buppou

Trung Bộ Kinh · bài 120/152

Kinh Tái Sinh Theo Hành

Saṅkhārupapatti Sutta — bài kinh về tái sinh theo hành

20 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Tái Sinh Theo Hành (Saṅkhārupapatti Sutta) là bài kinh thứ 120 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bài cuối cùng của phẩm Anupada. Tên bài ghép từ saṅkhāra, nghĩa là hành, tức ý chí tạo tác, và upapatti, nghĩa là tái sinh. Nói gọn, bài kinh dạy cách một người đi tới đời sống sau theo đúng hướng mà tâm mình đã chọn và đã luyện.

Bối cảnh rất ngắn. Đức Thế Tôn đang ngụ tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Ngài gọi các tỳ-kheo đến và nói rằng Ngài sẽ giảng về tái sinh theo hành. Sau khi các tỳ-kheo thưa vâng, Ngài bắt đầu.

Phần chính của bài kinh lặp lại một khuôn giống nhau, chỉ thay chỗ đến. Một vị tỳ-kheo hội đủ năm phẩm chất — lòng tin, giới, nghe nhiều, xả thí, tuệ — rồi ước muốn được sinh vào một cõi nào đó. Vị ấy không dừng ở việc ước, mà đặt tâm vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, và tu tập tâm ấy. Kết quả là những hành và những an trú ấy đưa vị ấy tái sinh đúng nơi đã chọn. Danh sách đi từ thấp đến cao: những vua chúa, bà-la-môn và gia chủ giàu sang; sáu tầng trời của dục giới; các cõi Phạm Thiên từ một ngàn cho đến một trăm ngàn cõi thế giới; các cõi trời ánh sáng và cõi trời sắc đẹp; năm cõi Tịnh cư; rồi bốn cõi vô sắc.

Điều đáng chú ý là Đức Thế Tôn không hề nói rằng ước muốn tự nó làm ra kết quả. Năm phẩm chất kia mới là vốn liếng, còn ước nguyện chỉ là hướng vốn liếng ấy về một chỗ. Và việc tu tập tâm ở đây cũng không phải là nghĩ nhiều về điều mình muốn, mà là luyện cho tâm thật sự mang hình dáng của cõi ấy. Vì thế các cõi càng cao thì đòi hỏi càng sâu, đến mức các bản chú giải phải giải thích thêm rằng muốn sinh vào cõi Phạm Thiên thì phải có thiền-na tương ứng.

Cuối cùng, mục tiêu cao nhất không phải là một cõi tốt hơn. Sau khi đã đi hết thang bậc ấy, vị tỳ-kheo ước nguyện điều cuối cùng: do lậu hoặc đoạn tận, ngay trong đời này tự mình chứng đạt và an trú tâm giải thoát không còn lậu hoặc cùng tuệ giải thoát. Với người ấy, bài kinh kết bằng một câu ngắn: vị tỳ-kheo ấy không tái sinh ở đâu cả.

Với người chưa từng học Phật, bài kinh này có thể đọc như một bài nói về sức mạnh của thói quen tâm. Tâm được luyện đi luyện lại theo một hướng thì sẽ đi theo hướng ấy; còn khi tâm đã buông được mọi hướng, nó không còn phải đi đâu nữa. Bản dịch dưới đây giữ nguyên những đoạn lặp, vì ở bài kinh này chính sự lặp lại là cách dạy: mỗi lần lặp là một lần đổi cõi, và người đọc nghe được cả thang bậc đi lên trong đó.

[Chú thích của người dịch: Tên Pali ghép từ saṅkhāra (hành, ý chí tạo tác) và upapatti (tái sinh, sinh lên). Tái sinh theo hành là tái sinh theo đúng xu hướng tâm mà mình đã chọn và đã luyện.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này dạy cách một vị tỳ-kheo có thể chọn nơi mình sẽ tái sinh, khác với con đường thường được nói tới là cầu mong thoát khỏi mọi tái sinh. Ở những bài khác, tu tập vì mong được tái sinh bị xem là một ràng buộc, nhưng ở đây Đức Thế Tôn đi từ ước muốn những kiếp sống ngày càng vi tế đến chỗ buông bỏ tái sinh hoàn toàn.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông về tái sinh theo hành."

[Chú thích: Ở đây saṅkhāra mang nghĩa hành, tức ý chí tạo tác do tham, sân, si hoặc các pháp đối lập thúc đẩy, và tạo ra quả tương ứng với sức mạnh đạo đức ấy. Thường điều này diễn ra vô thức, nhưng người hiểu nghiệp thì biến nó thành lợi thế bằng cách chủ động nuôi dưỡng một ước nguyện. Upapatti là một trong nhiều từ Pali chỉ sự tái sinh, bên cạnh jāti, nibbatti, okkanti và punabbhava.]

"Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có xả thí, có tuệ.

[Chú thích: Ước nguyện tự nó không đủ, mà chỉ thành tựu khi người ấy đã có tiềm năng nghiệp để đạt được điều mình muốn. Trong bài kinh này, người ước nguyện là một vị tỳ-kheo; còn ở DN 33 và AN 8.35, các đoạn tương tự nói về tái sinh nhờ bố thí, ngụ ý người ước nguyện là cư sĩ.]

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ những vua chúa giàu sang.'

[Chú thích: Đoạn ước nguyện này cũng xuất hiện trong DN 33, MN 41 và AN 8.35.]

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

[Chú thích: An trú ở đây là vihārā, nghĩa đen là những chỗ trú, chỉ các trạng thái tâm được tu tập và duy trì.]

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có xả thí, có tuệ.

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ những bà-la-môn giàu sang.' Vị ấy nghĩ như vầy: 'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh

vào hàng ngũ những gia chủ giàu sang.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có xả thí, có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Chư thiên Cātumahārājika (Tứ đại thiên vương) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ chư thiên Cātumahārājika.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có xả thí, có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Chư thiên Tāvatiṁsa (Đao-lợi) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Yāma (Dạ-ma) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Tusita (Đâu-suất) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Nimmānaratī (Hóa lạc) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Paranimmitavasavattī (Tha hóa tự tại) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ chư thiên Paranimmitavasavattī.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có xả thí, có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Vị Phạm Thiên của một ngàn cõi sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Này các tỳ-kheo, vị Phạm Thiên của một ngàn cõi tỏa khắp một ngàn cõi thế giới, hướng tâm vào đó và an trú.

[Chú thích: Bản Pali không nói rõ tỏa khắp nghĩa là gì, nhưng có lẽ đó là bốn vô lượng tâm, vốn được mô tả là được rải ra hay tỏa khắp trong các kinh khác.]

Những chúng sinh nào đã tái sinh tại đó, vị Phạm Thiên ấy cũng tỏa khắp, hướng tâm vào đó và an trú.

Này các tỳ-kheo, ví như một người có mắt sáng đặt một quả āmaṇḍa (một loại quả nhỏ, tròn, vỏ cứng) vào lòng bàn tay rồi xem xét;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị Phạm Thiên của một ngàn cõi tỏa khắp một ngàn cõi thế giới, hướng tâm vào đó và an trú.

Những chúng sinh nào đã tái sinh tại đó, vị Phạm Thiên ấy cũng tỏa khắp, hướng tâm vào đó và an trú.

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ vị Phạm Thiên của một ngàn cõi.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

[Chú thích: Đoạn này đặt ra câu hỏi vì sao một sự suy niệm như vậy lại dẫn đến tái sinh trong các cõi Phạm Thiên, nơi thường đòi phải đạt được thiền-na. Có thể hiểu đoạn này theo cách tu tập sáu tùy niệm: một trong số đó là niệm chư thiên, nhớ rằng chư thiên và Phạm Thiên cũng tái sinh nhờ lòng tin, giới, nghe nhiều, xả thí và tuệ, đúng những phẩm chất được nói ở đây. Vì vậy cụm cittaṁ bhāveti không chỉ là nuôi dưỡng ý nghĩ về ước nguyện, mà là tu tập tâm, hàm ý thiền định sâu.]

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Vị Phạm Thiên của hai ngàn cõi sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

vị Phạm Thiên của ba ngàn cõi sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

vị Phạm Thiên của bốn ngàn cõi sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

vị Phạm Thiên của năm ngàn cõi sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Này các tỳ-kheo, vị Phạm Thiên của năm ngàn cõi tỏa khắp năm ngàn cõi thế giới, hướng tâm vào đó và an trú.

Những chúng sinh nào đã tái sinh tại đó, vị Phạm Thiên ấy cũng tỏa khắp, hướng tâm vào đó và an trú.

Này các tỳ-kheo, ví như một người có mắt sáng đặt năm quả āmaṇḍa vào lòng bàn tay rồi xem xét;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị Phạm Thiên của năm ngàn cõi tỏa khắp năm ngàn cõi thế giới, hướng tâm vào đó và an trú.

Những chúng sinh nào đã tái sinh tại đó, vị Phạm Thiên ấy cũng tỏa khắp, hướng tâm vào đó và an trú.

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ vị Phạm Thiên của năm ngàn cõi.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Vị Phạm Thiên của mười ngàn cõi sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Này các tỳ-kheo, vị Phạm Thiên của mười ngàn cõi tỏa khắp mười ngàn cõi thế giới, hướng tâm vào đó và an trú.

Những chúng sinh nào đã tái sinh tại đó, vị Phạm Thiên ấy cũng tỏa khắp, hướng tâm vào đó và an trú.

Này các tỳ-kheo, ví như một viên ngọc veḷuriya đẹp, tự nhiên trong sáng, tám cạnh, được mài giũa khéo léo, khi đặt trên một tấm nệm len màu vàng nhạt thì sáng lên, tỏa sáng và rực rỡ;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị Phạm Thiên của mười ngàn cõi tỏa khắp mười ngàn cõi thế giới, hướng tâm vào đó và an trú.

Những chúng sinh nào đã tái sinh tại đó, vị Phạm Thiên ấy cũng tỏa khắp, hướng tâm vào đó và an trú.

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ vị Phạm Thiên của mười ngàn cõi.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới,

vị ấy có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Vị Phạm Thiên của một trăm ngàn cõi sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Này các tỳ-kheo, vị Phạm Thiên của một trăm ngàn cõi tỏa khắp một trăm ngàn cõi thế giới, hướng tâm vào đó và an trú.

Những chúng sinh nào đã tái sinh tại đó, vị Phạm Thiên ấy cũng tỏa khắp, hướng tâm vào đó và an trú.

Này các tỳ-kheo, ví như một chiếc vòng vàng sông Jambu, do một người thợ vàng khéo tay nấu chảy trong lò và rèn giũa thật kỹ, khi đặt trên một tấm nệm len màu vàng nhạt thì sáng lên, tỏa sáng và rực rỡ;

[Chú thích: Tương truyền trên sườn núi Meru mọc một cây jambu khổng lồ, quả to như con voi, và nước ép của nó chảy thành con sông Jambu. Bùn khô của con sông ấy cho ra những hạt vàng có ánh sáng đẹp lạ thường mà chư thiên rất ưa chuộng, và đây chính là thứ vàng ấy.]

cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị Phạm Thiên của một trăm ngàn cõi tỏa khắp một trăm ngàn cõi thế giới, hướng tâm vào đó và an trú.

Những chúng sinh nào đã tái sinh tại đó, vị Phạm Thiên ấy cũng tỏa khắp, hướng tâm vào đó và an trú.

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ vị Phạm Thiên của một trăm ngàn cõi.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới,

vị ấy có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Chư thiên Ābhā (Quang thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Parittābhā (Thiểu quang thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Appamāṇābhā (Vô lượng quang thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Ābhassarā (Quang âm thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ chư thiên Ābhassarā.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới,

vị ấy có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Chư thiên Parittasubhā (Thiểu tịnh thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Appamāṇasubhā (Vô lượng tịnh thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Subhakiṇhā (Biến tịnh thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ chư thiên Subhakiṇhā.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới,

vị ấy có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Chư thiên Vehapphalā (Quảng quả thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Avihā (Vô phiền thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Atappā (Vô nhiệt thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Sudassā (Thiện hiện thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Sudassī (Thiện kiến thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc;

chư thiên Akaniṭṭhā (Sắc cứu cánh thiên) sống lâu, xinh đẹp, nhiều an lạc.'

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ chư thiên Akaniṭṭhā.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới,

vị ấy có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Chư thiên đã sinh vào cõi Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatana) sống lâu, tồn tại lâu, nhiều an lạc.'

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ chư thiên đã sinh vào cõi Không vô biên xứ.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới,

vị ấy có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Chư thiên đã sinh vào cõi Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatana) sống lâu, tồn tại lâu, nhiều an lạc.'

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ chư thiên đã sinh vào cõi Thức vô biên xứ.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới,

vị ấy có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghe rằng:

'Chư thiên đã sinh vào cõi Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatana) sống lâu, tồn tại lâu, nhiều an lạc;

chư thiên đã sinh vào cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana) sống lâu, tồn tại lâu, nhiều an lạc.'

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì khi thân này tan rã, sau khi chết, tôi được tái sinh vào hàng ngũ chư thiên đã sinh vào cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ.'

Vị ấy đặt tâm ấy vào đó, làm cho tâm ấy vững chắc, tu tập tâm ấy.

Những hành và những an trú của vị ấy, khi được tu tập như vậy và làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Này các tỳ-kheo, đây là con đường, đây là cách thực hành đưa đến tái sinh tại nơi ấy.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có lòng tin, có giới,

vị ấy có nghe nhiều,

vị ấy có xả thí,

vị ấy có tuệ.

Vị ấy nghĩ như vầy:

'Ước gì tôi, khi lậu hoặc đã đoạn tận, ngay trong đời này tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, chứng đạt và an trú tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát.'

Do lậu hoặc đã đoạn tận, vị ấy ngay trong đời này tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, chứng đạt và an trú tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát.

[Chú thích: Cũng như tái sinh vào các cõi trời cao hơn hàm ý đã đạt được tầng thiền-na tương ứng, sự không còn tái sinh hàm ý trọn vẹn con đường thánh tám chi phần.]

"Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy không tái sinh ở đâu cả."

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Tái Sinh Theo Hành, bài thứ mười, đã hoàn thành.

Phẩm Anupada, phẩm thứ hai, đã hoàn thành.

[Chú thích của người dịch: Phẩm Anupada là phẩm thứ mười hai của Trung Bộ Kinh, nhưng đứng thứ hai trong phần Năm Mươi Bài Cuối (Uparipaṇṇāsa), nên bản Pali ghi là phẩm thứ hai.]


38. Kệ tóm tắt phẩm

[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt phẩm Anupada, phẩm gồm mười bài từ bài 111 đến bài 120. Mỗi cụm từ là một từ khóa để nhớ tên bài, nên các tên riêng được giữ nguyên dạng Pali.]

Anupada, Sodhana, Porisadhamma,

Sevitabba, Bahudhātu Vibhatti;

Buddhassa kittināma, Cattārīsena,

Ānāpāna, Kāyagata, Upapatti.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →