?
Vậy hòn đá nặng ấy có tìm được chỗ đột nhập vào đống đất sét ướt ấy không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai không tu tập, không làm cho sung mãn niệm thân, thì Ma vương tìm được chỗ đột nhập, Ma vương có được chỗ bám víu.
Ví như, này các tỳ-kheo, có một khúc gỗ khô đã quắt lại.
[Chú thích: Hình ảnh này cũng xuất hiện trong các kinh MN 36, MN 85 và MN 100.]
Bấy giờ một người đi đến, cầm lấy thanh củi quay lửa:
'Ta sẽ làm phát sinh lửa, ta sẽ làm cho sức nóng hiện ra.'
Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo?
Vậy người ấy, khi cọ xát thanh củi quay lửa vào khúc gỗ khô đã quắt lại ấy, có thể làm phát sinh lửa, làm cho sức nóng hiện ra không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai không tu tập, không làm cho sung mãn niệm thân, thì Ma vương tìm được chỗ đột nhập, Ma vương có được chỗ bám víu.
Ví như, này các tỳ-kheo, một cái chum nước trống không, rỗng, được đặt trên giá.
Bấy giờ một người đi đến, mang theo một gánh nước.
Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo?
Vậy người ấy có thể đổ nước vào chum ấy không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai không tu tập, không làm cho sung mãn niệm thân, thì Ma vương tìm được chỗ đột nhập, Ma vương có được chỗ bám víu.
Này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, thì Ma vương không tìm được chỗ đột nhập, Ma vương không có được chỗ bám víu.
Ví như, này các tỳ-kheo, một người ném một cuộn chỉ nhẹ vào một cánh cửa làm toàn bằng gỗ cứng.
[Chú thích: Hình ảnh tương tự có trong Chāndogya Upaniṣad và Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad, nơi các thế lực ác bị tiêu diệt khi đụng vào hơi thở, như một cục đất ném vào đá vững.]
Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo?
Vậy người ấy có làm cho cuộn chỉ nhẹ ấy tìm được chỗ đột nhập vào cánh cửa làm toàn bằng gỗ cứng ấy không?
"Không phải vậy, bạch Thế Tôn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, thì Ma vương không tìm được chỗ đột nhập, Ma vương không có được chỗ bám víu.
Ví như, này các tỳ-kheo, có một khúc gỗ tươi, còn nhựa.
Bấy giờ một người đi đến, cầm lấy thanh củi quay lửa:
'Ta sẽ làm phát sinh lửa, ta sẽ làm cho sức nóng hiện ra.'
Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo?
Vậy người ấy, khi cọ xát thanh củi quay lửa vào khúc gỗ tươi còn nhựa ấy, có thể làm phát sinh lửa, làm cho sức nóng hiện ra không?
"Không phải vậy, bạch Thế Tôn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, thì Ma vương không tìm được chỗ đột nhập, Ma vương không có được chỗ bám víu.
Ví như, này các tỳ-kheo, một cái chum nước đầy, đầy đến miệng, đến mức quạ có thể uống được, được đặt trên giá.
[Chú thích: Những ví dụ này nhắc lại các ví dụ về thiền-na ở trên.]
Bấy giờ một người đi đến, mang theo một gánh nước.
Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo?
Vậy người ấy có thể đổ nước vào chum ấy không?
"Không phải vậy, bạch Thế Tôn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, thì Ma vương không tìm được chỗ đột nhập, Ma vương không có được chỗ bám víu.
Này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, khi vị ấy hướng tâm đến một pháp cần chứng đạt bằng thắng trí, để chứng đạt pháp ấy bằng thắng trí, thì ngay tại đó vị ấy đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một pháp ấy đều nằm trong tầm với của niệm.
Ví như, này các tỳ-kheo, một cái chum nước đầy, đầy đến miệng, đến mức quạ có thể uống được, được đặt trên giá.
Nếu một người mạnh nghiêng cái chum ấy về phía nào, thì nước có trào ra không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, khi vị ấy hướng tâm đến một pháp cần chứng đạt bằng thắng trí, để chứng đạt pháp ấy bằng thắng trí, thì ngay tại đó vị ấy đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một pháp ấy đều nằm trong tầm với của niệm.
[Chú thích: Cụm sati satiāyatane rất khó dịch. Có cách hiểu cho rằng đây là điều kiện giới hạn, tức chỉ khi có một cơ sở thích hợp hay một nền tảng của niệm; nhưng vì Đức Thế Tôn cũng dùng cụm này để nói về chính mình, ở đây dịch theo nghĩa rộng: mỗi pháp đều nằm trong tầm với của niệm.]
Ví như, này các tỳ-kheo, trên một khoảng đất bằng phẳng có một ao sen vuông, có bờ đắp, đầy nước đến miệng, đến mức quạ có thể uống được.
Nếu một người mạnh mở bờ ao ấy ra về phía nào, thì nước có trào ra không?
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, khi vị ấy hướng tâm đến một pháp cần chứng đạt bằng thắng trí, để chứng đạt pháp ấy bằng thắng trí, thì ngay tại đó vị ấy đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một pháp ấy đều nằm trong tầm với của niệm.
Ví như, này các tỳ-kheo, tại một ngã tư bằng phẳng, có một cỗ xe ngựa quý được thắng vào những con ngựa thuần chủng, đang đứng đó, với cây roi thúc đã đặt sẵn.
[Chú thích: Hình ảnh tương tự cũng có trong Kaṭha Upaniṣad.]
Một người huấn luyện ngựa khéo léo, một người đánh xe điều khiển ngựa thuần thục, trèo lên xe, tay trái cầm dây cương, tay phải cầm roi thúc, có thể cho xe chạy tới và lui theo ý muốn, bất cứ lúc nào.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với ai đã tu tập và làm cho sung mãn niệm thân, khi vị ấy hướng tâm đến một pháp cần chứng đạt bằng thắng trí, để chứng đạt pháp ấy bằng thắng trí, thì ngay tại đó vị ấy đạt được khả năng chứng thực, vì mỗi một pháp ấy đều nằm trong tầm với của niệm.
Này các tỳ-kheo, khi niệm thân được thực hành, tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe và nền tảng, được duy trì, được luyện tập thuần thục, được khéo khởi sự, thì có thể mong đợi mười lợi ích.
Vị ấy kham nhẫn được cả sự bất mãn lẫn sự vui thích; bất mãn không thể thắng được vị ấy, và khi bất mãn khởi lên, vị ấy sống sau khi đã vượt qua nó.
Vị ấy kham nhẫn được sự sợ hãi và kinh khiếp; sợ hãi và kinh khiếp không thể thắng được vị ấy, và khi sợ hãi kinh khiếp khởi lên, vị ấy sống sau khi đã vượt qua nó.
Vị ấy kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát; sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng và các loài bò sát; những lời nói thô ác, khó nghe, khó nhận; và đối với những cảm thọ nơi thân đã khởi lên — khổ, đau nhói, nhức nhối, chói buốt, không dễ chịu, không vừa ý, có thể cướp đi mạng sống — vị ấy có bản chất kham nhẫn chịu đựng.
Vị ấy đạt được bốn thiền-na — những trạng thái an trú lạc ngay trong đời này, thuộc về tâm cao thượng — khi muốn, không khó khăn, không mệt nhọc.
Vị ấy chứng nghiệm nhiều loại thần thông: khi thì một thân hóa thành nhiều thân, khi nhiều thân hóa thành một thân; hiện ra rồi ẩn mất; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi mà không bị cản, như đi trong hư không; trồi lên lặn xuống trong đất như trong nước; đi trên nước mà không chìm, như đi trên đất; ngồi kiết già bay đi trong hư không như con chim; chạm và xoa bằng bàn tay mặt trăng và mặt trời, những vị có thần lực lớn, uy lực lớn như vậy; và có thể dùng thân mình điều khiển cho đến cõi Phạm Thiên.
Với thiên nhĩ thanh tịnh, vượt hơn loài người, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, ở xa hay ở gần.
[Chú thích của người dịch: Câu này trong nguyên bản kết bằng dấu lược peyyāla, là lối tắt để chuyển sang loại thắng trí kế tiếp, không phải chỗ thiếu văn bản.]
Vị ấy biết tâm của các chúng sinh khác, các cá nhân khác, sau khi đã bao trùm bằng tâm của mình:
Vị ấy biết tâm có tham là 'tâm có tham',
và biết tâm không tham là 'tâm không tham'.
Vị ấy biết tâm có sân là 'tâm có sân',
và biết tâm không sân là 'tâm không sân'.
Vị ấy biết tâm có si là 'tâm có si',
và biết tâm không si là 'tâm không si'.
Vị ấy biết tâm co thắt là 'tâm co thắt',
và biết tâm tán loạn là 'tâm tán loạn'.
Vị ấy biết tâm rộng lớn là 'tâm rộng lớn',
và biết tâm không rộng lớn là 'tâm không rộng lớn'.
Vị ấy biết tâm có bậc trên là 'tâm có bậc trên',
và biết tâm không có bậc trên là 'tâm không có bậc trên'.
Vị ấy biết tâm định là 'tâm định',
và biết tâm không định là 'tâm không định'.
Vị ấy biết tâm giải thoát là 'tâm giải thoát',
và biết tâm không giải thoát là 'tâm không giải thoát'.
Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra. 'Tại nơi ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ và lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ nơi ấy chết đi, ta sinh ra ở nơi kia. Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ và lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ nơi kia chết đi, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước với các đặc điểm và chi tiết.
Với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, vị ấy thấy các chúng sinh đang chết đi và sinh lại — hạ liệt hay cao quý, đẹp đẽ hay xấu xí, sinh vào nơi lành hay nơi dữ — và biết các chúng sinh ấy đi theo nghiệp của mình.
Do lậu hoặc đã đoạn tận, vị ấy ngay trong đời này tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, chứng đạt và an trú tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát.
Này các tỳ-kheo, khi niệm thân được thực hành, tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe và nền tảng, được duy trì, được luyện tập thuần thục, được khéo khởi sự, thì có thể mong đợi mười lợi ích này.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Niệm Thân, bài thứ chín, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.