Trung Bộ Kinh · bài 122/152
Đại Kinh Không
Mahāsuññata Sutta — bài kinh lớn về không tánh
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Đại Kinh Không (Mahāsuññata Sutta) là bài kinh thứ 122 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), tập kinh gồm 152 bài trong Kinh tạng Pali. Chữ suññata trong tên bài có nghĩa là không tánh, tức trạng thái trống rỗng; mahā là lớn. Bài này đứng ngay sau Tiểu Kinh Không, nên người xưa gọi đây là bài lớn trong cặp bài về không tánh.
Bài kinh mở đầu ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), quê hương của dòng Sakya. Buổi sáng, Đức Thế Tôn vào thành khất thực, ăn xong thì ghé một tịnh xá để nghỉ ban ngày và thấy nhiều chỗ nằm được trải sẵn. Ngài hỏi Tôn giả Ānanda (A-nan) vì sao nơi đây đông người ở. Ānanda thưa rằng đó là mùa may y, các tỳ-kheo đang tụ lại để may vá. Từ chỗ ấy, bài kinh đi thẳng vào một câu hỏi: một người còn ưa tụ họp đông đúc thì có thể đạt được những tầng an lạc sâu kín hay không?
Phần giáo lý chính nói rằng an lạc của sự xuất ly, của viễn ly, của an tịnh và của giác ngộ chỉ đến được với người sống một mình, lìa đám đông. Rồi bài kinh trình bày một lối tu tuần tự: trước hết làm tâm lắng yên bằng bốn tầng thiền-na, sau đó tác ý đến không tánh bên trong, bên ngoài, rồi cả hai, và cuối cùng là sự bất động. Điểm đáng chú ý là người tu không tự cho rằng mình đã thành tựu; mỗi lần tâm không chịu an trú, vị ấy biết rõ là tâm không an trú, quay lại với đề mục cũ, và tiếp tục. Bài kinh gọi cái biết rõ ấy là tỉnh giác.
Nửa sau bài kinh là một cảnh báo. Một vị thầy nổi tiếng vì sống nơi thanh vắng có thể bị người ta tìm đến nhiều quá, rồi mê đắm sự đông đúc và đánh mất đường tu. Đệ tử noi gương thầy cũng có thể rơi vào cùng cái bẫy ấy. Nguy hiểm nhất là người đã bước vào đời sống phạm hạnh mà vẫn quay lại với sự đông đúc, vì cái mất ấy khó cứu hơn hai trường hợp trước. Đức Thế Tôn kết thúc bằng lời nhắn giản dị: hãy đối xử với Ngài như bạn, đừng như kẻ thù, nghĩa là hãy nghe, hiểu và làm theo.
Bốn câu cuối là hình ảnh người thợ gốm. Đức Thế Tôn nói Ngài sẽ không chiều chuộng các tỳ-kheo như người thợ gốm chiều những chiếc nồi còn ướt; Ngài sẽ nói thẳng, uốn nắn, nhắc đi nhắc lại, vì chỉ phần cốt lõi mới đứng vững. Với người chưa học Phật, bài kinh này có thể đọc như một lời nhắc rất đời thường: muốn có điều gì sâu kín thì phải bớt ồn ào, và người dạy thật lòng thường là người không nuông chiều mình.
[Chú thích của người dịch: mahā là lớn, suññata là không tánh, tức trạng thái trống rỗng. Bài này đứng sau bài 121, Tiểu Kinh Không, nên bản Pali ghi đây là bài thứ hai trong cặp.]
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Cũng như bài trước, bài kinh này gắn không tánh với sự sống viễn ly nơi thân và với việc tu tập chỉ, tức sự lắng dịu của tâm, để dẫn đến quán.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang trú giữa dân chúng Sakya (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong tịnh xá Nigrodha (vườn cây đa).
Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát và y, đi vào Kapilavatthu để khất thực.
Sau khi đi khất thực trong Kapilavatthu, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, Ngài đi đến tịnh xá của Kāḷakhemaka, người Sakya, để nghỉ ban ngày.
[Chú thích: Kāḷakhemaka, người Sakya, nổi tiếng vì nước da ngăm, và Ghaṭā không được nhắc đến ở chỗ nào khác. Theo chú giải, các "tịnh xá" mang tên họ không phải nhà riêng mà là những căn nhà họ dâng cúng để Tăng đoàn dùng, nằm trong vườn Nigrodha.]
Lúc bấy giờ, tại tịnh xá của Kāḷakhemaka, người Sakya, nhiều chỗ nghỉ đã được trải sẵn.
[Chú thích: Việc Ngài thấy rõ các chỗ nghỉ cho thấy chúng được trải ngoài trời, và bản Tây Tạng song song xác nhận điều này. Chăn đệm và đồ dùng vốn thuộc Tăng đoàn chứ không của riêng ai, nên để chúng phơi mưa nắng là một lỗi.]
Đức Thế Tôn thấy nhiều chỗ nghỉ đã được trải sẵn tại tịnh xá của Kāḷakhemaka, người Sakya.
Thấy vậy, Đức Thế Tôn khởi lên ý nghĩ:
'Nhiều chỗ nghỉ đã được trải sẵn tại tịnh xá của Kāḷakhemaka, người Sakya.
Phải chăng có nhiều tỳ-kheo đang trú ở đây?'
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda (A-nan) cùng với nhiều tỳ-kheo đang may y tại tịnh xá của Ghaṭā, người Sakya.
[Chú thích: Có bản dịch đọc tên này là giống đực, nhưng các bản Pali và chú giải đều ghi ghaṭāya, dạng sở hữu cách giống nữ, nên người dâng cúng căn nhà này là một phụ nữ. Có lẽ bà sinh dưới chòm sao Kumbha, tức Bảo Bình, mà tiếng Ấn Độ gọi là "cái ghè nước".]
Rồi vào buổi chiều, Đức Thế Tôn từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến tịnh xá của Ghaṭā, người Sakya. Đến nơi, Ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn.
Ngồi xuống rồi, Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda:
Này Ānanda, nhiều chỗ nghỉ đã được trải sẵn tại tịnh xá của Kāḷakhemaka, người Sakya.
Phải chăng có nhiều tỳ-kheo đang trú ở đó?
"Bạch Thế Tôn, nhiều chỗ nghỉ đã được trải sẵn tại tịnh xá của Kāḷakhemaka, người Sakya.
Nhiều tỳ-kheo đang trú ở đó.
Bạch Thế Tôn, hiện nay chúng con đang trong mùa may y."
[Chú thích: Đây là thời gian sau mùa an cư, khi người tại gia dâng vải trong lễ kaṭhina và chư tăng bận rộn may vá, sửa sang y áo trước khi lên đường du hành.]
Này Ānanda, tỳ-kheo ưa tụ họp đông người, thích tụ họp, chuyên tâm vào thú vui tụ họp, ưa bè đảng, thích bè đảng, vui với bè đảng thì không sáng đẹp.
Này Ānanda, một tỳ-kheo ưa tụ họp đông người, thích tụ họp, chuyên tâm vào thú vui tụ họp, ưa bè đảng, thích bè đảng, vui với bè đảng mà lại có thể đạt được lạc xuất ly, lạc viễn ly, lạc an tịnh, lạc giác ngộ ấy bất cứ khi nào muốn, một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc — điều ấy không thể xảy ra.
[Chú thích: Bốn thứ lạc này được định nghĩa ở MN 139:9.18 là bốn tầng thiền-na.]
Còn với tỳ-kheo sống một mình, xa lìa đám đông, thì có thể chờ đợi điều này: vị ấy sẽ đạt được lạc xuất ly, lạc viễn ly, lạc an tịnh, lạc giác ngộ ấy bất cứ khi nào muốn, một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc. Điều ấy có thể xảy ra.
Này Ānanda, một tỳ-kheo ưa tụ họp đông người, thích tụ họp, chuyên tâm vào thú vui tụ họp, ưa bè đảng, thích bè đảng, vui với bè đảng mà lại chứng đạt và an trú tâm giải thoát tạm thời và khả ái, hoặc tâm giải thoát không tạm thời và bất động — điều ấy không thể xảy ra.
[Chú thích: Tâm giải thoát tạm thời và khả ái là các tầng thiền-na; tâm giải thoát không tạm thời và bất động là quả A-la-hán.]
Còn với tỳ-kheo sống một mình, xa lìa đám đông, thì có thể chờ đợi điều này: vị ấy sẽ chứng đạt và an trú tâm giải thoát tạm thời và khả ái, hoặc tâm giải thoát không tạm thời và bất động. Điều ấy có thể xảy ra.
Này Ānanda, ta không thấy một sắc nào mà, khi sắc ấy biến đổi và trở thành khác đi, lại không làm khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não nơi người đã tham đắm và say mê nó.
[Chú thích: Ở đây rūpa nên hiểu là sắc do mắt nhận biết, tức hình sắc, chứ không phải thân; những đoạn dùng lối nói tương tự cũng mang nghĩa này.]
Này Ānanda, thiền trú này đã được Như Lai chứng ngộ, đó là:
chứng đạt và an trú không tánh bên trong bằng cách không tác ý đến mọi tướng.
[Chú thích: Thường không tánh và vô tướng được trình bày như hai phép tu riêng. Nhưng ở bài trước, phép tu vô tướng là một chặng trong sự hiển lộ của không tánh, và kết quả của nó là tâm trống rỗng tham, sân, si.]
Này Ānanda, nếu trong khi Như Lai an trú trong thiền trú này, có các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, các vua, các đại thần của vua, các du sĩ ngoại đạo và đệ tử ngoại đạo đến thăm Ngài,
[Chú thích: Tittha nghĩa đen là "bến đò", chỉ con đường dẫn đến giải thoát, và được dùng để gọi các tôn giáo khác. Titthiya là tu sĩ của tôn giáo ấy, titthiyasāvaka là đệ tử của họ.]
Thì này Ānanda, với tâm hướng về viễn ly, nghiêng về viễn ly, xuôi về viễn ly, đã tách khỏi đám đông, ưa thích xuất ly và đã vượt qua hoàn toàn mọi pháp là chỗ sinh khởi của lậu hoặc, Như Lai chỉ nói những lời nhằm mời họ rời đi.
[Chú thích: Uyyojanika ở đây là thể sai khiến, nghĩa là đưa đi, cho về, nên câu này nói Ngài chỉ nói lời tiễn khách.]
Vì vậy, này Ānanda, nếu tỳ-kheo ước muốn:
'Mong rằng ta chứng đạt và an trú không tánh bên trong', thì này Ānanda, tỳ-kheo ấy phải làm cho tâm an trú ngay bên trong, lắng dịu, chuyên nhất và nhập định.
Và này Ānanda, tỳ-kheo làm cho tâm an trú ngay bên trong, lắng dịu, chuyên nhất và nhập định như thế nào?
Ở đây, này Ānanda, tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc do ly dục mà sinh.
Khi tầm và tứ đã lắng xuống, vị ấy chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ hai, có hỷ và lạc do định sinh, không tầm không tứ, với sự an tịnh bên trong và sự chuyên nhất của tâm.
Do ly hỷ, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, và thân cảm nhận được lạc; đây là tầng thiền-na thứ ba mà các bậc Thánh gọi là an trú xả, niệm và lạc.
Sau khi từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, và với hỷ ưu đã diệt từ trước, vị ấy chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, thanh tịnh nhờ xả và niệm.
Như vậy, này Ānanda, tỳ-kheo làm cho tâm an trú ngay bên trong, lắng dịu, chuyên nhất và nhập định.
Vị ấy tác ý đến không tánh bên trong.
Nhưng khi vị ấy tác ý đến không tánh bên trong, tâm không nhảy vào không tánh, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát.
Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy:
'Ta đang tác ý đến không tánh bên trong, nhưng tâm ta không nhảy vào không tánh bên trong, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
[Chú thích: Câu này cho thấy vị ấy có sự tỉnh giác về tình huống, tức cái nhìn bao quát về việc tu tập của mình đang tiến triển ra sao, xét theo nhân và quả.]
Vị ấy tác ý đến không tánh bên ngoài. Khi vị ấy tác ý đến không tánh bên ngoài, tâm không nhảy vào không tánh bên ngoài, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát. Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy: 'Ta đang tác ý đến không tánh bên ngoài, nhưng tâm ta không nhảy vào không tánh bên ngoài, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát.' Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Vị ấy tác ý đến không tánh bên trong và bên ngoài. Khi vị ấy tác ý đến không tánh bên trong và bên ngoài, tâm không nhảy vào không tánh bên trong và bên ngoài, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát. Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy: 'Ta đang tác ý đến không tánh bên trong và bên ngoài, nhưng tâm ta không nhảy vào không tánh bên trong và bên ngoài, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát.' Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Vị ấy tác ý đến sự bất động.
[Chú thích: Ở đây vị ấy muốn tu không tánh trước các tầng định vô sắc, khác với bài trước, nơi vô tướng được tu sau các tầng vô sắc.]
Nhưng khi vị ấy tác ý đến sự bất động, tâm không nhảy vào sự bất động, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát.
Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy:
'Ta đang tác ý đến sự bất động, nhưng tâm ta không nhảy vào sự bất động, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Do đó, này Ānanda, tỳ-kheo ấy phải làm cho tâm an trú ngay bên trong, lắng dịu, chuyên nhất và nhập định nơi chính đề mục định ấy như trước.
[Chú thích: Dù trước đó đã chứng đến tầng thiền-na thứ tư, việc tu tập của vị ấy vẫn chưa hoàn toàn ổn định.]
Vị ấy tác ý đến không tánh bên trong.
[Chú thích: Ở đây, không tánh dường như là cách làm cho tầng thiền-na sâu thêm.]
Khi vị ấy tác ý đến không tánh bên trong, tâm nhảy vào không tánh bên trong, tịnh tín, an trú, giải thoát.
Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy:
'Ta đang tác ý đến không tánh bên trong, và tâm ta nhảy vào không tánh bên trong, tịnh tín, an trú, giải thoát.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Vị ấy tác ý đến không tánh bên ngoài. Khi vị ấy tác ý đến không tánh bên ngoài, tâm nhảy vào không tánh bên ngoài, tịnh tín, an trú, giải thoát. Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy: 'Ta đang tác ý đến không tánh bên ngoài, và tâm ta nhảy vào không tánh bên ngoài, tịnh tín, an trú, giải thoát.' Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Vị ấy tác ý đến không tánh bên trong và bên ngoài. Khi vị ấy tác ý đến không tánh bên trong và bên ngoài, tâm nhảy vào không tánh bên trong và bên ngoài, tịnh tín, an trú, giải thoát. Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy: 'Ta đang tác ý đến không tánh bên trong và bên ngoài, và tâm ta nhảy vào không tánh bên trong và bên ngoài, tịnh tín, an trú, giải thoát.' Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Vị ấy tác ý đến sự bất động.
Khi vị ấy tác ý đến sự bất động, tâm nhảy vào sự bất động, tịnh tín, an trú, giải thoát.
Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy:
'Ta đang tác ý đến sự bất động, và tâm ta nhảy vào sự bất động, tịnh tín, an trú, giải thoát.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, nếu trong khi tỳ-kheo ấy an trú trong thiền trú này, tâm hướng đến việc đi kinh hành, thì vị ấy đi kinh hành:
[Chú thích: Các đoạn sau cho thấy vị ấy vẫn duy trì được sự tu tập ấy khi đi, đứng, ngồi, nằm, nói và suy nghĩ. Cụm an trú trong thiền trú này không có nghĩa là lúc nào cũng ở trong trạng thái định, vì vị ấy còn đi lại và nói chuyện được.]
'Khi ta đi kinh hành như vầy, những pháp ác, bất thiện là tham lam và ưu não sẽ không tràn vào ta.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, nếu trong khi tỳ-kheo ấy an trú trong thiền trú này, tâm hướng đến việc đứng, thì vị ấy đứng:
'Khi ta đứng như vầy, những pháp ác, bất thiện là tham lam và ưu não sẽ không tràn vào ta.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, nếu trong khi tỳ-kheo ấy an trú trong thiền trú này, tâm hướng đến việc ngồi, thì vị ấy ngồi:
'Khi ta ngồi như vầy, những pháp ác, bất thiện là tham lam và ưu não sẽ không tràn vào ta.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, nếu trong khi tỳ-kheo ấy an trú trong thiền trú này, tâm hướng đến việc nằm, thì vị ấy nằm:
'Khi ta nằm như vầy, những pháp ác, bất thiện là tham lam và ưu não sẽ không tràn vào ta.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, nếu trong khi tỳ-kheo ấy an trú trong thiền trú này, tâm hướng đến việc nói chuyện, thì vị ấy nghĩ:
'Ta sẽ không nói những câu chuyện thấp hèn, tầm thường, thuộc kẻ phàm phu, không xứng bậc Thánh, không đưa đến lợi ích; những câu chuyện ấy không dẫn đến nhàm chán, ly tham, diệt tận, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Đó là: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện quan đại thần, chuyện binh lính, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh, chuyện cơm ăn, chuyện nước uống, chuyện áo mặc, chuyện chỗ nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương thơm, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện quốc độ, chuyện đàn bà, chuyện rượu chè, chuyện chợ búa, chuyện nơi lấy nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nhạp, chuyện kể về thế giới, chuyện kể về biển cả, chuyện về kiếp sống này hay kiếp sống khác. Những câu chuyện như vậy, ta sẽ không nói.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
'Nhưng ta sẽ nói những câu chuyện có tác dụng mài giũa, thích hợp để gỡ bỏ chướng ngại của tâm, chỉ dẫn đến nhàm chán, ly tham, diệt tận, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Đó là: chuyện ít dục, chuyện biết đủ, chuyện viễn ly, chuyện không giao du, chuyện khởi tinh tấn, chuyện giới, chuyện định, chuyện tuệ, chuyện giải thoát, chuyện tri kiến giải thoát.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, nếu trong khi tỳ-kheo ấy an trú trong thiền trú này, tâm hướng đến việc suy nghĩ, thì vị ấy nghĩ:
'Ta sẽ không suy nghĩ những tư duy thấp hèn, tầm thường, thuộc kẻ phàm phu, không xứng bậc Thánh, không đưa đến lợi ích; những tư duy ấy không dẫn đến nhàm chán, ly tham, diệt tận, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Đó là: tư duy về dục, tư duy về sân hận, tư duy về làm hại.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
'Nhưng ta sẽ suy nghĩ những tư duy của bậc Thánh, có khả năng dẫn ra khỏi, đưa người thực hành đến chỗ chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đó là: tư duy về xuất ly, tư duy về không sân hận, tư duy về không làm hại.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, có năm dục công đức này.
Năm là những gì?
Các sắc do mắt nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
các âm thanh do tai nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
các hương do mũi nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
các vị do lưỡi nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
các xúc do thân nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái.
Này Ānanda, đó là năm dục công đức.
Tỳ-kheo phải thường xuyên quán sát tâm mình như vầy:
'Tâm ta có khởi lên sự hướng tới nào đối với một trong năm dục công đức này không?'
Này Ānanda, nếu tỳ-kheo trong khi quán sát biết như vầy:
'Tâm ta có khởi lên sự hướng tới đối với một trong năm dục công đức này',
thì này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy:
'Ta chưa đoạn trừ dục tham đối với năm dục công đức.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
[Chú thích: Ngay cả một hành giả đã đạt đến mức này vẫn có thể còn những ham muốn thô nằm dưới bề mặt. Nhưng chỉ cần biết rõ điều đó thì vị ấy không lạc khỏi con đường.]
Nhưng này Ānanda, nếu tỳ-kheo trong khi quán sát biết như vầy:
'Tâm ta không khởi lên sự hướng tới nào đối với một trong năm dục công đức này',
thì này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy:
'Ta đã đoạn trừ dục tham đối với năm dục công đức.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, có năm thủ uẩn này, và tỳ-kheo phải an trú quán sát sự sinh diệt nơi chúng:
'Đây là sắc, đây là sự sinh khởi của sắc, đây là sự diệt tận của sắc,
đây là thọ, đây là sự sinh khởi của thọ, đây là sự diệt tận của thọ,
đây là tưởng, đây là sự sinh khởi của tưởng, đây là sự diệt tận của tưởng,
đây là các hành, đây là sự sinh khởi của các hành, đây là sự diệt tận của các hành,
đây là thức, đây là sự sinh khởi của thức, đây là sự diệt tận của thức.'
Khi vị ấy an trú quán sát sự sinh diệt nơi năm thủ uẩn này, ngã mạn đối với năm thủ uẩn được đoạn trừ.
[Chú thích: Đến đây hành giả mới chuyển sang quán, tức tuệ quán sát.]
Khi ấy, này Ānanda, tỳ-kheo biết như vầy:
'Ta đã đoạn trừ ngã mạn đối với năm thủ uẩn.'
Như vậy, ở đó vị ấy có tỉnh giác.
Này Ānanda, những pháp ấy hoàn toàn thiện, có quả là thiện, thuộc bậc Thánh, siêu thế, không bị Ác ma xâm nhập.
Này Ānanda, ông nghĩ sao,
vì thấy lợi ích gì mà đệ tử cho là đáng theo thầy mình, dù có bị đuổi đi?
"Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm gốc, lấy Thế Tôn làm người dẫn đường, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn tự mình làm sáng tỏ ý nghĩa của lời này. Các tỳ-kheo nghe xong sẽ ghi nhớ."
Này Ānanda, đệ tử không phải vì kinh, ứng tụng, ký thuyết mà theo thầy mình.
[Chú thích: Đây là ba trong chín thể loại văn bản của giáo pháp; có lẽ bản Pali ở đây chỉ ghi vắn tắt.]
Vì sao vậy?
Vì từ lâu, này Ānanda, ông đã học các pháp, ghi nhớ, ghi tụng bằng lời, quán xét bằng ý, và thấu đạt bằng kiến.
[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn chuyển sang nói trực tiếp với Ānanda, vì Ānanda nổi tiếng là người ghi nhớ kinh điển giỏi nhất.]
Nhưng này Ānanda, đệ tử cho là đáng theo thầy mình, dù có bị đuổi đi, chính vì những câu chuyện có tác dụng mài giũa, thích hợp để gỡ bỏ chướng ngại của tâm, chỉ dẫn đến nhàm chán, ly tham, diệt tận, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, tức chuyện ít dục, chuyện biết đủ, chuyện viễn ly, chuyện không giao du, chuyện khởi tinh tấn, chuyện giới, chuyện định, chuyện tuệ, chuyện giải thoát, chuyện tri kiến giải thoát.
[Chú thích: Nghĩa là thay vì chỉ ghi nhớ thêm kinh điển, người như Ānanda nên tìm lời khích lệ giúp mình thực hành.]
Khi sự việc là như vậy, này Ānanda, có tai họa nơi bậc thầy, có tai họa nơi đệ tử, có tai họa nơi người tu phạm hạnh.
Và này Ānanda, thế nào là có tai họa nơi bậc thầy?
[Chú thích: Như ví dụ về người tu phạm hạnh ở dưới cho thấy, bậc thầy và đệ tử ở đây là những người ngoài Phật giáo.]
Này Ānanda, ở đây có một vị thầy thường lui tới những chỗ trú ẩn thanh vắng: rừng sâu, gốc cây, núi đá, khe núi, hang trong núi, nghĩa địa, rừng rậm, chỗ trống trải ngoài trời, đống rơm.
Khi vị ấy sống tách ly như vậy, các bà-la-môn và gia chủ, người ở thị trấn và người ở thôn quê, lũ lượt kéo đến với vị ấy.
[Chú thích: Vị tu sĩ càng nổi tiếng là sống viễn ly thì càng nhiều người tìm đến.]
Khi các bà-la-môn và gia chủ, người thị trấn và người thôn quê kéo đến, vị ấy ưa thích sự mê đắm, rơi vào tham đắm, quay lại lối sống buông thả.
Này Ānanda, đây được gọi là tai họa nơi bậc thầy.
[Chú thích: So sánh câu tương tự ở SN 16.8:7.7.]
Vì tai họa nơi bậc thầy, những pháp ác, bất thiện, ô nhiễm, đưa đến tái sinh, kèm sợ hãi, quả là khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai, đã chế ngự vị ấy.
Như vậy, này Ānanda, là có tai họa nơi bậc thầy.
Và này Ānanda, thế nào là có tai họa nơi đệ tử?
Này Ānanda, đệ tử của vị thầy ấy, noi theo sự viễn ly của thầy mình,
thường lui tới những chỗ trú ẩn thanh vắng: rừng sâu, gốc cây, núi đá, khe núi, hang trong núi, nghĩa địa, rừng rậm, chỗ trống trải ngoài trời, đống rơm.
Khi vị ấy sống tách ly như vậy, các bà-la-môn và gia chủ, người ở thị trấn và người ở thôn quê, lũ lượt kéo đến với vị ấy.
Khi các bà-la-môn và gia chủ, người thị trấn và người thôn quê kéo đến, vị ấy ưa thích sự mê đắm, rơi vào tham đắm, quay lại lối sống buông thả.
Này Ānanda, đây được gọi là tai họa nơi đệ tử.
Vì tai họa nơi đệ tử, những pháp ác, bất thiện, ô nhiễm, đưa đến tái sinh, kèm sợ hãi, quả là khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai, đã chế ngự vị ấy.
Như vậy, này Ānanda, là có tai họa nơi đệ tử.
Và này Ānanda, thế nào là có tai họa nơi người tu phạm hạnh?
Này Ānanda, ở đây Như Lai xuất hiện trong thế gian, là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.
Ngài thường lui tới những chỗ trú ẩn thanh vắng: rừng sâu, gốc cây, núi đá, khe núi, hang trong núi, nghĩa địa, rừng rậm, chỗ trống trải ngoài trời, đống rơm.
Khi Ngài sống tách ly như vậy, các bà-la-môn và gia chủ, người ở thị trấn và người ở thôn quê, lũ lượt kéo đến với Ngài.
Khi các bà-la-môn và gia chủ, người thị trấn và người thôn quê kéo đến, Ngài không ưa thích sự mê đắm, không rơi vào tham đắm, không quay lại lối sống buông thả.
Này Ānanda, đệ tử của vị thầy ấy, noi theo sự viễn ly của thầy mình,
thường lui tới những chỗ trú ẩn thanh vắng: rừng sâu, gốc cây, núi đá, khe núi, hang trong núi, nghĩa địa, rừng rậm, chỗ trống trải ngoài trời, đống rơm.
Khi vị ấy sống tách ly như vậy, các bà-la-môn và gia chủ, người ở thị trấn và người ở thôn quê, lũ lượt kéo đến với vị ấy.
Khi các bà-la-môn và gia chủ, người thị trấn và người thôn quê kéo đến, vị ấy ưa thích sự mê đắm, rơi vào tham đắm, quay lại lối sống buông thả.
Này Ānanda, đây được gọi là tai họa nơi người tu phạm hạnh.
Vì tai họa nơi người tu phạm hạnh, những pháp ác, bất thiện, ô nhiễm, đưa đến tái sinh, kèm sợ hãi, quả là khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai, đã chế ngự vị ấy.
Như vậy, này Ānanda, là có tai họa nơi người tu phạm hạnh.
Trong trường hợp ấy, này Ānanda, so với tai họa nơi bậc thầy và tai họa nơi đệ tử, tai họa nơi người tu phạm hạnh này có quả khổ hơn, có quả chát đắng hơn, và còn dẫn đến đọa lạc.
Vì vậy, này Ānanda, các ông hãy đối xử với ta như bạn, đừng như kẻ thù.
Điều ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông.
Và này Ānanda, thế nào là đệ tử đối xử với thầy mình như kẻ thù, không như bạn?
Này Ānanda, ở đây vị thầy thuyết Pháp cho các đệ tử, vì thương xót, vì mong cầu lợi ích, vì lòng thương tưởng:
'Điều này là vì lợi ích cho các ông, điều này là vì an lạc cho các ông.'
Nhưng các đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào chỗ hiểu biết, và sống quay lưng với lời dạy của thầy.
Như vậy, này Ānanda, là đệ tử đối xử với thầy mình như kẻ thù, không như bạn.
Và này Ānanda, thế nào là đệ tử đối xử với thầy mình như bạn, không như kẻ thù?
Này Ānanda, ở đây vị thầy thuyết Pháp cho các đệ tử, vì thương xót, vì mong cầu lợi ích, vì lòng thương tưởng:
'Điều này là vì lợi ích cho các ông, điều này là vì an lạc cho các ông.'
Các đệ tử của vị ấy muốn nghe, lắng tai, đặt tâm vào chỗ hiểu biết, và không sống quay lưng với lời dạy của thầy.
Như vậy, này Ānanda, là đệ tử đối xử với thầy mình như bạn, không như kẻ thù.
Vì vậy, này Ānanda, các ông hãy đối xử với ta như bạn, đừng như kẻ thù.
Điều ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông.
Này Ānanda, ta sẽ không chiều chuộng các ông như người thợ gốm chiều những chiếc nồi còn ướt, chưa nung.
[Chú thích: Câu Pali ở đây khó hiểu nếu đọc sát từng chữ. Các bản Sanskrit song song cho nghĩa nâng niu, chiều chuộng, và nghĩa ấy khớp với câu tiếp theo.]
Này Ānanda, ta sẽ nói, uốn nắn các ông hết lần này đến lần khác;
này Ānanda, ta sẽ nói, nhồi nặn các ông hết lần này đến lần khác.
Phần cốt lõi sẽ đứng vững.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Đại Kinh Không, bài thứ hai, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.