buppou

Trung Bộ Kinh · bài 49/152

Kinh Phạm Thiên Mời

Brahmanimantanika Sutta — bài kinh về lời thỉnh mời của Phạm Thiên Baka

32 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Phạm Thiên Mời (Brahmanimantanika Sutta) là bài kinh thứ 49 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh kể một chuyến đi lên tận cùng thế giới quan của thời bấy giờ: cõi Phạm Thiên, nơi người ta tin là chỗ ở của đấng tạo hóa, cao hơn mọi tầng trời khác. Đức Thế Tôn đến đó không phải để thăm viếng, mà để chất vấn một ý niệm.

Chủ nhân cõi ấy là Phạm Thiên Baka. Ông tin rằng cõi của mình là thường còn, bền vững, toàn vẹn, không bao giờ hoại diệt; rằng ở đây không có sinh, không có già, không có chết; và rằng ngoài chỗ này ra không còn lối thoát nào cao hơn. Ông cũng tin mình là đấng tạo tác, là cha của mọi loài đã sinh và sẽ sinh. Bài kinh mở đầu bằng chính ý nghĩ ấy của ông, và Đức Thế Tôn đọc được ý nghĩ ấy từ cách xa cả một hệ thế giới.

Cuộc gặp diễn ra theo một nhịp bất ngờ. Baka đón tiếp Ngài như đón một người ngang hàng, thậm chí như bậc bề trên đang rộng lượng với khách. Rồi Ma vương xuất hiện, nhập vào một vị trong hội chúng Phạm Thiên, và lên tiếng bênh vực Baka: đừng công kích vị ấy, vị ấy là đấng tạo hóa, hãy làm đúng như lời vị ấy. Một cuộc liên minh kỳ lạ giữa kẻ được xem là thần linh tối cao và kẻ chuyên dụ dỗ con người, cùng chung một mục đích: giữ nguyên trật tự cũ.

Phần lõi của bài kinh là cuộc đối đáp về cái mà Baka không biết. Đức Thế Tôn nói có những cõi cao hơn cõi của ông, trong đó có cõi mà chính ông đã từ đó chết đi và sinh về đây, và ông đã quên vì đã ở quá lâu. Ngài cũng nói Ngài thắng tri đất, nước, lửa, gió, chư thiên, Phạm Thiên, và cả cái gọi là "tất cả", nhưng không trở thành những thứ ấy, không nhận chúng là của mình. Đó là chỗ khác nhau căn bản: Baka muốn mình là tất cả, còn Đức Thế Tôn thì không đồng hóa mình với bất cứ gì.

Đến đây bài kinh chuyển sang một màn thử thách. Baka tuyên bố sẽ biến mất để chứng minh quyền năng của mình, nhưng không biến mất được. Đức Thế Tôn thì biến mất thật, trong khi tiếng Ngài vẫn vang đến tai toàn thể hội chúng Phạm Thiên, và từ chỗ vô hình Ngài nói lên bốn câu kệ: thấy sự nguy hiểm nơi hữu, Ngài không tán dương một hữu nào và không nắm giữ sự ưa thích nào. Hội chúng Phạm Thiên kinh ngạc tột độ trước điều vừa thấy.

Bài kinh khép lại bằng một lần Ma vương lên tiếng nữa, lần này khuyên Đức Thế Tôn hãy sống yên, đừng thuyết Pháp, đừng nhận đệ tử, vì người được dạy sẽ vượt ra khỏi tầm với của ông ta. Đức Thế Tôn từ chối, và nói rõ Như Lai vẫn như vậy dù có dạy hay không dạy. Với người chưa quen kinh điển, có thể đọc bài này như một lời nhắc: cái khát vọng được tồn tại mãi mãi, được làm trung tâm của vũ trụ, không phải chuyện của riêng một vị thần nào; nó nằm trong lòng mỗi người, và đó chính là chỗ cần nhìn thấu.


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này là một sự kết hợp độc đáo giữa triết lý cao siêu và kịch tính vũ trụ, dựng lên một liên minh khó tưởng tượng giữa cái mà trong thuật ngữ Ki-tô giáo gọi là Thượng đế và Ma vương. Tuy vậy, vì văn bản có nhiều chỗ khó và cách đọc không chắc chắn, nên thận trọng khi luận giải.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, có một thuở Ta trú tại Ukkaṭṭhā, trong rừng Subhaga, dưới gốc cây sa-la vua.

[Chú thích: SN 6.4 mở đầu bằng những sự kiện tương tự nhưng lấy bối cảnh Sāvatthī và không nhắc đến Ukkaṭṭhā; còn Ukkaṭṭhā là bối cảnh của MN 1, bài kinh có chung vài chủ đề với bài này. Cả hai bài đều phê phán triết lý tinh vi của các bà-la-môn xứ Kosala, nên cùng lấy bối cảnh là thị trấn của vị thủ lĩnh Pokkharasāti (DN 3:1.2.1).]

Lúc bấy giờ, này các tỳ-kheo, Phạm Thiên Baka khởi lên một tà kiến xấu ác như vầy:

[Chú thích: Phạm Thiên Baka giữ tà kiến này cả ở SN 6.4, nơi các đời sống trước của ông được nêu ra. Tên baka nghĩa là con cò; trong thần thoại Bà-la-môn không có vị thần cao nào mang tên ấy, mà chỉ có một loài dạ-xoa ăn thịt người hình chim, về sau bị anh hùng Bhīma giết chết. Chuyện Pali kể con cò đứng lim dim như đang thiền bên nước, thật ra đang dụ cá đến gần để chộp lấy, nên một con chim trắng lớn, bay cao mà giả vờ thiền rất hợp để làm đối thủ trong những bài kinh này.]

"Đây là thường, đây là bền, đây là vĩnh cửu, đây là toàn vẹn, đây là pháp không bị hoại diệt. Ở đây không có sinh, không có già, không có chết, không có chết đi và không có tái sinh. Và không có lối thoát nào cao hơn lối thoát này."

[Chú thích: Dùng đại từ phiếm chỉ "cái này" để chỉ tự ngã là Phạm Thiên là lối nói quen thuộc của Upaniṣad, như "cái đó chính là ông" hay "tự ngã ấy là Phạm Thiên".]

Rồi này các tỳ-kheo, Ta dùng tâm mình biết được tâm tư của Phạm Thiên Baka:

như một người khỏe mạnh co cánh tay đang duỗi ra, hay duỗi cánh tay đang co lại, cũng vậy, Ta biến mất khỏi rừng Subhaga, khỏi gốc cây sa-la vua, và hiện ra ngay tại cõi Phạm Thiên ấy.

Này các tỳ-kheo, Phạm Thiên Baka thấy Ta từ xa đi đến,

thấy vậy, ông ta nói với Ta:

"Đến đây, này hiền giả! Chào mừng hiền giả đã đến!

[Chú thích: mārisa là cách gọi đặc biệt mà chư thiên, và đôi khi cả vua chúa, dùng để gọi nhau; chữ này bắt nguồn từ tiếng Phạn mādṛśa, nghĩa là "một người như ta", hàm ý ngang hàng về địa vị.]

Đã lâu lắm rồi, này hiền giả, ông mới có dịp đến đây.

Vì đây là thường, đây là bền, đây là vĩnh cửu, đây là toàn vẹn, đây là pháp không bị hoại diệt. Ở đây không có sinh, không có già, không có chết, không có chết đi và không có tái sinh. Và không có lối thoát nào cao hơn lối thoát này."

Khi ông ta nói như vậy, này các tỳ-kheo, Ta nói với Phạm Thiên Baka:

"Ôi! Phạm Thiên Baka đã rơi vào vô minh! Ôi! Phạm Thiên Baka đã rơi vào vô minh!

Bởi vì cái vốn là vô thường, ông ta lại nói là thường; cái vốn là không bền, lại nói là bền; cái vốn là không vĩnh cửu, lại nói là vĩnh cửu; cái vốn là không toàn vẹn, lại nói là toàn vẹn; cái vốn là pháp bị hoại diệt, lại nói là pháp không bị hoại diệt.

Và ở chỗ nào có sinh, có già, có chết, có chết đi và có tái sinh, thì về chỗ ấy ông ta lại nói:

'Ở đây không có sinh, không có già, không có chết, không có chết đi và không có tái sinh';

trong khi thật có một lối thoát khác cao hơn, ông ta lại nói: 'Không có lối thoát nào khác cao hơn.'"

Rồi này các tỳ-kheo, Ma vương Ác ma nhập vào một vị trong hội chúng Phạm Thiên, rồi nói với Ta:

[Chú thích: Từ đây, nội dung bài kinh tách khỏi SN 6.4:4.1.]

"Này tỳ-kheo, này tỳ-kheo! Chớ công kích vị ấy! Chớ công kích vị ấy! Vì vị ấy là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, bậc Chiến thắng, bậc không ai chiến thắng nổi, bậc thấy hết mọi sự, bậc nắm quyền lực, bậc tự tại, bậc tạo tác, bậc kiến tạo, bậc tối thượng, bậc sắp đặt, bậc chế ngự, bậc cha của những loài đã sinh và sẽ sinh.

[Chú thích: Ma vương lặp lại đúng lời tự tán của Phạm Thiên trong DN 1:2.5.2. Việc gọi Đức Thế Tôn là "tỳ-kheo" rất hiếm gặp và có lẽ mang ý coi thường.]

Này tỳ-kheo, trước đây trong thế gian đã từng có những sa-môn, bà-la-môn chê bai đất, ghê tởm đất, chê bai nước, ghê tởm nước, chê bai lửa, ghê tởm lửa, chê bai gió, ghê tởm gió, chê bai các loài hữu tình, ghê tởm các loài hữu tình, chê bai chư thiên, ghê tởm chư thiên, chê bai Pajāpati (Sanh chủ), ghê tởm Pajāpati, chê bai Phạm Thiên, ghê tởm Phạm Thiên,

[Chú thích: Danh sách này tóm tắt các mục trong MN 1. Những sa-môn, bà-la-môn được nói tới ở đây hẳn gồm cả các đạo sĩ Kỳ-na giáo, những người phủ nhận truyền thống Vệ-đà trước thời Đức Thế Tôn.]

khi thân hoại, khi mạng bị cắt đứt, họ đã được an lập vào một cõi thấp hèn.

[Chú thích: "Mạng bị cắt đứt" là một cách nói độc đáo của tiếng Pali để chỉ cái chết, có thể so với Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 1.5.14.]

Này tỳ-kheo, còn những sa-môn, bà-la-môn trước đây trong thế gian đã tán thán đất, ưa thích đất, tán thán nước, ưa thích nước, tán thán lửa, ưa thích lửa, tán thán gió, ưa thích gió, tán thán các loài hữu tình, ưa thích các loài hữu tình, tán thán chư thiên, ưa thích chư thiên, tán thán Pajāpati, ưa thích Pajāpati, tán thán Phạm Thiên, ưa thích Phạm Thiên,

[Chú thích: Đây là những hiền giả xưa được truyền thống Vệ-đà tôn kính.]

khi thân hoại, khi mạng bị cắt đứt, họ đã được an lập vào một cõi cao quý.

Vì vậy, này tỳ-kheo, ta nói với ông như vầy:

'Này hiền giả, Phạm Thiên nói gì với ông thì hãy làm đúng như thế; chớ vượt qua lời của Phạm Thiên.'

Này tỳ-kheo, nếu ông vượt qua lời của Phạm Thiên, thì việc của ông sẽ ra như vầy: như một người, khi nữ thần Siri (Cát Tường) đang đến với mình, lại dùng gậy đẩy bà ra; hay như một người đang rơi xuống vực, lại dùng tay và chân đẩy mặt đất ra.

[Chú thích: Siri là vị nữ thần về sau nổi tiếng là thần may mắn và thịnh vượng, tương đương Lakṣmī trong truyền thống Vệ-đà; lối nói này cũng xuất hiện ở Thag 8.3:2.1. Trong thần thoại Vệ-đà, người ta cầu xin thần may mắn đến với mình, nên đẩy bà ra là hành động tự hại, và chính sự phi lý ấy là điều câu ví dụ muốn nói.]

Này hiền giả, Phạm Thiên nói gì với ông thì hãy làm đúng như thế; chớ vượt qua lời của Phạm Thiên.

Này tỳ-kheo, ông không thấy hội chúng Phạm Thiên đang tụ họp ở đây sao?"

Như vậy, này các tỳ-kheo, Ma vương Ác ma đã đưa hội chúng Phạm Thiên ra trước mặt Ta.

Khi ông ta nói như vậy, này các tỳ-kheo, Ta nói với Ma vương Ác ma:

"Ta biết ông rồi, này Ác ma. Chớ nghĩ rằng:

'Vị ấy không biết ta.'

Ông chính là Ma vương, này Ác ma.

Này Ác ma, Phạm Thiên, hội chúng Phạm Thiên và các vị trong hội chúng ấy, tất cả đều đã nằm trong tay ông, tất cả đều ở dưới quyền của ông.

[Chú thích: Thông thường Ma vương được xem là nắm quyền trên các cõi dục, còn các tầng thiền và cõi tái sinh tương ứng thì ngoài tầm với của ông ta (MN 25:12.1). Ở đây tầm với ấy đi xa hơn, vì các cõi Phạm Thiên tuy đã lìa dục nhưng vẫn chưa lìa sự bám víu vào hữu.]

Vì ông nghĩ rằng:

'Có lẽ vị này cũng đã nằm trong tay ta, có lẽ vị này cũng đã ở dưới quyền ta!'

Nhưng này Ác ma, Ta không nằm trong tay ông, cũng không ở dưới quyền ông."

Khi Ta nói như vậy, này các tỳ-kheo, Phạm Thiên Baka nói với Ta:

"Này hiền giả, cái mà ta nói là thường thì thật là thường, cái ta nói là bền thì thật là bền, cái ta nói là vĩnh cửu thì thật là vĩnh cửu, cái ta nói là toàn vẹn thì thật là toàn vẹn, cái ta nói là pháp không bị hoại diệt thì thật là pháp không bị hoại diệt; và ở chỗ mà ta nói không có sinh, không có già, không có chết, không có chết đi và không có tái sinh, thì ở đó đúng thật là:

[Chú thích: Một tài của Ma vương là làm cho người ta tưởng rằng những ý nghĩ xấu ác của ông ta chính là ý nghĩ của mình.]

'Ở đây không có sinh, không có già, không có chết, không có chết đi và không có tái sinh.'

Và cái mà ta nói là không có lối thoát nào khác cao hơn thì thật là không có lối thoát nào khác cao hơn.

Này tỳ-kheo, trước đây trong thế gian đã từng có những sa-môn, bà-la-môn mà hạnh khổ hạnh của họ kéo dài đúng bằng trọn tuổi thọ của ông.

[Chú thích: Ở đây kasiṇa được dùng theo nghĩa "toàn bộ, trọn vẹn", không phải nghĩa "đề mục thiền" như thường gặp.]

Họ biết như vầy: khi có một lối thoát khác cao hơn, thì 'có một lối thoát khác cao hơn'; khi không có lối thoát khác cao hơn, thì 'không có lối thoát nào khác cao hơn'.

Vì vậy, này tỳ-kheo, ta nói với ông như vầy:

Nếu ông không thấy được một lối thoát nào khác cao hơn, thì ông chỉ chuốc lấy mệt mỏi và bực bội mà thôi."


"Này tỳ-kheo, nếu ông bám chặt vào đất, thì ông sẽ ở sát bên ta, nằm trong lãnh địa của ta, bị ta sai khiến tùy ý và bị ta tống ra ngoài.

Nếu ông bám chặt vào nước, thì ông sẽ ở sát bên ta, nằm trong lãnh địa của ta, bị ta sai khiến tùy ý và bị ta tống ra ngoài.

Nếu ông bám chặt vào lửa, thì ông sẽ ở sát bên ta, nằm trong lãnh địa của ta, bị ta sai khiến tùy ý và bị ta tống ra ngoài.

Nếu ông bám chặt vào gió, thì ông sẽ ở sát bên ta, nằm trong lãnh địa của ta, bị ta sai khiến tùy ý và bị ta tống ra ngoài.

Nếu ông bám chặt vào các loài hữu tình, thì ông sẽ ở sát bên ta, nằm trong lãnh địa của ta, bị ta sai khiến tùy ý và bị ta tống ra ngoài.

Nếu ông bám chặt vào chư thiên, thì ông sẽ ở sát bên ta, nằm trong lãnh địa của ta, bị ta sai khiến tùy ý và bị ta tống ra ngoài.

Nếu ông bám chặt vào Pajāpati (Sanh chủ), thì ông sẽ ở sát bên ta, nằm trong lãnh địa của ta, bị ta sai khiến tùy ý và bị ta tống ra ngoài.

Nếu ông bám chặt vào Phạm Thiên, thì ông sẽ ở sát bên ta, nằm trong lãnh địa của ta, bị ta sai khiến tùy ý và bị ta tống ra ngoài."

"Này Phạm Thiên, Ta cũng biết như vầy:

'Nếu Ta bám chặt vào đất, thì Ta sẽ ở sát bên Ngài, nằm trong lãnh địa của Ngài, bị Ngài sai khiến tùy ý và bị Ngài tống ra ngoài.

Nếu Ta bám chặt vào nước, thì Ta sẽ ở sát bên Ngài, nằm trong lãnh địa của Ngài, bị Ngài sai khiến tùy ý và bị Ngài tống ra ngoài.

Nếu Ta bám chặt vào lửa, thì Ta sẽ ở sát bên Ngài, nằm trong lãnh địa của Ngài, bị Ngài sai khiến tùy ý và bị Ngài tống ra ngoài.

Nếu Ta bám chặt vào gió, thì Ta sẽ ở sát bên Ngài, nằm trong lãnh địa của Ngài, bị Ngài sai khiến tùy ý và bị Ngài tống ra ngoài.

Nếu Ta bám chặt vào các loài hữu tình, thì Ta sẽ ở sát bên Ngài, nằm trong lãnh địa của Ngài, bị Ngài sai khiến tùy ý và bị Ngài tống ra ngoài.

Nếu Ta bám chặt vào chư thiên, thì Ta sẽ ở sát bên Ngài, nằm trong lãnh địa của Ngài, bị Ngài sai khiến tùy ý và bị Ngài tống ra ngoài.

Nếu Ta bám chặt vào Pajāpati (Sanh chủ), thì Ta sẽ ở sát bên Ngài, nằm trong lãnh địa của Ngài, bị Ngài sai khiến tùy ý và bị Ngài tống ra ngoài.

Nếu Ta bám chặt vào Phạm Thiên, thì Ta sẽ ở sát bên Ngài, nằm trong lãnh địa của Ngài, bị Ngài sai khiến tùy ý và bị Ngài tống ra ngoài.' Và hơn nữa, này Phạm Thiên, Ta biết được phạm vi của Ngài và ánh sáng của Ngài:

[Chú thích: Việc đo một vị Phạm Thiên qua "ánh sáng" của vị ấy cho thấy mối liên hệ gần gũi giữa Phạm Thiên và các vì sao.]

'Phạm Thiên Baka có thần lực lớn như thế, có uy lực lớn như thế, có oai lực lớn như thế.'"

"Nhưng bằng cách nào, này hiền giả, ông biết được phạm vi của ta và ánh sáng của ta, để nói rằng:

'Phạm Thiên Baka có thần lực lớn như thế, có uy lực lớn như thế, có oai lực lớn như thế'?"

"Cho đến nơi mặt trăng và mặt trời

di chuyển, soi sáng các phương, những vì tinh tú rực rỡ;

chừng ấy là thế giới trải ra gấp nghìn lần;

quyền lực của Ngài vận hành ở đây.

Ngài biết kẻ cao và kẻ thấp,

và cả những ai còn tham, những ai đã lìa tham;

cảnh giới này và cảnh giới khác của chúng sinh,

đường chúng đến và đường chúng đi.

Này Phạm Thiên, Ta biết được phạm vi của Ngài và ánh sáng của Ngài như vậy:

'Phạm Thiên Baka có thần lực lớn như thế, có uy lực lớn như thế, có oai lực lớn như thế.'"

Này Phạm Thiên, có một cõi khác mà Ngài không biết, không thấy;

[Chú thích: Bản Mahāsaṅgīti đọc añño kāyo, nghĩa là "một cõi khác", nhưng bản PTS và bản BJT đọc aññe tayo kāyā, nghĩa là "ba cõi khác", và cách đọc số nhiều ấy được bản Hán tương đương (MA 78) ủng hộ. Có lẽ vì về sau bài kinh có thêm một cõi thứ tư nên mới nảy ra sự thay đổi này.]

nhưng Ta biết, Ta thấy.

[Chú thích: Bản PTS và bản BJT đọc tyāhaṁ, tức te ahaṁ, phù hợp với cách đọc số nhiều của họ, khác với tamahaṁ số ít của bản Mahāsaṅgīti. Điều này cho thấy sự khác biệt đã được chọn lựa có chủ ý, chứ không do bản chú giải quyết định.]

Này Phạm Thiên, có một cõi tên là Ābhassarā (Quang Âm); Ngài đã từ đó mệnh chung và sinh về đây.

[Chú thích: Ở đây ābhassarā là giống đực số nhiều, nên không phải tính từ bổ nghĩa cho kāyo mà là chỉ chư thiên của cõi ấy. Bản Mahāsaṅgīti không nhất quán ở điểm này: phía dưới, subhakiṇho và vehapphalo lại được dùng như tính từ số ít, trong khi bản PTS và bản BJT luôn dùng dạng số nhiều.]

Vì Ngài đã trú ở đây quá lâu nên sự nhớ lại ấy đã bị quên mất; do đó Ngài không biết, không thấy điều ấy.

[Chú thích: Phạm Thiên cũng quên nguồn gốc của mình như vậy ở DN 1:2.2.1.]

Nhưng Ta biết, Ta thấy.

Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn.

Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, có một cõi tên là Subhakiṇha (Biến Tịnh), có một cõi tên là Vehapphala (Quảng Quả), có một cõi tên là Abhibhū; những cõi ấy Ngài không biết, không thấy.

[Chú thích: Bản Mahāsaṅgīti thêm vào đây một loại thứ tư là abhibhū, nghĩa là bậc Chiến thắng, điều mà bản PTS, bản BJT và bản Hán tương đương đều không có.]

Nhưng Ta biết, Ta thấy.

Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn.

Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri đất là đất, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của đất, Ta đã không trở thành đất, không trở thành ở trong đất, không trở thành phát xuất từ đất, không trở thành kẻ nghĩ 'đất là của ta', và không tán dương đất.

[Chú thích: Đoạn khó này lặp lại gần nguyên văn MN 1:3.3. Cái "không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của đất" là các tầng thiền vô sắc và đặc biệt là Niết-bàn, vượt ra ngoài kinh nghiệm giác quan và bốn tầng thiền hữu sắc. Bản chú giải hiểu nāhosiṁ là "không nắm giữ", nghĩa là không đồng hóa mình với đất.]

Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn.

Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri nước là nước, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của nước, Ta đã không trở thành nước, không trở thành ở trong nước, không trở thành phát xuất từ nước, không trở thành kẻ nghĩ 'nước là của ta', và không tán dương nước. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri lửa là lửa, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của lửa, Ta đã không trở thành lửa, không trở thành ở trong lửa, không trở thành phát xuất từ lửa, không trở thành kẻ nghĩ 'lửa là của ta', và không tán dương lửa. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri gió là gió, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của gió, Ta đã không trở thành gió, không trở thành ở trong gió, không trở thành phát xuất từ gió, không trở thành kẻ nghĩ 'gió là của ta', và không tán dương gió. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri các loài hữu tình là các loài hữu tình, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của các loài hữu tình, Ta đã không trở thành các loài hữu tình, không trở thành ở trong các loài hữu tình, không trở thành phát xuất từ các loài hữu tình, không trở thành kẻ nghĩ 'các loài hữu tình là của ta', và không tán dương các loài hữu tình. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri chư thiên là chư thiên, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của chư thiên, Ta đã không trở thành chư thiên, không trở thành ở trong chư thiên, không trở thành phát xuất từ chư thiên, không trở thành kẻ nghĩ 'chư thiên là của ta', và không tán dương chư thiên. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri Pajāpati là Pajāpati, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của Pajāpati, Ta đã không trở thành Pajāpati, không trở thành ở trong Pajāpati, không trở thành phát xuất từ Pajāpati, không trở thành kẻ nghĩ 'Pajāpati là của ta', và không tán dương Pajāpati. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.


Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri Phạm Thiên là Phạm Thiên, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của Phạm Thiên, Ta đã không trở thành Phạm Thiên, không trở thành ở trong Phạm Thiên, không trở thành phát xuất từ Phạm Thiên, không trở thành kẻ nghĩ 'Phạm Thiên là của ta', và không tán dương Phạm Thiên. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri chư thiên Ābhassarā là chư thiên Ābhassarā, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của chư thiên Ābhassarā, Ta đã không trở thành chư thiên Ābhassarā, không trở thành ở trong chư thiên Ābhassarā, không trở thành phát xuất từ chư thiên Ābhassarā, không trở thành kẻ nghĩ 'chư thiên Ābhassarā là của ta', và không tán dương chư thiên Ābhassarā. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri chư thiên Subhakiṇha là chư thiên Subhakiṇha, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của chư thiên Subhakiṇha, Ta đã không trở thành chư thiên Subhakiṇha, không trở thành ở trong chư thiên Subhakiṇha, không trở thành phát xuất từ chư thiên Subhakiṇha, không trở thành kẻ nghĩ 'chư thiên Subhakiṇha là của ta', và không tán dương chư thiên Subhakiṇha. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri chư thiên Vehapphala là chư thiên Vehapphala, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của chư thiên Vehapphala, Ta đã không trở thành chư thiên Vehapphala, không trở thành ở trong chư thiên Vehapphala, không trở thành phát xuất từ chư thiên Vehapphala, không trở thành kẻ nghĩ 'chư thiên Vehapphala là của ta', và không tán dương chư thiên Vehapphala. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri Abhibhū là Abhibhū, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của Abhibhū, Ta đã không trở thành Abhibhū, không trở thành ở trong Abhibhū, không trở thành phát xuất từ Abhibhū, không trở thành kẻ nghĩ 'Abhibhū là của ta', và không tán dương Abhibhū. Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn. Mà Ta còn hơn Ngài.

Này Phạm Thiên, sau khi thắng tri tất cả là tất cả, và thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của tất cả, Ta đã không trở thành tất cả, không trở thành ở trong tất cả, không trở thành phát xuất từ tất cả, không trở thành kẻ nghĩ 'tất cả là của ta', và không tán dương tất cả.

[Chú thích: Cả đoạn này dường như được dựng để kết lại ở cụm "cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của tất cả", nhằm trả lời câu trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 2.5.19: "tự ngã này, cái kinh nghiệm tất cả, là Phạm Thiên". Vượt qua cả "kinh nghiệm về tất cả", Đức Thế Tôn khẳng định dứt khoát mình cao hơn giáo lý Upaniṣad.]

Như vậy đó, này Phạm Thiên, Ta còn không ngang bằng với Ngài về thắng tri, huống chi là thấp kém hơn.

Mà Ta còn hơn Ngài.

"Này hiền giả, nếu ông đã thắng tri cái không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của tất cả, thì mong sao điều ấy chớ là trống rỗng, chớ là hư không đối với ông!

[Chú thích: Dấu đóng câu trong bản Mahāsaṅgīti cho thấy lời Phạm Thiên Baka chấm dứt tại đây, nhưng bản PTS và bản BJT không có dấu ấy. Cách đọc vừa liền mạch vừa có chứng cứ là lời Baka bắt đầu từ đây và kết thúc khi ông nói mình sẽ biến mất; bản Hán tương đương cũng gán một lời tương tự cho Phạm Thiên.]

Thức không hiện ra hình tướng,

[Chú thích: Hai câu này, có vẻ là một phát biểu độc lập trôi nổi của quan điểm Upaniṣad, cũng được trích ở DN 11:85.18. Phạm Thiên Baka cho rằng điều Đức Thế Tôn vừa nói chẳng qua chính là cõi "thức vô biên", một trong những chứng đắc cao nhất mà các hiền giả Bà-la-môn cho là có.]

vô biên, sáng khắp mọi phía.

Cái ấy không nằm trong phạm vi kinh nghiệm của đất, của nước, của lửa, của gió, của các loài hữu tình, của chư thiên, của Pajāpati, của Phạm Thiên, của chư thiên Ābhassarā, của chư thiên Subhakiṇha, của chư thiên Vehapphala, của Abhibhū, của tất cả.

Vậy thì, này hiền giả, hãy xem ta biến mất đây!"

"Vậy thì, này Phạm Thiên, Ngài hãy biến mất khỏi Ta đi, nếu Ngài có thể."

Rồi này các tỳ-kheo, Phạm Thiên Baka nói:

"Ta sẽ biến mất khỏi sa-môn Gotama! Ta sẽ biến mất khỏi sa-môn Gotama!" Nhưng ông ta không thể biến mất khỏi Ta.

[Chú thích: Vì tưởng rằng điều Đức Thế Tôn nói chính là cõi thức vô biên, Phạm Thiên Baka lầm tưởng mình có thần lực ấy.]

Khi ông ta nói như vậy, này các tỳ-kheo, Ta nói với Phạm Thiên Baka:

"Vậy thì, này Phạm Thiên, hãy xem Ta biến mất khỏi Ngài đây!"

"Vậy thì, này hiền giả, hãy biến mất khỏi ta đi, nếu ông có thể."

Rồi này các tỳ-kheo, Ta đã tạo nên một năng lực thần thông như vầy:

"Chừng ấy, Phạm Thiên, hội chúng Phạm Thiên và các vị trong hội chúng ấy sẽ nghe được tiếng Ta, nhưng sẽ không thấy Ta."

[Chú thích: Đây là cách diễn tả đầy kịch tính khoảng cách triết lý giữa Đức Thế Tôn và Phạm Thiên Baka: thần lực của Baka hiện ra thành ánh sáng, còn Đức Thế Tôn thì chứng tỏ bằng sự vô hình.]

Trong khi đã biến mất, Ta nói lên bài kệ này:

"Thấy sự nguy hiểm nơi hữu,

[Chú thích: Đức Thế Tôn chuyển trọng tâm từ việc chứng đắc một trạng thái thức cao siêu sang việc chấm dứt hữu.]

và nơi hữu của những kẻ đang tìm cầu sự diệt hữu;

[Chú thích: Câu Pali này có chỗ đọc khác nhau; bản dịch theo cách đọc vibhavesi của Bhikkhu Bodhi và Từ điển Pali Phê bình. Chữ ca ở đây ứng với câu cuối của bài kệ.]

Ta đã không tán dương một hữu nào,

và đã không nắm giữ sự ưa thích nào."

Rồi này các tỳ-kheo, Phạm Thiên, hội chúng Phạm Thiên và các vị trong hội chúng ấy, với tâm tràn đầy kinh ngạc và kỳ diệu, nghĩ rằng:

"Lạ thay, kỳ diệu thay!

Sa-môn Gotama có thần lực lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy! Trước đây chúng ta chưa từng thấy, chưa từng nghe nói có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có thần lực lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, như sa-môn Gotama này, người dòng họ Sakya (Thích-ca), đã xuất gia từ dòng họ Sakya.

Loài chúng sinh ưa thích hữu, đắm say hữu, hoan hỷ trong hữu, mà vị ấy đã nhổ bật hữu lên tận gốc rễ!"

Rồi này các tỳ-kheo, Ma vương Ác ma nhập vào một vị trong hội chúng Phạm Thiên, rồi nói với Ta:

"Này hiền giả, nếu ông hiểu như vậy, nếu ông đã giác ngộ như vậy, thì chớ đem điều ấy ra cho các đệ tử và những người đã xuất gia;

[Chú thích: Động từ upanesi ở đây cũng đã xuất hiện ở MN 49:5.12 theo nghĩa ngược lại, khi Ma vương đưa hội chúng Phạm Thiên ra cho Đức Thế Tôn xem.]

chớ thuyết Pháp cho các đệ tử và những người đã xuất gia;

chớ khởi tâm tham đắm nơi các đệ tử và những người đã xuất gia.

Này tỳ-kheo, trước đây trong thế gian đã từng có những sa-môn, bà-la-môn tự nhận mình là bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác.

Họ đã đem điều ấy ra cho các đệ tử và những người đã xuất gia, đã thuyết Pháp cho các đệ tử và những người đã xuất gia, đã khởi tâm tham đắm nơi các đệ tử và những người đã xuất gia; sau khi đã đem điều ấy ra cho các đệ tử và những người đã xuất gia, sau khi đã thuyết Pháp cho các đệ tử và những người đã xuất gia, với tâm tham đắm nơi các đệ tử và những người đã xuất gia,

khi thân hoại, khi mạng bị cắt đứt, họ đã được an lập vào một cõi thấp hèn.

Này tỳ-kheo, lại có những sa-môn, bà-la-môn khác trước đây trong thế gian cũng tự nhận mình là bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác.

Họ đã không đem điều ấy ra cho các đệ tử và những người đã xuất gia, không thuyết Pháp cho các đệ tử và những người đã xuất gia, không khởi tâm tham đắm nơi các đệ tử và những người đã xuất gia; sau khi không đem điều ấy ra cho các đệ tử và những người đã xuất gia, sau khi không thuyết Pháp cho các đệ tử và những người đã xuất gia, với tâm không tham đắm nơi các đệ tử và những người đã xuất gia,

khi thân hoại, khi mạng bị cắt đứt, họ đã được an lập vào một cõi cao quý.

Vì vậy, này tỳ-kheo, ta nói với ông như vầy:

Này hiền giả, hãy sống không bận tâm đến việc gì, chuyên tâm hưởng sự an lạc ngay trong đời này; không nói ra là tốt hơn, này hiền giả, chớ khuyên bảo người khác."

Khi ông ta nói như vậy, này các tỳ-kheo, Ta nói với Ma vương Ác ma:

"Ta biết ông rồi, này Ác ma. Chớ nghĩ rằng:

'Ông ấy không biết ta.'

Ông chính là Ma vương, này Ác ma.

Này Ác ma, ông nói như thế với Ta không phải vì thương tưởng đến điều tốt cho Ta;

mà vì không thương tưởng đến điều tốt cho Ta, này Ác ma, ông nói như thế với Ta.

Vì ông nghĩ rằng:

'Những ai được sa-môn Gotama thuyết Pháp cho sẽ vượt ra khỏi tầm với của ta.'"


"Này Ác ma, những vị ấy vốn không phải là bậc Chánh đẳng giác, nhưng đã tự nhận mình là bậc Chánh đẳng giác.

Còn Ta, này Ác ma, đúng là bậc Chánh đẳng giác, nên Ta tự nhận mình là bậc Chánh đẳng giác.

Này Ác ma, dù Như Lai có thuyết Pháp cho các đệ tử hay không thuyết Pháp cho các đệ tử, Như Lai vẫn như vậy.

Này Ác ma, dù Như Lai có nhận các đệ tử hay không nhận các đệ tử, Như Lai vẫn như vậy.

Vì sao vậy?

Này Ác ma, những lậu hoặc của Như Lai, tức là những thứ ô nhiễm, đưa đến tái sinh, có sự sợ hãi, có quả là khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai,

những lậu hoặc ấy đã được đoạn trừ, bị chặt tận gốc, như cây thốt nốt bị đốn ngang ngọn, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai.

Này Ác ma, ví như một cây thốt nốt bị chặt đứt ngọn thì không thể mọc lại được nữa;

cũng vậy, này Ác ma, những lậu hoặc của Như Lai, tức là những thứ ô nhiễm, đưa đến tái sinh, có sự sợ hãi, có quả là khổ, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai,

những lậu hoặc ấy đã được đoạn trừ, bị chặt tận gốc, như cây thốt nốt bị đốn ngang ngọn, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai."

Như vậy, do Ma vương đã bị làm cho im tiếng và do Phạm Thiên đã thỉnh mời, nên bài giảng này được gọi tên là "Kinh Phạm Thiên Mời".

[Chú thích: Không có ghi chép nào nói rằng Phạm Thiên Baka đã hồi tâm quy hướng.]

Kinh Phạm Thiên Mời đã hoàn thành, bài thứ chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →