Trung Bộ Kinh · bài 121/152
Tiểu Kinh Không
Cūḷasuññata Sutta — bài kinh ngắn về sự trống không
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Tiểu Kinh Không (Cūḷasuññata Sutta) là bài kinh thứ 121 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), tập kinh gồm 152 bài trong Kinh tạng Pali. Chữ "không" trong tên bài không có nghĩa là hư vô, cũng không phải lời phủ nhận đời sống. Nó là một cách nói rất cụ thể: một vật trống không về một cái gì đó. Cả bài kinh là một chuỗi ví dụ và lập luận để làm rõ nghĩa ấy.
Bối cảnh là Sāvatthī (Xá-vệ), vào buổi chiều. Tôn giả Ānanda (A-nan) từ chỗ độc cư bước ra, đến đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi hỏi lại một câu Ngài đã nói trước đó: hiện nay Ngài thường an trú nhiều trong sự trống không, và Ānanda có nghe đúng, hiểu đúng hay không. Đức Thế Tôn xác nhận rằng Ānanda đã nghe khéo, đã giữ khéo, rồi từ đó dẫn ông đi qua từng nấc của phép quán ấy.
Ví dụ mở đầu là tòa lầu của mẹ Migāra (Lộc Tử Mẫu) — nơi hôm ấy đang có mặt Tăng đoàn. Tòa lầu ấy trống không về voi, bò, ngựa, trống không về vàng bạc, trống không về đám đông đàn ông đàn bà. Nhưng nó không trống không hoàn toàn, vì trong đó có các tỳ-kheo. Thành ra câu hỏi luôn phải đi thành cặp: trống không về cái gì, và còn lại cái gì? Đó là chìa khóa để đọc trọn bài kinh.
Từ cách nhìn ấy, bài kinh dựng lên một thang bậc. Hành giả lần lượt buông tri giác về làng, về người, về rừng, rồi đến tri giác về đất, rồi bốn tầng thiền vô sắc — Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ — và cuối cùng là định tâm không tướng. Ở mỗi nấc, cái thô hơn lắng xuống, cái tinh tế hơn hiện ra, và vị ấy ghi nhận thật đúng: chỗ này trống không về cái kia, chỗ này còn lại cái này.
Nấc cuối cùng không phải là đích. Vị ấy quay lại nhìn chính định tâm không tướng ấy và thấy nó cũng do các hành tạo tác mà thành, nên vô thường, có bản chất diệt. Từ cái thấy ấy, tâm được giải thoát khỏi ba lậu hoặc. Bài kinh khép lại bằng lời dạy hãy chứng và an trú sự trống không trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn — một sự trống không mà trong đó vẫn còn thân này, sáu xứ giác quan này và mạng sống này.
Với người chưa từng học đạo, bài kinh này đáng đọc vì nó không đòi tin trước điều gì. Nó chỉ mời ghé mắt nhìn xem, trong một khung cảnh quen thuộc, cái gì đang có và cái gì đang vắng, rồi nhận xét cho đúng. Sự lặp lại dày đặc ở nhiều đoạn là cố ý: mỗi lần lặp là một lần bước lên một nấc, và bản Pali cũng lặp đúng như vậy, nên bản dịch giữ nguyên.
[Chú thích của người dịch: Tên Pali ghép từ cūḷa (nhỏ, ngắn) và suññatā (sự trống không). Bài kinh cùng đề tài nhưng dài hơn là Mahāsuññata, tức Đại Kinh Không, bài 122.]
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh này đưa ra một cách thiền về sự trống không rất riêng: lấy tri giác về cái trống không tương đối làm nền tảng cho thiền định. Trong kinh tạng Pali, sự trống không không giữ vai trò trung tâm như về sau này, có lẽ một phần vì các bộ phái thời kỳ đầu phát triển giáo lý theo những hướng khác nhau. Những đoạn Pali nói về vô thường, khổ, vô ngã thì trong bản tương ứng của (Mūla-)Sarvāstivāda thường có thêm cả sự trống không, nhưng điều đó không hề mâu thuẫn, vì sự trống không được giải thích là vô ngã.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong khu vườn phía đông (Pubbārāma), tại tòa lầu của mẹ Migāra (Lộc Tử Mẫu).
Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Ānanda (A-nan) từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, Tôn giả đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú ở xứ của người Sakya (Thích-ca), tại một thị trấn của người Sakya tên là Nagaraka.
Ở đó, bạch Thế Tôn, con đã nghe và thọ nhận trực tiếp từ Đức Thế Tôn:
[Chú thích: "Nghe và thọ nhận trực tiếp" (sammukhā sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ) là cách nói dùng trong kinh khi thuật lại một lời dạy nghe tận tai từ Đức Thế Tôn, chẳng hạn ở SN 55.52:5.1, SN 22.90:9.1 hay MN 47:10.7.]
'Này Ānanda, hiện nay Ta thường an trú nhiều trong sự trống không.'
[Chú thích: Điều này cũng được Sāriputta nói ở MN 151:2.3, và Đức Thế Tôn nhân đó khuyên ông phản tỉnh về sự trong sạch của thức ăn khất thực. Trước Kết tập lần thứ hai, trưởng lão Sabbakāmī cũng cho biết sự trống không là pháp tu chính của mình (Kd 22:2.5.9), còn tỳ-kheo-ni Uttamā ở Thig 3.3:2.1 cũng nhận mình tu thiền về sự trống không; giải thoát nhờ sự trống không được xếp cùng với thiền-na là một thành tựu siêu phàm (Bu Pj 4:4.1.6). Ở MN 43:33.1 = SN 41.7:4.1, "sự giải thoát tâm nhờ sự trống không" được giải thích là một sự quán chiếu về vô ngã.]
Bạch Thế Tôn, phải chăng con đã nghe khéo, đã nắm khéo, đã tác ý khéo và đã ghi nhớ khéo điều ấy?
[Chú thích: Hãy để ý cách học giáo pháp ở đây: phải chủ động tham gia vào. Chỉ nghe thôi mới là bước đầu.]
Đúng thế, này Ānanda, ông đã nghe khéo, đã nắm khéo, đã tác ý khéo và đã ghi nhớ khéo điều ấy.
Này Ānanda, cả trước đây lẫn hiện nay, Ta đều thường an trú nhiều trong sự trống không.
Này Ānanda, ví như tòa lầu của mẹ Migāra đây trống không về voi, bò, ngựa và ngựa cái; trống không về vàng bạc; trống không về đám đông đàn ông và đàn bà. Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
[Chú thích: Sự trống không ở đây không phải một thuộc tính siêu hình, mà là một trạng thái tương đối: một cái gì đó trống không về một cái gì đó.]
sự nhất thể nương vào Tăng đoàn tỳ-kheo.
[Chú thích: Nhất thể (ekatta), cũng như sự trống không, là một khái niệm tương đối. Những gì gây xao lãng và cám dỗ nhiều hơn đã vắng mặt, chỉ còn lại phần an tĩnh hơn.]
Cũng vậy, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tri giác về làng, không để tâm đến tri giác về người, mà để tâm đến sự nhất thể nương vào tri giác về rừng.
Tâm vị ấy phóng vào tri giác về rừng, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về tri giác ấy.
Vị ấy hiểu như vầy:
"Những bức bối nào do tri giác về làng mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do tri giác về người mà có, ở đây đều không có. Chỉ còn đúng chút bức bối này, đó là:
[Chú thích: "Bức bối" là darathā.]
sự nhất thể nương vào tri giác về rừng."
Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác làng." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác người." Và vị ấy hiểu: "Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về rừng."
Như vậy, về cái gì không có ở đó, vị ấy nhận ra nơi ấy trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu: "Cái này đang có mặt."
[Chú thích: Nói cách khác, sự trống không chỉ được gọi là trong sạch không phải vì mọi thứ đều trống không, mà vì cái gì trống không thì được nhận ra đúng là trống không.]
Như vậy, này Ānanda, vị ấy có được một sự nhập vào sự trống không chân thật, không méo mó, trong sạch.
Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tri giác về người, không để tâm đến tri giác về rừng, mà để tâm đến sự nhất thể nương vào tri giác về đất.
Tâm vị ấy phóng vào tri giác về đất, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về tri giác ấy.
Này Ānanda, ví như một tấm da bò đực được căng thật phẳng bằng trăm cái cọc, mọi nếp nhăn đều biến mất;
cũng vậy, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tất cả những chỗ gồ ghề lồi lõm của mặt đất này — những miền sông sâu khó vượt, những nơi đầy gốc cây và gai nhọn, những núi non hiểm trở — mà để tâm đến sự nhất thể nương vào tri giác về đất.
[Chú thích: Tri giác về đất ở đây là một hình ảnh nội tâm đã được lý tưởng hoá. Đó chính là "sắc" (rūpa) làm nền cho "thiền-na với sắc" (rūpajjhāna). Các bản chú giải gọi hình ảnh ấy là nimitta, tức "tướng".]
Tâm vị ấy phóng vào tri giác về đất, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về tri giác ấy.
Vị ấy hiểu như vầy:
"Những bức bối nào do tri giác về người mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do tri giác về rừng mà có, ở đây đều không có. Chỉ còn đúng chút bức bối này, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về đất."
Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác người." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác rừng." Và vị ấy hiểu: "Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về đất."
Như vậy, về cái gì không có ở đó, vị ấy nhận ra nơi ấy trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu: "Cái này đang có mặt."
Như vậy, này Ānanda, vị ấy có được một sự nhập vào sự trống không chân thật, không méo mó, trong sạch.
Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tri giác về rừng, không để tâm đến tri giác về đất, mà để tâm đến sự nhất thể nương vào tri giác về Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatana).
[Chú thích: Hành giả chuyển từ pháp tu nương vào một khía cạnh của "sắc" (rūpa) — tức hình ảnh đất đã được lý tưởng hoá, nền tảng của bốn tầng thiền-na — sang các tầng thiền vô sắc.]
Tâm vị ấy phóng vào tri giác về Không vô biên xứ, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về tri giác ấy.
Vị ấy hiểu như vầy:
"Những bức bối nào do tri giác về rừng mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do tri giác về đất mà có, ở đây đều không có. Chỉ còn đúng chút bức bối này, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về Không vô biên xứ."
Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác rừng." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác đất." Và vị ấy hiểu: "Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về Không vô biên xứ."
Như vậy, về cái gì không có ở đó, vị ấy nhận ra nơi ấy trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu: "Cái này đang có mặt."
Như vậy, này Ānanda, vị ấy có được một sự nhập vào sự trống không chân thật, không méo mó, trong sạch.
Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tri giác về đất, không để tâm đến tri giác về Không vô biên xứ, mà để tâm đến sự nhất thể nương vào tri giác về Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatana).
Tâm vị ấy phóng vào tri giác về Thức vô biên xứ, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về tri giác ấy.
Vị ấy hiểu như vầy:
"Những bức bối nào do tri giác về đất mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do tri giác về Không vô biên xứ mà có, ở đây đều không có. Chỉ còn đúng chút bức bối này, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về Thức vô biên xứ."
Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác đất." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác Không vô biên xứ." Và vị ấy hiểu: "Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về Thức vô biên xứ."
Như vậy, về cái gì không có ở đó, vị ấy nhận ra nơi ấy trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu: "Cái này đang có mặt."
Như vậy, này Ānanda, vị ấy có được một sự nhập vào sự trống không chân thật, không méo mó, trong sạch.
Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tri giác về Không vô biên xứ, không để tâm đến tri giác về Thức vô biên xứ, mà để tâm đến sự nhất thể nương vào tri giác về Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatana).
Tâm vị ấy phóng vào tri giác về Vô sở hữu xứ, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về tri giác ấy.
Vị ấy hiểu như vầy:
"Những bức bối nào do tri giác về Không vô biên xứ mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do tri giác về Thức vô biên xứ mà có, ở đây đều không có. Chỉ còn đúng chút bức bối này, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về Vô sở hữu xứ."
Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác Không vô biên xứ." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác Thức vô biên xứ." Và vị ấy hiểu: "Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về Vô sở hữu xứ."
Như vậy, về cái gì không có ở đó, vị ấy nhận ra nơi ấy trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu: "Cái này đang có mặt."
Như vậy, này Ānanda, vị ấy có được một sự nhập vào sự trống không chân thật, không méo mó, trong sạch.
Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tri giác về Thức vô biên xứ, không để tâm đến tri giác về Vô sở hữu xứ, mà để tâm đến sự nhất thể nương vào tri giác về Phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana).
Tâm vị ấy phóng vào tri giác về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về tri giác ấy.
Vị ấy hiểu như vầy:
"Những bức bối nào do tri giác về Thức vô biên xứ mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do tri giác về Vô sở hữu xứ mà có, ở đây đều không có. Chỉ còn đúng chút bức bối này, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về Phi tưởng phi phi tưởng xứ."
Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác Thức vô biên xứ." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác Vô sở hữu xứ." Và vị ấy hiểu: "Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
sự nhất thể nương vào tri giác về Phi tưởng phi phi tưởng xứ."
Như vậy, về cái gì không có ở đó, vị ấy nhận ra nơi ấy trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu: "Cái này đang có mặt."
Như vậy, này Ānanda, vị ấy có được một sự nhập vào sự trống không chân thật, không méo mó, trong sạch.
Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tri giác về Vô sở hữu xứ, không để tâm đến tri giác về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, mà để tâm đến sự nhất thể nương vào định tâm không tướng (animitta cetosamādhi).
[Chú thích: Nét đặc trưng của "định tâm không tướng" là thức không chạy theo tướng (nimittānusāri viññāṇaṁ). MN 138:10.2 giải thích đó là không bị những nét đặc trưng của cảm giác chi phối, vì "tướng" là do tham, sân, si tạo ra. Tự nó, định ấy không nhất thiết chứng tỏ đã giác ngộ, và hạnh kiểm tốt vẫn còn cần cho sự tiến bộ; Moggallāna đã tu tập nó trước khi giác ngộ, và định này cũng có thể dùng để mô tả thiền của một bậc A-la-hán.]
Tâm vị ấy phóng vào định tâm không tướng, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về định ấy.
Vị ấy hiểu như vầy:
"Những bức bối nào do tri giác về Vô sở hữu xứ mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do tri giác về Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà có, ở đây đều không có. Chỉ còn đúng chút bức bối này, đó là:
cái thuộc sáu xứ giác quan, nương vào chính thân này và do mạng sống làm điều kiện."
[Chú thích: Khác với thiền-na sâu, nơi không còn cảm nhận về thân xác, định không tướng là trạng thái tuệ quán cao độ, trong đó sáu giác quan được thấy đúng như chúng là. Vì thế đây là cách Đức Thế Tôn làm dịu các cơn đau tuổi già (DN 16:2.25.13). Có vẻ trong trạng thái ấy, Ngài vẫn sinh hoạt bình thường mà nhìn thấu cơn đau nơi thân.]
Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác Vô sở hữu xứ." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về tri giác Phi tưởng phi phi tưởng xứ." Và vị ấy hiểu: "Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
cái thuộc sáu xứ giác quan, nương vào chính thân này và do mạng sống làm điều kiện."
Như vậy, về cái gì không có ở đó, vị ấy nhận ra nơi ấy trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu: "Cái này đang có mặt."
Như vậy, này Ānanda, vị ấy có được một sự nhập vào sự trống không chân thật, không méo mó, trong sạch.
Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo không để tâm đến tri giác về Vô sở hữu xứ, không để tâm đến tri giác về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, mà để tâm đến sự nhất thể nương vào định tâm không tướng.
Tâm vị ấy phóng vào định tâm không tướng, tin tưởng, an trú và hướng hẳn về định ấy.
Vị ấy hiểu như vầy:
"Chính định tâm không tướng này cũng do các hành tạo tác mà thành, do tâm cố ý mà thành."
[Chú thích: Tuệ giải thoát phát sinh từ chính cái thấy đối với trạng thái định không tướng, nghĩa là cái thấy đối với chính cái thấy.]
Vị ấy hiểu: "Nhưng phàm cái gì do các hành tạo tác mà thành, do tâm cố ý mà thành, thì cái ấy là vô thường, có bản chất đoạn diệt."
Khi vị ấy biết như vậy và thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về dục, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về hữu, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về vô minh.
Nơi vị ấy đã giải thoát, khởi lên trí biết rằng: "Đã giải thoát."
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'
Vị ấy hiểu như vầy:
"Những bức bối nào do lậu hoặc về dục mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do lậu hoặc về hữu mà có, ở đây đều không có; những bức bối nào do lậu hoặc về vô minh mà có, ở đây đều không có. Chỉ còn đúng chút bức bối này, đó là:
cái thuộc sáu xứ giác quan, nương vào chính thân này và do mạng sống làm điều kiện."
Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về lậu hoặc dục." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về lậu hoặc hữu." Vị ấy hiểu: "Miền tri giác này trống không về lậu hoặc vô minh." Và vị ấy hiểu: "Chỉ còn đúng một điều là không trống không, đó là:
[Chú thích: "Miền tri giác" (saññāgataṁ) là phạm vi của sự nhận biết.]
cái thuộc sáu xứ giác quan, nương vào chính thân này và do mạng sống làm điều kiện."
Như vậy, về cái gì không có ở đó, vị ấy nhận ra nơi ấy trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu: "Cái này đang có mặt."
Như vậy, này Ānanda, vị ấy có được một sự nhập vào sự trống không chân thật, không méo mó, trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn.
Này Ānanda, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã chứng và an trú sự trống không trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn, thì tất cả những vị ấy đều đã chứng và an trú chính sự trống không trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn này.
[Chú thích: Ở đây sự trống không được gọi là "tối thượng" (anuttara). Trong kinh Pali thời kỳ đầu, Niết-bàn không được mô tả là trống không hay vô ngã, vì đó là thuộc tính của con đường. Đoạn này có lẽ là chỗ gần nhất với cách nói ấy, nhưng ngay cả ở đây cũng chỉ là tương đối, vì thân và mạng sống vẫn còn.]
Này Ānanda, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời vị lai sẽ chứng và an trú sự trống không trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn, thì tất cả những vị ấy đều sẽ chứng và an trú chính sự trống không trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn này.
Này Ānanda, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời hiện tại đang chứng và an trú sự trống không trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn, thì tất cả những vị ấy đều đang chứng và an trú chính sự trống không trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn này.
Vì vậy, này Ānanda, các ông hãy học như vầy: "Chúng ta sẽ chứng và an trú sự trống không trong sạch, tối thượng, không gì cao hơn."
Này Ānanda, các ông phải học đúng như vậy.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Tiểu Kinh Không, bài thứ nhất, đã hoàn tất.
[Chú thích của người dịch: "Bài thứ nhất" là cách đánh số trong phẩm, không phải số 121 của Trung Bộ Kinh.]
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.