Trung Bộ Kinh · bài 50/152
Kinh Sự Khiển Trách Ma
Māratajjanīya Sutta — bài kinh về lần Ma vương bị Tôn giả Mahāmoggallāna gọi đúng tên và khiển trách
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Sự Khiển Trách Ma (Māratajjanīya Sutta) là bài kinh thứ 50 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh mở đầu bằng một cảnh hiếm thấy trong toàn bộ kinh điển: Ma vương — còn gọi là Ác ma, kẻ chuyên dụ dỗ và phá rối người tu hành — chui vào bụng Tôn giả Mahāmoggallāna, một trong hai vị đệ tử thượng thủ của Đức Thế Tôn. Ma vương làm vậy để thử xem vị tỳ-kheo ấy có bị lay động không, và câu trả lời đến ngay lập tức: Tôn giả nhận ra cái bụng nặng trịch của mình, vào tịnh thất ngồi xuống, nhìn vào trong và gọi đúng tên kẻ đang trú trong dạ dày mình.
Điều đáng chú ý là Tôn giả không dùng phép thần thông để tống Ma vương ra. Ngài chỉ nói: hãy ra đi, chớ quấy nhiễu Như Lai và đệ tử của Như Lai, chớ tự chuốc lấy khổ về lâu dài. Ma vương không tin, vì hắn nghĩ ngay cả bậc Đạo sư cũng không thể nhận ra mình nhanh đến thế. Tôn giả bèn cho hắn thấy chỗ hắn lầm: Ngài biết hắn không chỉ vì hắn đang ở trong bụng Ngài, mà còn vì Ngài đã từng là Ma vương trước hắn, và hắn chính là cháu của Ngài.
Từ đó bài kinh mở sang một câu chuyện thời xa xưa, khi Đức Thế Tôn Kakusandha xuất hiện trên thế gian cùng hai vị đệ tử thượng thủ là Vidhura và Sañjīva. Tôn giả Mahāmoggallāna thuở ấy là Ma vương Dūsī, còn Ma vương bây giờ là con của em gái ông ta, tức cháu gọi ông ta bằng cậu. Câu chuyện ấy cho thấy Ma vương Dūsī đã hai lần thất bại: lần đầu, hắn xúi người đời mắng nhiếc các tỳ-kheo, và các vị ấy đáp lại bằng tâm từ; lần sau, hắn xúi họ tâng bốc cúng dường, và các vị ấy đáp lại bằng phép quán thân bất tịnh, quán sự nhàm chán nơi đồ ăn, nơi thế gian, và quán vô thường.
Lần thứ ba thì hắn không còn đứng ngoài. Hắn nhập vào một cậu bé, cầm đá đập vỡ đầu Tôn giả Vidhura khi vị này đang theo sau Đức Thế Tôn Kakusandha. Với cái đầu vỡ, máu chảy ròng ròng, Vidhura vẫn đi theo. Đức Thế Tôn quay lại nhìn theo thế voi ngoái và nói một câu: Ma vương Dūsī này không biết đâu là mức giới hạn. Ngay khi ấy, hắn rơi khỏi chỗ mình đang đứng và sinh vào Đại địa ngục.
Phần còn lại là lời kể của chính Tôn giả Mahāmoggallāna về những gì Ngài đã trải qua trong Đại địa ngục ấy — một ngàn năm nướng trong lửa, rồi mười ngàn năm nữa nơi phần phụ của nó, với thân người và đầu cá — tiếp theo là những câu kệ cảnh cáo Ma vương. Bài kinh khép lại bằng hình ảnh vị tỳ-kheo khiển trách Ma vương ngay tại rừng Bhesakaḷā, và dạ-xoa ấy biến mất với tâm sầu muộn.
Với người chưa quen kinh điển, có thể đọc bài này như một câu chuyện về hai cách người ta thường dùng để làm lung lay một người đang tu: chê bai và tâng bốc. Bài kinh không bảo người tu tránh cả hai bằng cách làm ngơ, mà chỉ ra hai liều thuốc đối trị rất cụ thể — tâm từ với kẻ làm mình đau, và sự nhàm chán, tỉnh thức với những gì mình đang bám vào. Chi tiết Ma vương từng là chính mình trong một đời trước cũng đáng để dừng lại: trong vòng luân hồi dài này, vai kẻ quấy phá và vai người bị quấy phá đều đã từng thuộc về mỗi người.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Tôn giả Mahāmoggallāna trú tại xứ Bhaggā, ở Susumāragira, trong rừng Bhesakaḷā, khu vườn nai.
[Chú thích: Bài kinh này là đất diễn của Tôn giả Mahāmoggallāna, vị có thể nhanh chóng khuất phục Ma vương và kể lại một câu chuyện chi tiết về các đời sống trước.]
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna đang kinh hành ngoài trời.
Cũng lúc bấy giờ, Ác ma đã chui vào bụng Tôn giả Mahāmoggallāna, vào tận trong dạ dày.
[Chú thích: Ác ma đôi khi còn được gọi là Namuci, và tên ấy nhiều khả năng bắt nguồn từ một nhân vật đối nghịch trong kinh Vệ-đà, cũng là kẻ xảo quyệt cuối cùng bị Indra đánh bại. Truyền thống Bà-la-môn kể rằng đầu của Namuci bị chặt đã đem cái chết vào thế gian, nên Ma vương còn có tên Maccurāja, tức Vua Sự Chết. Hình ảnh này cũng xuất hiện trong Kỳ-na giáo.]
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna khởi lên ý nghĩ:
"Sao bụng ta lại nặng trịch thế này?
Cứ như thể ta vừa ăn một bữa đầy đậu."
[Chú thích: Các bản Hán tương ứng cũng dùng hình ảnh ăn đậu, cho thấy ý ở đây là bụng căng đầy như vừa ăn một bữa đậu.]
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna bước xuống khỏi đường kinh hành, vào tịnh thất, ngồi xuống chỗ ngồi đã trải sẵn.
Ngồi xuống rồi, Tôn giả Mahāmoggallāna quay vào tự thân, suy xét một cách như lý.
Tôn giả Mahāmoggallāna thấy Ác ma đã chui vào bụng mình, vào tận trong dạ dày.
Thấy vậy, Ngài nói với Ác ma:
"Ra đi, này Ác ma!
Ra đi, này Ác ma!
Chớ quấy nhiễu Như Lai, chớ quấy nhiễu đệ tử của Như Lai.
Chớ để điều ấy về lâu dài thành bất lợi và khổ đau cho ông."
Rồi Ác ma khởi lên ý nghĩ:
"Vị sa-môn này không biết ta, không thấy ta, mà lại nói như vầy:
'Ra đi, này Ác ma!
Ra đi, này Ác ma!
Chớ quấy nhiễu Như Lai, chớ quấy nhiễu đệ tử của Như Lai.
Chớ để điều ấy về lâu dài thành bất lợi và khổ đau cho ông.'
Ngay cả bậc Đạo sư của vị ấy cũng không thể nhận ra ta nhanh như vậy, huống chi đệ tử của Ngài lại nhận ra ta?"
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna nói với Ác ma:
"Dẫu vậy, này Ác ma, ta vẫn biết ông. Ông chớ nghĩ rằng:
'Vị ấy không biết ta.'
Ông chính là Ác ma.
Và này Ác ma, ông đang nghĩ như vầy:
'Vị sa-môn này không biết ta, không thấy ta, mà lại nói như vầy:
Ra đi, này Ác ma!
Ra đi, này Ác ma!
Chớ quấy nhiễu Như Lai, chớ quấy nhiễu đệ tử của Như Lai.
Chớ để điều ấy về lâu dài thành bất lợi và khổ đau cho ông.
Ngay cả bậc Đạo sư của vị ấy cũng không thể nhận ra ta nhanh như vậy, huống chi đệ tử của Ngài lại nhận ra ta?'"
Rồi Ác ma khởi lên ý nghĩ:
"Vị sa-môn này thật sự biết ta, thấy ta, nên mới nói như vầy:
'Ra đi, này Ác ma!
Ra đi, này Ác ma!
Chớ quấy nhiễu Như Lai, chớ quấy nhiễu đệ tử của Như Lai.
Chớ để điều ấy về lâu dài thành bất lợi và khổ đau cho ông.'"
Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Mahāmoggallāna vọt lên, đứng dựa vào khung cửa.
Tôn giả Mahāmoggallāna thấy Ác ma đang đứng dựa vào khung cửa;
thấy vậy, Ngài nói với Ác ma:
"Ở đó ta cũng thấy ông, này Ác ma. Ông chớ nghĩ rằng:
'Vị ấy không thấy ta.'
Kia là ông, này Ác ma, đang đứng dựa vào khung cửa."
Này Ác ma, thuở xưa ta từng là một Ma vương tên Dūsī, và ta có một người em gái tên Kāḷī.
[Chú thích: Dūsī nghĩa là kẻ làm hư hỏng, Kāḷī nghĩa là người nữ đen; đây là một trong những chỗ sớm nhất nhắc đến vị nữ thần mang tên ấy. Câu chuyện này cũng được kể lại ở Trưởng lão kệ 20.1.]
Ông là con của bà ấy.
Như vậy ông là cháu của ta.
Này Ác ma, vào thời ấy, Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, xuất hiện trên thế gian.
[Chú thích: Đức Thế Tôn Kakusandha còn được nhắc ở Tương ưng bộ 12.7, Tương ưng bộ 15.20, Trường bộ 14, Trường bộ 32 và Trưởng lão kệ 7.5.]
Này Ác ma, Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, có một cặp đệ tử thượng thủ tên là Vidhura và Sañjīva, một cặp hiền thiện.
Này Ác ma, trong tất cả các đệ tử của Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác,
không một ai sánh bằng Tôn giả Vidhura về việc thuyết Pháp.
Này Ác ma, chính vì lý do ấy mà Tôn giả Vidhura có được tên gọi là Vidhura.
[Chú thích: Ở Tăng chi bộ 3.20, vidhura là sự khéo léo của người buôn trong việc mua bán, dùng để ví với vị tỳ-kheo không biết mệt mỏi trong nỗ lực.]
Này Ác ma, còn Tôn giả Sañjīva thì dù đi vào rừng, đến gốc cây, hay vào căn nhà trống, cũng đều dễ dàng nhập vào diệt thọ tưởng định, trạng thái mà tưởng và cảm thọ đều dừng hẳn.
Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sañjīva đang ngồi dưới gốc một cây nọ, đã nhập vào diệt thọ tưởng định.
Này Ác ma, những người chăn bò, người chăn trâu, nông dân và khách bộ hành thấy Tôn giả Sañjīva đang ngồi dưới gốc một cây nọ, đã nhập vào diệt thọ tưởng định;
thấy vậy, họ nghĩ:
"Ôi, lạ thay, ôi, kỳ diệu thay!
Vị sa-môn này đã chết ngay trong lúc ngồi.
Nào, ta hãy thiêu vị ấy đi."
Rồi này Ác ma, những người chăn bò, người chăn trâu, nông dân và khách bộ hành ấy gom cỏ, củi và phân bò, chất đống lên thân Tôn giả Sañjīva, châm lửa rồi bỏ đi.
Rồi này Ác ma, khi đêm ấy đã qua, Tôn giả Sañjīva xuất khỏi định ấy, giũ sạch y, đắp y vào buổi sáng, cầm bát và y, đi vào làng để khất thực.
Này Ác ma, những người chăn bò, người chăn trâu, nông dân và khách bộ hành ấy thấy Tôn giả Sañjīva đang đi khất thực;
thấy vậy, họ nghĩ:
"Ôi, lạ thay, ôi, kỳ diệu thay!
Vị sa-môn này đã chết ngay trong lúc ngồi, mà nay vị ấy đã sống lại!"
Này Ác ma, chính vì lý do ấy mà Tôn giả Sañjīva có được tên gọi là Sañjīva.
[Chú thích: Sañjīva nghĩa là người sống lại.]
Rồi này Ác ma, Ma vương Dūsī khởi lên ý nghĩ:
"Ta không biết được chỗ đến và chỗ đi của các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp này.
[Chú thích: Thành ngữ "chỗ đến và chỗ đi" chỉ đường tái sinh của một người.]
Vậy ta hãy nhập vào các bà-la-môn và gia chủ, và bảo họ:
'Hãy đến, các ông hãy mắng nhiếc, chửi bới, chọc tức, quấy nhiễu các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp ấy.
May ra, khi bị các ông mắng nhiếc, chửi bới, chọc tức, quấy nhiễu, tâm của họ có thể dao động, để Ma vương Dūsī có thể tìm được một khe hở.'"
[Chú thích: Ma vương chỉ xúi giục và khích lệ, chứ không điều khiển hành vi của họ, nên họ vẫn chịu trách nhiệm về việc mình làm.]
Rồi này Ác ma, Ma vương Dūsī nhập vào các bà-la-môn và gia chủ ấy và bảo:
"Hãy đến, các ông hãy mắng nhiếc, chửi bới, chọc tức, quấy nhiễu các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp ấy.
May ra, khi bị các ông mắng nhiếc, chửi bới, chọc tức, quấy nhiễu, tâm của họ có thể dao động, để Ma vương Dūsī có thể tìm được một khe hở."
Rồi này Ác ma, các bà-la-môn và gia chủ ấy, bị Ma vương Dūsī nhập vào, mắng nhiếc, chửi bới, chọc tức, quấy nhiễu các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp:
"Bọn đầu trọc này, bọn sa-môn giả hiệu, bọn hèn hạ, bọn da đen, bọn sinh ra từ gót chân của người bà con ta, lại nói 'chúng ta thiền, chúng ta thiền', rồi vai rũ xuống, mặt cúi gằm, người mềm nhũn, chúng ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ.
[Chú thích: Chuỗi "ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ" dịch bốn động từ cùng gốc với jhāna, mỗi từ có một tiền tố khác nhau, tạo giọng chế giễu.]
Ví như con cú đậu trên cành cây, đang rình một con chuột, mà ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ;
cũng vậy, bọn đầu trọc này, bọn sa-môn giả hiệu, bọn hèn hạ, bọn da đen, bọn sinh ra từ gót chân của người bà con ta, lại nói 'chúng ta thiền, chúng ta thiền', rồi vai rũ xuống, mặt cúi gằm, người mềm nhũn, chúng ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ.
Ví như con chó rừng bên bờ sông, đang rình một con cá, mà ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ;
cũng vậy, bọn đầu trọc này, bọn sa-môn giả hiệu, bọn hèn hạ, bọn da đen, bọn sinh ra từ gót chân của người bà con ta, lại nói 'chúng ta thiền, chúng ta thiền', rồi vai rũ xuống, mặt cúi gằm, người mềm nhũn, chúng ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ.
Ví như con mèo nơi ngõ hẻm, đống rác, bờ cống, đang rình một con chuột, mà ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ;
cũng vậy, bọn đầu trọc này, bọn sa-môn giả hiệu, bọn hèn hạ, bọn da đen, bọn sinh ra từ gót chân của người bà con ta, lại nói 'chúng ta thiền, chúng ta thiền', rồi vai rũ xuống, mặt cúi gằm, người mềm nhũn, chúng ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ.
Ví như con lừa đã thôi chở nặng, đứng nơi ngõ hẻm, đống rác, bờ cống, mà ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ;
cũng vậy, bọn đầu trọc này, bọn sa-môn giả hiệu, bọn hèn hạ, bọn da đen, bọn sinh ra từ gót chân của người bà con ta, lại nói 'chúng ta thiền, chúng ta thiền', rồi vai rũ xuống, mặt cúi gằm, người mềm nhũn, chúng ngồi thiền, ngồi thiền định, ngồi trầm ngâm, ngồi ngẩn ngơ."
Này Ác ma, những người chết vào thời ấy, phần lớn sau khi thân hoại mạng chung đều sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.
Rồi này Ác ma, Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, các bà-la-môn và gia chủ đã bị Ma vương Dūsī nhập vào:
'Hãy đến, các ông hãy mắng nhiếc, chửi bới, chọc tức, quấy nhiễu các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp ấy. May ra, khi bị các ông mắng nhiếc, chửi bới, chọc tức, quấy nhiễu, tâm của họ có thể dao động, để Ma vương Dūsī có thể tìm được một khe hở.'
Này các tỳ-kheo, hãy đến. Các ông hãy an trú với tâm câu hữu với từ, rải khắp một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, các ông hãy an trú với tâm câu hữu với từ, rải khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không não hại.
[Chú thích: Những phép thiền này để đối trị khuynh hướng sân giận.]
Các ông hãy an trú với tâm câu hữu với bi, rải khắp một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, các ông hãy an trú với tâm câu hữu với bi, rải khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không não hại.
Các ông hãy an trú với tâm câu hữu với hỷ, rải khắp một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, các ông hãy an trú với tâm câu hữu với hỷ, rải khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không não hại.
Các ông hãy an trú với tâm câu hữu với xả, rải khắp một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, các ông hãy an trú với tâm câu hữu với xả, rải khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không não hại."
Rồi này Ác ma, các tỳ-kheo ấy, được Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, khuyên bảo và chỉ dạy như vậy, liền đi vào rừng, đến gốc cây, hay vào căn nhà trống, và an trú với tâm câu hữu với từ, rải khắp một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, họ an trú với tâm câu hữu với từ, rải khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không não hại.
Họ an trú với tâm câu hữu với bi, rải khắp một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, họ an trú với tâm câu hữu với bi, rải khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không não hại.
Họ an trú với tâm câu hữu với hỷ, rải khắp một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, họ an trú với tâm câu hữu với hỷ, rải khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không não hại.
Họ an trú với tâm câu hữu với xả, rải khắp một phương, rồi phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, họ an trú với tâm câu hữu với xả, rải khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không não hại.
Rồi này Ác ma, Ma vương Dūsī khởi lên ý nghĩ:
"Dẫu ta làm như vậy, ta vẫn không biết được chỗ đến và chỗ đi của các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp này. Vậy ta hãy nhập vào các bà-la-môn và gia chủ, và bảo họ:
'Hãy đến, các ông hãy kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp ấy.
May ra, khi được các ông kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường, tâm của họ có thể dao động, để Ma vương Dūsī có thể tìm được một khe hở.'"
[Chú thích: Ma vương không hề muốn kính trọng các tỳ-kheo thật lòng, mà muốn dùng sự tâng bốc để làm hư hỏng họ.]
Rồi này Ác ma, Ma vương Dūsī nhập vào các bà-la-môn và gia chủ ấy và bảo:
"Hãy đến, các ông hãy kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp ấy.
May ra, khi được các ông kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường, tâm của họ có thể dao động, để Ma vương Dūsī có thể tìm được một khe hở."
Rồi này Ác ma, các bà-la-môn và gia chủ ấy, bị Ma vương Dūsī nhập vào, kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp.
Này Ác ma, những người chết vào thời ấy, phần lớn sau khi thân hoại mạng chung đều sinh vào cõi lành, cõi trời.
Rồi này Ác ma, Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, các bà-la-môn và gia chủ đã bị Ma vương Dūsī nhập vào:
'Hãy đến, các ông hãy kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường các tỳ-kheo trì giới, có thiện pháp ấy.
May ra, khi được các ông kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường, tâm của họ có thể dao động, để Ma vương Dūsī có thể tìm được một khe hở.'
Này các tỳ-kheo, hãy đến. Các ông hãy an trú quán tánh bất tịnh nơi thân, tưởng nhàm chán nơi đồ ăn, tưởng không ưa thích đối với toàn thế giới, quán tánh vô thường nơi mọi pháp hữu vi."
[Chú thích: Những phép thiền này để đối trị sự dính mắc.]
Rồi này Ác ma, các tỳ-kheo ấy, được Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, khuyên bảo và chỉ dạy như vậy, liền đi vào rừng, đến gốc cây, hay vào căn nhà trống, và an trú quán tánh bất tịnh nơi thân, tưởng nhàm chán nơi đồ ăn, tưởng không ưa thích đối với toàn thế giới, quán tánh vô thường nơi mọi pháp hữu vi.
Rồi này Ác ma, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đắp y, cầm bát và y, cùng với Tôn giả Vidhura làm vị sa-môn đi phía sau, đi vào làng để khất thực.
Rồi này Ác ma, Ma vương Dūsī nhập vào một cậu bé nọ, cầm một hòn đá, giáng vào đầu Tôn giả Vidhura, làm vỡ toang đầu Ngài.
Rồi này Ác ma, với cái đầu vỡ toang, máu chảy ròng ròng, Tôn giả Vidhura vẫn bám theo sau lưng Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
[Chú thích: Chữ yeva ở đây mang nghĩa nhượng bộ, nhấn mạnh rằng dù đầu đã vỡ, Ngài vẫn tiếp tục đi theo.]
Rồi này Ác ma, Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, quay lại nhìn theo thế voi ngoái:
[Chú thích: Thế voi ngoái là cách quay đầu nhìn lại chậm rãi của voi khi rời đi, về sau Đức Thế Tôn cũng dùng khi rời Vesālī lần cuối. Trong tiếng Phạn có cách nhìn tương tự gọi là thế sư tử ngoái.]
"Ma vương Dūsī này không biết đâu là mức giới hạn."
Và này Ác ma, ngay khi Ngài vừa ngoái nhìn, Ma vương Dūsī rơi khỏi chỗ ấy và sinh vào Đại địa ngục.
[Chú thích: Chữ sahāpalokanāya cho thấy Ma vương rơi vào địa ngục cùng lúc với cái nhìn ấy, chứ không phải vì cái nhìn ấy.]
Này Ác ma, Đại địa ngục ấy có ba tên gọi:
"Liên hệ với sáu xúc xứ", "Bị cọc sắt đâm xuyên", và "Khổ riêng từng phần".
[Chú thích: Địa ngục "liên hệ với sáu xúc xứ" và cõi trời tương ứng được bàn thêm ở Tương ưng bộ 35.135. Ý nghĩa của "khổ riêng từng phần" được làm rõ trong các câu kệ phía dưới.]
Rồi này Ác ma, các ngục tốt đến gần ta và nói:
"Này hiền giả, khi cọc này gặp cọc kia nơi tim ông,
bấy giờ ông sẽ biết rằng:
'Ta đã bị nướng trong địa ngục một ngàn năm rồi.'"
Này Ác ma, ta đã bị nướng trong Đại địa ngục ấy nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm.
Mười ngàn năm ta bị nướng nơi phần phụ của Đại địa ngục ấy, trong khi cảm nhận cái cảm thọ mang tên "đây là sự thoát ra".
[Chú thích: "Đây là sự thoát ra" có lẽ chỉ cảm thọ có được khi thoát khỏi Đại địa ngục để sang phần phụ. Bản chú giải lại hiểu đó là cảm thọ phát sinh do nghiệp.]
Này Ác ma, thân ta khi ấy giống như thân người,
nhưng đầu thì giống như đầu cá.
Địa ngục ấy thế nào,
nơi Dūsī bị nướng chín,
sau khi xúc phạm đệ tử Vidhura,
cùng bậc bà-la-môn Kakusandha?
Có một trăm cọc sắt,
tất cả đều khổ riêng từng phần;
Địa ngục ấy là như vậy,
nơi Dūsī bị nướng chín,
sau khi xúc phạm đệ tử Vidhura,
cùng bậc bà-la-môn Kakusandha.
Người nào trực nhận được điều này,
vị tỳ-kheo đệ tử của bậc Giác ngộ;
xúc phạm một vị tỳ-kheo như thế,
này Kẻ Đen, ông sẽ chuốc lấy khổ đau.
Đứng giữa hồ nước,
những cung điện tồn tại suốt một kiếp;
sắc ngọc bích, xinh đẹp,
rực rỡ và sáng ngời;
các nàng tiên múa lượn nơi ấy,
mang đủ sắc màu khác nhau.
Người nào trực nhận được điều này,
vị tỳ-kheo đệ tử của bậc Giác ngộ;
xúc phạm một vị tỳ-kheo như thế,
này Kẻ Đen, ông sẽ chuốc lấy khổ đau.
Chính ta là người, được bậc Giác ngộ thúc bảo,
vị tỳ-kheo ấy, trước mặt Tăng đoàn,
đã làm rung chuyển tòa nhà Migāramātupāsāda,
bằng ngón chân cái của mình.
[Chú thích: Sự việc này được kể ở Tương ưng bộ 51.14.]
Người nào trực nhận được điều này,
vị tỳ-kheo đệ tử của bậc Giác ngộ;
xúc phạm một vị tỳ-kheo như thế,
này Kẻ Đen, ông sẽ chuốc lấy khổ đau.
Chính ta là người đã làm rung chuyển cung điện Vejayanta,
bằng ngón chân cái của mình;
nhờ oai lực thần thông,
và đã khiến chư thiên kinh sợ.
[Chú thích: Xem Trung Bộ 37:11.4.]
Người nào trực nhận được điều này,
vị tỳ-kheo đệ tử của bậc Giác ngộ;
xúc phạm một vị tỳ-kheo như thế,
này Kẻ Đen, ông sẽ chuốc lấy khổ đau.
Chính ta là người, trong cung điện Vejayanta,
đã hỏi Sakka (Đế Thích) rằng:
'Này Vāsava, ngài có biết
vị được giải thoát nhờ đoạn tận ái?'
[Chú thích: Ở Trung Bộ 37, Tôn giả gọi vị ấy là Kosiya, còn Vāsava cũng là cách gọi Sakka rất thường dùng. Hợp từ taṇhākkhayavimuttiyo nên hiểu là taṇhākkhayavimutti yo, nghĩa là "vị được giải thoát nhờ đoạn tận ái".]
Và Sakka đã trả lời ta,
khi được hỏi, đúng như sự thật.
Người nào trực nhận được điều này,
vị tỳ-kheo đệ tử của bậc Giác ngộ;
xúc phạm một vị tỳ-kheo như thế,
này Kẻ Đen, ông sẽ chuốc lấy khổ đau.
Chính ta là người đã hỏi Phạm Thiên,
trong hội trường Sudhammā, trước đại chúng:
[Chú thích: Đoạn này kể lại sự việc ở Tương ưng bộ 6.5, nhưng ở đó không nhắc đến hội trường Sudhammā.]
'Thưa hiền giả, ngài vẫn còn giữ kiến ấy,
cái kiến mà ngài đã có trước kia chăng?
Ngài có thấy ánh sáng rực rỡ
vượt qua cõi Phạm Thiên không?'
Và Phạm Thiên đã trả lời ta,
từng bước một, đúng như sự thật:
'Này hiền giả, ta không còn cái kiến ấy,
cái kiến mà ta đã có trước kia.
Ta thấy ánh sáng rực rỡ vượt qua
cõi Phạm Thiên ấy;
Vậy thì hôm nay ta làm sao có thể nói
rằng ta là thường còn, vĩnh cửu?'
[Chú thích: Xem Tương ưng bộ 6.5.]
Người nào trực nhận được điều này,
vị tỳ-kheo đệ tử của bậc Giác ngộ;
xúc phạm một vị tỳ-kheo như thế,
này Kẻ Đen, ông sẽ chuốc lấy khổ đau.
Chính ta là người đã chạm đến đỉnh núi Mahāmeru,
bằng năng lực của sự giải thoát;
Rừng rú của những người Pubbavideha,
và những con người nằm trên mặt đất.
[Chú thích của người dịch: Pubbavideha là một trong bốn châu lớn trong vũ trụ quan Phật giáo; "những con người nằm trên mặt đất" là cách nói khó hiểu, có bản hiểu là dân chúng sống trên vùng đất ấy.]
Người nào trực nhận được điều này,
vị tỳ-kheo đệ tử của bậc Giác ngộ;
xúc phạm một vị tỳ-kheo như thế,
này Kẻ Đen, ông sẽ chuốc lấy khổ đau.
Lửa đâu có nghĩ rằng:
"Ta sẽ đốt kẻ ngu!"
Nhưng kẻ ngu xúc phạm lửa đang cháy,
thì chính nó bị cháy.
Cũng vậy, này Ma vương,
khi xúc phạm Như Lai,
chính ông sẽ đốt cháy mình,
như kẻ ngu chạm vào lửa.
Ma vương đã tạo ra điều bất thiện,
khi xúc phạm Như Lai.
Này Ác ma, ông nghĩ sao,
'điều ác của ta sẽ không chín quả' ư?
Kẻ làm ác thì chất chứa điều ác,
về lâu dài, này kẻ kết liễu;
Này Ma vương, hãy nhàm chán nơi bậc Giác ngộ,
chớ đặt hy vọng nơi các tỳ-kheo.
Như vậy, vị tỳ-kheo ấy đã khiển trách Ma vương,
ngay tại rừng Bhesakaḷā;
Rồi dạ-xoa ấy, với tâm sầu muộn,
biến mất ngay tại chỗ ấy.
[Chú thích: Bản chú giải cho Trưởng lão kệ 20.1 nói rằng câu kệ này được thêm vào trong lần kết tập kinh điển.]
Kinh Sự Khiển Trách Ma, bài thứ mười, đã hoàn thành.
Phẩm Cūḷayamaka, phẩm thứ năm, đã hoàn thành.
Tóm tắt phẩm
Sāleyya, Verañja và hai bài Tuṭṭhi,
cùng Cūḷa và Mahā Dhammasamādāna;
Vīmaṁsaka, Kosambi và bài vị bà-la-môn,
Dūsī và Ma vương — phẩm thứ mười là vậy.
[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt tên các bài trong phẩm, mỗi tên chỉ gợi một chữ để người tụng nhớ thứ tự; có tên đã được rút gọn nên không hoàn toàn khớp với tiêu đề của từng bài.]
Mục lục các phẩm
Mūlapariyāya trước tiên,
và Sīhanāda, bài tối thượng;
Kakaca và Gosiṅga,
cùng Sāleyya — đó là năm bài.
[Chú thích của người dịch: Năm tên này là bài mở đầu của năm phẩm trong nửa đầu Trung Bộ Kinh, nên bài kệ dùng chúng để nhớ tên năm phẩm.]
Phần Mūlapaṇṇāsa đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.