buppou

Trung Bộ Kinh · bài 76/152

Kinh Sandaka

Sandakasutta

52 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài kinh này là bài thứ bảy mươi sáu trong Trung Bộ Kinh, tập kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa của Kinh tạng Pali. Chuyện xảy ra tại Kosambī, một thành phố lớn của Ấn Độ thời ấy. Vào một buổi chiều, Tôn giả Ānanda ra khỏi chỗ tĩnh cư và rủ các tỳ-kheo đi xem một hang đá ở hồ Devakata cho khuây khoả. Đến nơi, các vị gặp du sĩ Sandaka đang ngồi với hội chúng năm trăm du sĩ của ông. Đám đông đang ồn ào bàn chuyện vua chúa, chuyện ăn uống, chuyện đàn bà và chiến tranh. Sandaka thấy Ānanda từ xa, liền bảo hội chúng im lặng, vì những người xuất gia ấy ưa sự yên tĩnh. Khi Ānanda ngồi xuống, Sandaka thỉnh cầu: xin ngài giảng cho chúng tôi nghe giáo pháp của truyền thống ngài.

Phần đầu bài giảng là một cuộc điểm danh những lập trường triết học đương thời. Ānanda kể bốn nếp sống mà ông gọi là phá hoại đời sống phạm hạnh. Thứ nhất là thuyết duy vật: không có bố thí, không có quả của việc tốt việc xấu, chết là hết, thân này chỉ là bốn đại tố rồi tan về với đất nước lửa gió. Thứ hai là thuyết cho rằng làm gì cũng không có tội: giết, chặt, cướp, nói dối đều không đem lại quả xấu nào. Thứ ba là thuyết định mệnh: không có nhân, không có duyên, chúng sinh ô nhiễm hay thanh tịnh đều do số phận, con người không có sức mạnh và không có nỗ lực. Thứ tư là thuyết bảy khối: con người do bảy thứ không ai làm ra hợp thành, nên dù có chặt đầu ai thì lưỡi gươm cũng chỉ lọt qua khe giữa bảy khối ấy. Điều đáng chú ý là Ānanda không tranh luận xem các thuyết ấy đúng hay sai. Ông chỉ đặt một câu hỏi rất thực tế: nếu thuyết ấy đúng, thì người sống đời phạm hạnh và kẻ buông thả cũng đến cùng một chỗ, vậy sống đời phạm hạnh để làm gì?

Phần tiếp theo bàn về bốn kiểu đời sống tu hành nghe rất tự tin nhưng không đáng nương cậy. Đó là vị thầy tự nhận biết hết thấy hết, rồi lạc đường, bị chó cắn, phải hỏi đường đi đến một ngôi làng. Đó là vị thầy chỉ truyền lại lời của người trước, mà trong lời truyền lại thì có chỗ nghe khéo, có chỗ nghe nhầm. Đó là vị thầy suy luận, dựa vào lý lẽ và sự dò xét của chính mình. Và đó là vị thầy đần độn, hễ bị hỏi thì nói quanh co như con lươn: tôi không nói thế này, cũng không nói thế kia, cũng không nói khác đi. Bốn kiểu ấy không nhắm vào tôn giáo nào nói riêng; chúng chỉ ra rằng một lời tuyên bố tự tin thì chưa phải là một chỗ dựa thật.

Nửa sau bài kinh mới là phần khẳng định. Ānanda kể con đường của một bậc Giác ngộ xuất hiện trong đời: vị ấy tự mình chứng biết rồi mới dạy lại; người nghe khởi lòng tin, xuất gia, giữ giới, thu thúc các căn, sống biết đủ, lui về chỗ vắng ngồi thiền, lần lượt vào bốn tầng thiền-na, rồi hướng tâm đến ba thứ hiểu biết: nhớ lại các đời sống trước, thấy các chúng sinh chết và sinh theo nghiệp của họ, và cuối cùng là biết rõ bốn sự thật cùng sự đoạn tận các lậu hoặc. Điểm mấu chốt mà Ānanda lặp lại sau mỗi chặng rất đơn giản: một vị thầy mà học trò của mình đạt được sự thù thắng như vậy thì đáng để sống đời phạm hạnh dưới vị ấy, và sống như vậy thì có kết quả thật.

Sandaka hỏi tiếp hai câu rất sắc. Thứ nhất: một vị A-la-hán đã sạch lậu hoặc thì có còn hưởng dục không? Ānanda đáp: không, và kể năm việc vị ấy không còn có thể làm, trong đó có việc tích trữ của cải để hưởng thụ như khi còn sống trong nhà. Thứ hai: có phải vị ấy lúc nào cũng đang nghĩ rằng lậu hoặc của mình đã hết? Ānanda đưa ra một ví dụ dễ hiểu: người bị chặt mất tay chân không đi đâu cũng nhắc rằng mình không còn tay chân; chỉ khi xem xét lại thì mới biết. Cũng vậy, trí biết mình đã hết lậu hoặc có mặt khi cần, chứ không phải một câu niệm thường trực trong tâm.

Câu cuối cùng của bài là câu hỏi về số người đã được giải thoát, và đây là chỗ bài kinh chạm vào chuyện rất người. Ānanda nói: không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế. Sandaka nhận ra ngay điều đáng khen: ở đây người ta không đề cao pháp của mình và không chê bai pháp của người khác, mà chỉ giảng trong phạm vi của mình, và nhờ vậy mới thấy được nhiều người đã được giải thoát. Ông còn chê những người Ājīvaka chỉ công nhận có ba vị. Rồi ông cho hội chúng của mình đi xuất gia dưới Đức Thế Tôn, nhưng chính ông thì ở lại, và nói thật một câu chua chát: nay ông không dễ gì từ bỏ lợi dưỡng, cung kính và danh vọng nữa. Bài kinh khép lại ở đó, không phán xét ông, và cũng không hứa rằng ai nghe xong cũng ra đi.

[Chú thích: Tên Sandaka và địa điểm này không thấy xuất hiện ở chỗ nào khác trong kinh tạng Pali.]

Sandakasutta — bài kinh mang tên du sĩ Sandaka, người đã nghe Tôn giả Ānanda giảng bốn nếp sống phi phạm hạnh và bốn đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy, rồi cho hội chúng của mình đi xuất gia


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Kosambī (Kiều-thưởng-di), trong tịnh xá của Ghosita.

Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka trú tại hang Pilakkha, cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo, khoảng năm trăm du sĩ.

[Chú thích: Cả tên Sandaka lẫn địa điểm này đều không thấy xuất hiện ở chỗ nào khác trong kinh tạng.]

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Ānanda (A-nan) xuất khỏi chỗ tĩnh cư, gọi các tỳ-kheo:

"Này các hiền giả, ta hãy đi đến hồ Devakata để ngắm hang."

[Chú thích: Đi dạo ngắm cảnh là chuyện được ưa chuộng thời ấy. Những chuyến đi như vậy, ngoài việc thưởng thức thiên nhiên, còn cho các tỳ-kheo dịp xem xét những nơi có thể ở lại để tu thiền.]

Các tỳ-kheo ấy đáp lời Tôn giả Ānanda: "Thưa vâng, hiền giả."

Rồi Tôn giả Ānanda cùng với nhiều tỳ-kheo đi đến hồ Devakata.

Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka đang ngồi với hội chúng du sĩ đông đảo, ồn ào, gây những tiếng động lớn, bàn đủ thứ chuyện thấp kém, như là:

chuyện vua chúa, chuyện kẻ trộm, chuyện quan đại thần; chuyện quân đội, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh; chuyện ăn, chuyện uống, chuyện áo quần, chuyện giường chiếu; chuyện vòng hoa, chuyện hương thơm; chuyện bà con, chuyện xe cộ; chuyện làng, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện quốc độ; chuyện đàn bà, chuyện người hùng; chuyện ở đầu đường, chuyện ở chỗ giếng nước; chuyện người đã khuất; chuyện tạp nhạp; chuyện kể về đất liền, chuyện kể về biển cả; chuyện sinh vào đời này hay đời khác.

Du sĩ Sandaka thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến.

Thấy vậy, ông ấy dàn xếp hội chúng của mình:

"Quý vị hãy im lặng, đừng gây tiếng động.

Đây là sa-môn Ānanda, đệ tử của sa-môn Gotama, đang đi đến.

Trong số các đệ tử của sa-môn Gotama trú tại Kosambī, vị này là một trong những người ấy, sa-môn Ānanda.

[Chú thích: Câu này đứng một mình thì có vẻ thừa. Ở những chỗ khác, thành ngữ ấy dùng để nói rõ người được nhắc đến là đệ tử tại gia; có thể văn bản ở đây đã bị hỏng, và nguyên thủy muốn nói Ānanda là đệ tử xuất gia.]

Các vị ấy ưa im lặng, được rèn luyện trong sự im lặng, và tán thán sự im lặng.

Biết đâu, khi thấy hội chúng im lặng, vị ấy sẽ nghĩ là nên đến gần."

Rồi các du sĩ ấy trở nên im lặng.

Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ du sĩ Sandaka.

Du sĩ Sandaka nói với Tôn giả Ānanda:

"Thưa ngài Ānanda, mời ngài đến; chào mừng ngài Ānanda.

Đã lâu lắm rồi, thưa ngài Ānanda, ngài mới tạo dịp đến đây.

Mời ngài Ānanda ngồi xuống, chỗ ngồi đây đã được sắp sẵn."

Tôn giả Ānanda ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp sẵn.

Du sĩ Sandaka cũng lấy một chỗ ngồi thấp, rồi ngồi xuống một bên.

Tôn giả Ānanda nói với du sĩ Sandaka đang ngồi một bên:

"Này Sandaka, các vị đang ngồi bàn chuyện gì vậy? Và câu chuyện giữa các vị đang dở dang ở đâu?"

"Thưa ngài Ānanda, xin gác lại câu chuyện mà chúng tôi đang ngồi bàn.

Ngài Ānanda sẽ không khó nghe lại pháp thoại ấy về sau đâu.

Thật hay thay nếu chính ngài Ānanda giảng cho chúng tôi một pháp thoại theo truyền thống thầy tổ của ngài."

"Vậy thì, này Sandaka, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói."

"Thưa vâng, thưa ngài", du sĩ Sandaka đáp lời Tôn giả Ānanda.

Tôn giả Ānanda nói như vầy:

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết bốn nếp sống phi phạm hạnh và bốn đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy; ở nơi ấy, một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

[Chú thích của người dịch: Nếp sống phi phạm hạnh (abrahmacariyavāsa) là lối sống mà ai theo nó thì đời sống phạm hạnh không thể đứng vững. Đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy (anassāsika) là lối tu nghe rất tự tin nhưng không đem lại chỗ nương chắc thật.]

"Nhưng thưa ngài Ānanda, bốn nếp sống phi phạm hạnh ấy là những gì, mà Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý?"

Này Sandaka, ở đây có một vị thầy có thuyết và có quan điểm như vầy:

"Không có bố thí, không có tế lễ, không có lễ cúng; không có quả và dị thục của các nghiệp đã làm tốt hay đã làm xấu; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sinh sinh hóa; không có những sa-môn, bà-la-môn ở đời đã đi đúng đường, đã thực hành đúng, và sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí đời này và đời sau, lại tuyên bố điều ấy.

[Chú thích: Quan điểm này được gán cho Ajita Kesakambala trong Trường Bộ 2. Việc phủ nhận mẹ và cha thường được hiểu là phủ nhận bổn phận đạo đức đối với cha mẹ; nhưng ở đây nhiều khả năng đó là một thuyết về sự thụ thai, cho rằng đứa con không do cha mẹ tạo ra mà do bốn đại tố hợp thành, cha mẹ chỉ là người khởi xướng và ấp ủ.]

Người này do bốn đại tố hợp thành. Khi chết, phần đất trong thân trở về với khối đất, nhập vào khối đất; phần nước trong thân trở về với khối nước, nhập vào khối nước; phần lửa trong thân trở về với khối lửa, nhập vào khối lửa; phần gió trong thân trở về với khối gió, nhập vào khối gió; các căn chuyển vào hư không.

[Chú thích: Đây là cách phân tích con người theo chủ nghĩa duy vật. Chữ kāya (khối) là trọng tâm của Kỳ-na giáo; kinh Ācārāṅga nói các khối đất, nước, lửa, gió đều có sự sống nên phải tránh làm hại.]

Bốn người khiêng cáng đưa xác chết đi,

dấu chân còn in đến tận chỗ hỏa táng.

Xương trở nên trắng bệch như màu chim bồ câu.

Các lễ cúng hóa thành tro.

Bố thí là điều mà kẻ ngu đặt ra.

Ai nói rằng có cái gì tồn tại, kẻ ấy chỉ nói lời rỗng tuếch, dối trá, ba hoa.

Kẻ ngu và người trí, khi thân hoại mạng chung, đều bị chặt đứt, bị tiêu diệt, không còn sau khi chết."

Này Sandaka, ở đấy một người sáng suốt suy xét như vầy:

Vị thầy này có thuyết và có quan điểm như vầy:

không có bố thí, không có tế lễ, không có lễ cúng; không có quả và dị thục của các nghiệp đã làm tốt hay đã làm xấu; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sinh sinh hóa; không có những sa-môn, bà-la-môn ở đời đã đi đúng đường, đã thực hành đúng, và sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí đời này và đời sau, lại tuyên bố điều ấy.

Người này do bốn đại tố hợp thành. Khi chết, phần đất trong thân trở về với khối đất, nhập vào khối đất; phần nước trong thân trở về với khối nước, nhập vào khối nước; phần lửa trong thân trở về với khối lửa, nhập vào khối lửa; phần gió trong thân trở về với khối gió, nhập vào khối gió; các căn chuyển vào hư không.

Bốn người khiêng cáng đưa xác chết đi, dấu chân còn in đến tận chỗ hỏa táng.

Xương trở nên trắng bệch như màu chim bồ câu.


Các lễ cúng hóa thành tro.

Bố thí là điều mà kẻ ngu đặt ra.

Ai nói rằng có cái gì tồn tại, kẻ ấy chỉ nói lời rỗng tuếch, dối trá, ba hoa.

Kẻ ngu và người trí, khi thân hoại mạng chung, đều bị chặt đứt, bị tiêu diệt, không còn sau khi chết.

Nếu lời của vị thầy này là đúng, thì ở đây, ta chưa làm gì cũng thành như đã làm; ta chưa sống đời phạm hạnh cũng thành như đã sống.

Cả hai chúng ta ở đây đều ngang nhau, đều đạt đến một mức như nhau, thế mà ta lại là người không nói rằng cả hai chúng ta sẽ bị chặt đứt, bị tiêu diệt, sẽ không còn sau khi chết.

Việc vị thầy này ở trần, cạo đầu, ngồi xổm mà sống, nhổ râu tóc, hóa ra là thừa thãi, bởi ta đây đang sống trong nhà có con cái chen chúc, đang hưởng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi (Ca-thi), đang đeo vòng hoa, hương thơm và phấn sáp, đang nhận vàng và bạc, thế mà về sau ta sẽ có cùng một cảnh giới, cùng một nơi tái sinh với vị thầy ấy.

Vậy ta biết được gì, thấy được gì mà phải sống đời phạm hạnh dưới vị thầy này?

"Đây là nếp sống phi phạm hạnh",

biết như vậy, người ấy nhàm chán đời sống phạm hạnh ấy mà bỏ đi.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết đây là nếp sống phi phạm hạnh thứ nhất, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, ở đây có một vị thầy có thuyết và có quan điểm như vầy:

"Kẻ làm hay sai người làm, kẻ chặt hay sai người chặt, kẻ nấu hay sai người nấu, kẻ làm cho đau khổ hay sai người làm cho đau khổ, kẻ làm cho mệt mỏi hay sai người làm cho mệt mỏi, kẻ làm cho run sợ hay sai người làm cho run sợ, kẻ giết hại sinh mạng hay sai người giết hại sinh mạng, kẻ lấy của không cho, kẻ phá nhà, kẻ cướp của, kẻ đốt nhà, kẻ chặn đường, kẻ ngoại tình, kẻ nói dối — làm tất cả những điều ấy thì không có tội ác nào được làm ra.

[Chú thích: Quan điểm này được gán cho Pūraṇa Kassapa trong Trường Bộ 2. Đây là sự phủ nhận thuyết nghiệp; có lẽ đó không phải toàn bộ giáo lý của ông, mà là một thuyết định mệnh cứng, cho rằng ta không có chọn lựa nào trong việc mình làm. Trong những ngữ cảnh như vậy, động từ kar- có nghĩa là trừng phạt, gây đau.]

Dù có dùng bánh xe bén như lưỡi dao mà biến mọi sinh vật trên quả đất này thành một khối thịt, một đống thịt, thì cũng không có tội ác nào từ đó, không có sự sinh khởi của tội ác.

Dù có đi dọc bờ phía nam sông Gaṅgā (sông Hằng) mà giết, mà chém, mà chặt, mà sai chặt, mà nấu, mà sai nấu, thì cũng không có tội ác nào từ đó, không có sự sinh khởi của tội ác.

Dù có đi dọc bờ phía bắc sông Gaṅgā mà cho, mà sai cho, mà tế lễ, mà sai tế lễ, thì cũng không có phước nào từ đó, không có sự sinh khởi của phước.

Trong bố thí, trong tự chế, trong thu thúc, trong nói lời chân thật, không có phước, không có sự sinh khởi của phước."

Này Sandaka, ở đấy một người sáng suốt suy xét như vầy:

Vị thầy này có thuyết và có quan điểm như vầy:

kẻ làm hay sai người làm, kẻ chặt hay sai người chặt, kẻ nấu hay sai người nấu, kẻ làm cho đau khổ hay sai người làm cho đau khổ, kẻ làm cho mệt mỏi hay sai người làm cho mệt mỏi, kẻ làm cho run sợ hay sai người làm cho run sợ, kẻ giết hại sinh mạng hay sai người giết hại sinh mạng, kẻ lấy của không cho, kẻ phá nhà, kẻ cướp của, kẻ đốt nhà, kẻ chặn đường, kẻ ngoại tình, kẻ nói dối — làm tất cả những điều ấy thì không có tội ác nào được làm ra; dù có dùng bánh xe bén như lưỡi dao mà biến mọi sinh vật trên quả đất này thành một khối thịt, một đống thịt, thì cũng không có tội ác nào từ đó, không có sự sinh khởi của tội ác.

Dù có đi dọc bờ phía nam sông Gaṅgā mà giết, mà chém, mà chặt, mà sai chặt, mà nấu, mà sai nấu, thì cũng không có tội ác nào từ đó, không có sự sinh khởi của tội ác.

Dù có đi dọc bờ phía bắc sông Gaṅgā mà cho, mà sai cho, mà tế lễ, mà sai tế lễ, thì cũng không có phước nào từ đó, không có sự sinh khởi của phước.

Trong bố thí, trong tự chế, trong thu thúc, trong nói lời chân thật, không có phước, không có sự sinh khởi của phước.

Nếu lời của vị thầy này là đúng, thì ở đây, ta chưa làm gì cũng thành như đã làm; ta chưa sống đời phạm hạnh cũng thành như đã sống.

Cả hai chúng ta ở đây đều ngang nhau, đều đạt đến một mức như nhau, thế mà ta lại là người không nói rằng khi cả hai cùng làm thì không có tội ác nào được làm ra.

Việc vị thầy này ở trần, cạo đầu, ngồi xổm mà sống, nhổ râu tóc, hóa ra là thừa thãi, bởi ta đây đang sống trong nhà có con cái chen chúc, đang hưởng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, đang đeo vòng hoa, hương thơm và phấn sáp, đang nhận vàng và bạc, thế mà về sau ta sẽ có cùng một cảnh giới, cùng một nơi tái sinh với vị thầy ấy.

Vậy ta biết được gì, thấy được gì mà phải sống đời phạm hạnh dưới vị thầy này?

"Đây là nếp sống phi phạm hạnh",

biết như vậy, người ấy nhàm chán đời sống phạm hạnh ấy mà bỏ đi.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết đây là nếp sống phi phạm hạnh thứ hai, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, ở đây có một vị thầy có thuyết và có quan điểm như vầy:

"Không có nhân, không có duyên để các chúng sinh bị ô nhiễm;

[Chú thích: Đây là phần đầu của quan điểm được gán cho du sĩ Makkhali Gosāla trong Trường Bộ 2 và cho Pūraṇa Kassapa trong Tương Ưng Bộ 22.60. Quan điểm này phủ nhận nguyên lý nhân quả và hiệu lực của hành động.]

không có nhân, không có duyên, các chúng sinh bị ô nhiễm;

không có nhân, không có duyên để các chúng sinh được thanh tịnh;

không có nhân, không có duyên, các chúng sinh được thanh tịnh;

không có sức mạnh, không có tinh tấn, không có sức lực của người, không có nỗ lực của người;

[Chú thích: Đoạn tương ứng trong Trường Bộ 2 có cách diễn đạt khác.]

tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật, tất cả hữu tình, tất cả các loài sống đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có tinh tấn; chúng bị nắm trong định mệnh, trong sự gặp gỡ, trong bản chất, và chúng cảm nhận lạc và khổ trong sáu loại sinh."

Này Sandaka, ở đấy một người sáng suốt suy xét như vầy:

Vị thầy này có thuyết và có quan điểm như vầy:

không có nhân, không có duyên để các chúng sinh bị ô nhiễm; không có nhân, không có duyên, các chúng sinh bị ô nhiễm.

Không có nhân, không có duyên để các chúng sinh được thanh tịnh; không có nhân, không có duyên, các chúng sinh được thanh tịnh.

Không có sức mạnh, không có tinh tấn, không có sức lực của người, không có nỗ lực của người; tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật, tất cả hữu tình, tất cả các loài sống đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có tinh tấn; chúng bị nắm trong định mệnh, trong sự gặp gỡ, trong bản chất, và chúng cảm nhận lạc và khổ trong sáu loại sinh.

Nếu lời của vị thầy này là đúng, thì ở đây, ta chưa làm gì cũng thành như đã làm; ta chưa sống đời phạm hạnh cũng thành như đã sống.

Cả hai chúng ta ở đây đều ngang nhau, đều đạt đến một mức như nhau, thế mà ta lại là người không nói rằng cả hai chúng ta sẽ được thanh tịnh không nhân, không duyên.

Việc vị thầy này ở trần, cạo đầu, ngồi xổm mà sống, nhổ râu tóc, hóa ra là thừa thãi, bởi ta đây đang sống trong nhà có con cái chen chúc, đang hưởng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, đang đeo vòng hoa, hương thơm và phấn sáp, đang nhận vàng và bạc, thế mà về sau ta sẽ có cùng một cảnh giới, cùng một nơi tái sinh với vị thầy ấy.

Vậy ta biết được gì, thấy được gì mà phải sống đời phạm hạnh dưới vị thầy này?

"Đây là nếp sống phi phạm hạnh",

biết như vậy, người ấy nhàm chán đời sống phạm hạnh ấy mà bỏ đi.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết đây là nếp sống phi phạm hạnh thứ ba, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, ở đây có một vị thầy có thuyết và có quan điểm như vầy:


"Có bảy khối này không do ai làm ra, không do ai tạo tác, không do ai biến hóa, không có người biến hóa; chúng không sinh sản, đứng yên như đỉnh núi, vững chắc như cột trụ.

[Chú thích: Quan điểm này ghép giáo thuyết của Pakudha Kaccāyana trong Trường Bộ 2 với phần sau của giáo thuyết Makkhali Gosāla. Các vị thầy ấy là những người cùng thời và có lúc tu chung với nhau, nên việc họ chia sẻ một số quan điểm cũng dễ hiểu.]

Chúng không lay động, không biến đổi, không làm hại lẫn nhau; chúng không đủ sức đem lại lạc, khổ, hay lạc và khổ cho nhau.

Bảy là những gì?

Đất, nước, lửa, gió; lạc, khổ, và mạng sống là thứ bảy.

Bảy khối này không do ai làm ra, không do ai tạo tác, không do ai biến hóa, không có người biến hóa; chúng không sinh sản, đứng yên như đỉnh núi, vững chắc như cột trụ.

Chúng không lay động, không biến đổi, không làm hại lẫn nhau; chúng không đủ sức đem lại lạc, khổ, hay lạc và khổ cho nhau.

Ở đấy không có kẻ giết, không có người sai giết; không có kẻ nghe, không có người khiến nghe; không có kẻ biết, không có người khiến biết.

[Chú thích: So sánh Tăng Chi Bộ 8.16.]

Dù có dùng thanh gươm bén chặt đầu ai, cũng không có ai lấy mạng sống của ai.

Lưỡi gươm chỉ lọt qua khoảng trống giữa bảy khối ấy.

Có một triệu bốn trăm nghìn cửa thai chính, sáu nghìn và sáu trăm; năm trăm nghiệp, năm nghiệp và ba nghiệp; nghiệp và nửa nghiệp; sáu mươi hai đường thực hành, sáu mươi hai kiếp trung gian, sáu loại sinh, tám giai đoạn của một con người; bốn nghìn chín trăm vị Ājīvaka (Tà mạng ngoại đạo), bốn nghìn chín trăm du sĩ, bốn nghìn chín trăm chỗ ở của loài rồng; hai nghìn quyền năng, ba nghìn địa ngục, ba mươi sáu giới bụi; bảy thai có tưởng, bảy thai không tưởng, bảy thai không có mối thắt, bảy vị trời, bảy cõi người, bảy loài quỷ, bảy dòng chảy, bảy lần bỏ thân và bảy trăm lần bỏ thân, bảy vực thẳm và bảy trăm vực thẳm, bảy giấc mơ và bảy trăm giấc mơ, tám triệu bốn trăm nghìn đại kiếp; qua tất cả những thứ ấy, kẻ ngu và người trí phải chạy vòng, trôi lăn, rồi mới làm cho khổ chấm dứt.

[Chú thích: Xem chú thích ở DN 2:20.7 để có giải thích.] [Chú thích của người dịch: Đây là danh mục số liệu của truyền thống Ājīvaka, phần lớn không còn giải thích được rõ ràng; bản dịch giữ đúng các con số như văn bản Pali.]

Ở đấy không có điều này: nhờ giới này, nhờ hạnh này, nhờ khổ hạnh này hay nhờ phạm hạnh này, ta sẽ làm cho nghiệp chưa chín được chín, hoặc nghiệp đã chín thì, sau khi cảm thọ từng lần, ta sẽ làm cho nó tiêu hết.

Như vậy, lạc và khổ đã được đong đầy bằng đấu, vòng luân hồi đã có giới hạn, không có chuyện tăng thêm hay giảm bớt, không có chuyện hơn hay kém.

Ví như khi người ta ném một cuộn chỉ, nó vừa lăn vừa tuột ra;

cũng vậy, kẻ ngu và người trí, sau khi chạy vòng và trôi lăn, rồi sẽ làm cho khổ chấm dứt."

Này Sandaka, ở đấy một người sáng suốt suy xét như vầy:

Vị thầy này có thuyết và có quan điểm như vầy:

có bảy khối này không do ai làm ra, không do ai tạo tác, không do ai biến hóa, không có người biến hóa; chúng không sinh sản, đứng yên như đỉnh núi, vững chắc như cột trụ.

Chúng không lay động, không biến đổi, không làm hại lẫn nhau.

Chúng không đủ sức đem lại lạc, khổ, hay lạc và khổ cho nhau.

Bảy là những gì?

Đất, nước, lửa, gió; lạc, khổ, và mạng sống là thứ bảy.

Bảy khối này không do ai làm ra, không do ai tạo tác, không do ai biến hóa, không có người biến hóa; chúng không sinh sản, đứng yên như đỉnh núi, vững chắc như cột trụ.

Chúng không lay động, không biến đổi, không làm hại lẫn nhau.

Chúng không đủ sức đem lại lạc, khổ, hay lạc và khổ cho nhau.

Ở đấy không có kẻ giết, không có người sai giết; không có kẻ nghe, không có người khiến nghe; không có kẻ biết, không có người khiến biết.

Dù có dùng thanh gươm bén chặt đầu ai, cũng không có ai lấy mạng sống của ai.

Lưỡi gươm chỉ lọt qua khoảng trống giữa bảy khối ấy.

Có một triệu bốn trăm nghìn cửa thai chính, sáu nghìn và sáu trăm; năm trăm nghiệp, năm nghiệp và ba nghiệp; nghiệp và nửa nghiệp; sáu mươi hai đường thực hành, sáu mươi hai kiếp trung gian, sáu loại sinh, tám giai đoạn của một con người; bốn nghìn chín trăm vị Ājīvaka, bốn nghìn chín trăm du sĩ, bốn nghìn chín trăm chỗ ở của loài rồng; hai nghìn quyền năng, ba nghìn địa ngục, ba mươi sáu giới bụi; bảy thai có tưởng, bảy thai không tưởng, bảy thai không có mối thắt, bảy vị trời, bảy cõi người, bảy loài quỷ, bảy dòng chảy, bảy lần bỏ thân và bảy trăm lần bỏ thân, bảy vực thẳm và bảy trăm vực thẳm, bảy giấc mơ và bảy trăm giấc mơ, tám triệu bốn trăm nghìn đại kiếp; qua tất cả những thứ ấy, kẻ ngu và người trí phải chạy vòng, trôi lăn, rồi mới làm cho khổ chấm dứt.

Ở đấy không có điều này: nhờ giới này, nhờ hạnh này, nhờ khổ hạnh này hay nhờ phạm hạnh này, ta sẽ làm cho nghiệp chưa chín được chín, hoặc nghiệp đã chín thì, sau khi cảm thọ từng lần, ta sẽ làm cho nó tiêu hết; như vậy, lạc và khổ đã được đong đầy bằng đấu, vòng luân hồi đã có giới hạn, không có chuyện tăng thêm hay giảm bớt, không có chuyện hơn hay kém.

Ví như khi người ta ném một cuộn chỉ, nó vừa lăn vừa tuột ra;

cũng vậy, kẻ ngu và người trí, sau khi chạy vòng và trôi lăn, rồi sẽ làm cho khổ chấm dứt.

Nếu lời của vị thầy này là đúng, thì ở đây, ta chưa làm gì cũng thành như đã làm; ta chưa sống đời phạm hạnh cũng thành như đã sống.

Cả hai chúng ta ở đây đều ngang nhau, đều đạt đến một mức như nhau, thế mà ta lại là người không nói rằng cả hai chúng ta, sau khi chạy vòng và trôi lăn, sẽ làm cho khổ chấm dứt.

Việc vị thầy này ở trần, cạo đầu, ngồi xổm mà sống, nhổ râu tóc, hóa ra là thừa thãi, bởi ta đây đang sống trong nhà có con cái chen chúc, đang hưởng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, đang đeo vòng hoa, hương thơm và phấn sáp, đang nhận vàng và bạc, thế mà về sau ta sẽ có cùng một cảnh giới, cùng một nơi tái sinh với vị thầy ấy.

Vậy ta biết được gì, thấy được gì mà phải sống đời phạm hạnh dưới vị thầy này?

"Đây là nếp sống phi phạm hạnh",

biết như vậy, người ấy nhàm chán đời sống phạm hạnh ấy mà bỏ đi.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết đây là nếp sống phi phạm hạnh thứ tư, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết bốn nếp sống phi phạm hạnh ấy, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

"Thật kỳ diệu thay, thưa ngài Ānanda, thật hi hữu thay!

Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết bốn nếp sống này đúng là nếp sống phi phạm hạnh, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Nhưng thưa ngài Ānanda, bốn đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy ấy là những gì?"

[Chú thích: Phần này bàn đến những lời tuyên bố của các tôn giáo về sự thật, nghe rất tự tin nhưng hóa ra không đáng nương cậy. Chữ anassāsika (không đáng tin cậy) thường dùng cho các pháp hữu vi, ở đó nó đồng nghĩa với vô thường và không bền.]

Này Sandaka, ở đây có một vị thầy tự nhận là bậc toàn tri, toàn kiến, biết và thấy mọi thứ không sót:

"Khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ, khi ta thức, tri và kiến luôn luôn, liên tục hiện diện trước ta."

Vị ấy đi vào một ngôi nhà trống, không nhận được đồ ăn khất thực, bị chó cắn, gặp voi dữ, gặp ngựa dữ, gặp bò dữ; hỏi tên và dòng họ của một người nữ hay một người nam; hỏi tên và đường đi đến một làng hay một thị trấn.

Khi được hỏi "vì sao thế?", vị ấy đáp: "Ta đã phải đi vào một ngôi nhà trống, nên ta đã đi vào; ta đã phải không nhận được đồ ăn khất thực, nên ta đã không nhận được; ta đã phải bị chó cắn, nên ta đã bị cắn; ta đã phải gặp voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, nên ta đã gặp; ta đã phải hỏi tên và dòng họ của một người nữ hay một người nam, nên ta đã hỏi; ta đã phải hỏi tên và đường đi đến một làng hay một thị trấn, nên ta đã hỏi."

[Chú thích: Đức Thế Tôn không chỉ phủ nhận lối tự nhận toàn tri như vậy, mà còn chịu khó chỉ ra sự vô lý của nó.]

Này Sandaka, ở đấy một người sáng suốt suy xét như vầy:

Vị thầy này tự nhận là bậc toàn tri, toàn kiến, biết và thấy mọi thứ không sót; vị ấy nói rằng khi đi, khi đứng, khi ngủ, khi thức, tri và kiến luôn luôn, liên tục hiện diện trước mình; nhưng vị ấy đi vào nhà trống, không nhận được đồ ăn khất thực, bị chó cắn, gặp voi dữ, gặp ngựa dữ, gặp bò dữ; hỏi tên và dòng họ của một người nữ hay một người nam; hỏi tên và đường đi đến một làng hay một thị trấn; và khi được hỏi vì sao thế, vị ấy đáp rằng ta đã phải đi vào một ngôi nhà trống, nên ta đã đi vào; ta đã phải không nhận được đồ ăn khất thực, nên ta đã không nhận được; ta đã phải bị chó cắn, nên ta đã bị cắn; ta đã phải gặp voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, nên ta đã gặp; ta đã phải hỏi tên và dòng họ của một người nữ hay một người nam, nên ta đã hỏi; ta đã phải hỏi tên và đường đi đến một làng hay một thị trấn, nên ta đã hỏi.

"Đời sống phạm hạnh này không đáng tin cậy",

biết như vậy, người ấy nhàm chán đời sống phạm hạnh ấy mà bỏ đi.


Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết đây là đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy thứ nhất, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, ở đây có một vị thầy khác là người truyền khẩu, lấy điều truyền khẩu làm sự thật.

[Chú thích: Một số bà-la-môn cũng vậy.]

Vị ấy giảng Pháp theo truyền khẩu, theo dòng truyền thuyết, theo uy tín của kinh tạng truyền lại.

Nhưng này Sandaka, với một vị thầy truyền khẩu, lấy điều truyền khẩu làm sự thật, thì có điều được nghe khéo, có điều được nghe không khéo, có điều đúng, có điều không đúng.

Này Sandaka, ở đấy một người sáng suốt suy xét như vầy:

"Vị thầy này truyền khẩu, lấy điều truyền khẩu làm sự thật; vị ấy giảng Pháp theo truyền khẩu, theo dòng truyền thuyết, theo uy tín của kinh tạng truyền lại.

Nhưng với một vị thầy truyền khẩu, lấy điều truyền khẩu làm sự thật, thì có điều được nghe khéo, có điều được nghe không khéo, có điều đúng, có điều không đúng.

Đời sống phạm hạnh này không đáng tin cậy",

biết như vậy, người ấy nhàm chán đời sống phạm hạnh ấy mà bỏ đi.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết đây là đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy thứ hai, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, ở đây có một vị thầy khác là người suy luận, người thẩm tra.

Vị ấy giảng Pháp do suy luận mà ra, do dò xét mà theo, do tự mình nghĩ ra.

Nhưng này Sandaka, với một vị thầy suy luận, thẩm tra, thì có điều suy luận khéo, có điều suy luận không khéo, có điều đúng, có điều không đúng.

Này Sandaka, ở đấy một người sáng suốt suy xét như vầy:

"Vị thầy này suy luận, thẩm tra.

Vị ấy giảng Pháp do suy luận mà ra, do dò xét mà theo, do tự mình nghĩ ra.

Nhưng với một vị thầy suy luận, thẩm tra, thì có điều suy luận khéo, có điều suy luận không khéo, có điều đúng, có điều không đúng.

Đời sống phạm hạnh này không đáng tin cậy",

biết như vậy, người ấy nhàm chán đời sống phạm hạnh ấy mà bỏ đi.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết đây là đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy thứ ba, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, ở đây có một vị thầy khác là người đần độn, ngẩn ngơ.

Vì đần độn, vì ngẩn ngơ, khi được hỏi câu hỏi ở chỗ này chỗ kia, vị ấy rơi vào lối nói lươn lẹo, lươn lẹo như con lươn:

[Chú thích: Chữ vikkhepa nghĩa là lật qua lật lại, nói quanh co. Chữ amarā được chú giải hiểu là không chết hoặc giống con lươn; nhưng nghĩa con lươn chỉ thấy trong chú giải của chính thuật ngữ này, nên có lẽ là do người sau thêm vào.]

"Tôi không nói thế này, tôi không nói thế kia, tôi không nói khác đi, tôi không nói không phải, tôi không nói không phải là không phải."

Này Sandaka, ở đấy một người sáng suốt suy xét như vầy:

"Vị thầy này đần độn, ngẩn ngơ.

Vì đần độn, vì ngẩn ngơ, khi được hỏi câu hỏi ở chỗ này chỗ kia, vị ấy rơi vào lối nói lươn lẹo, lươn lẹo như con lươn:

'Tôi không nói thế này, tôi không nói thế kia, tôi không nói khác đi, tôi không nói không phải, tôi không nói không phải là không phải.'

Đời sống phạm hạnh này không đáng tin cậy",

biết như vậy, người ấy nhàm chán đời sống phạm hạnh ấy mà bỏ đi.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết đây là đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy thứ tư, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Này Sandaka, Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết bốn đời sống phạm hạnh không đáng tin cậy ấy, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

"Thật kỳ diệu thay, thưa ngài Ānanda, thật hi hữu thay!

Đức Thế Tôn, bậc đã biết và đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết bốn đời sống phạm hạnh này đúng là không đáng tin cậy, ở nơi ấy một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng không nên sống đời phạm hạnh, mà nếu có sống thì cũng không thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Nhưng thưa ngài Ānanda, một vị thầy phải nói thế nào, phải tuyên thuyết thế nào, để một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng nên sống đời phạm hạnh, và khi sống như vậy thì thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý?"

Này Sandaka, ở đây Như Lai xuất hiện trong thế gian, là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn. Ngài tự mình chứng biết bằng thắng trí thế giới này — với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, với chúng sa-môn, bà-la-môn, trời và người — rồi công bố cho người khác. Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đầu, tốt đẹp ở giữa, tốt đẹp ở cuối, có nghĩa, có văn; Ngài công bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Một gia chủ, hay con một gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe Pháp ấy. Sau khi nghe, người ấy có được lòng tin nơi Như Lai. Người ấy suy nghĩ như vầy: 'Đời sống tại gia thì chật hẹp, là đường bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở. Người sống ở nhà không dễ gì thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc đã được đánh bóng. Vậy sao ta không cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, rời bỏ gia đình, sống đời không nhà?' Rồi sau một thời gian, người ấy từ bỏ một khối tài sản nhỏ hay lớn, từ bỏ một vòng thân quyến nhỏ hay lớn, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, rời bỏ gia đình, sống đời không nhà. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy thọ trì học giới và cách sống của các tỳ-kheo: từ bỏ sát sinh, xa lìa sát sinh, buông bỏ gậy gộc và vũ khí, biết hổ thẹn, có lòng thương, sống đầy lòng từ bi đối với mọi chúng sinh; từ bỏ trộm cắp, xa lìa trộm cắp, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong những gì được cho, sống trong sạch, không gian tham; từ bỏ phi phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa cách, tránh xa việc dâm dục thấp hèn; từ bỏ nói dối, xa lìa nói dối, nói thật, gắn với sự thật, đáng tin cậy, không lừa gạt thế gian; từ bỏ nói hai lưỡi, xa lìa nói hai lưỡi, nghe ở đây không đem đến chỗ kia để chia rẽ những người này, nghe ở chỗ kia không đem đến đây để chia rẽ những người kia, hoà hợp những kẻ đã chia rẽ, khích lệ những người đã hoà hợp, ưa thích hoà hợp, vui với hoà hợp, nói những lời tạo ra hoà hợp; từ bỏ nói lời thô ác, xa lìa nói lời thô ác, nói những lời dịu dàng, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, nhiều người vừa ý; từ bỏ nói lời phù phiếm, xa lìa nói lời phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói có ý nghĩa, nói đúng Pháp, nói đúng Luật, nói những lời đáng ghi nhớ, có căn cứ, có giới hạn, đem lại lợi ích, đúng thời. Người ấy tránh phá hoại các hạt giống và cây cỏ, ăn một bữa trong ngày, không ăn ban đêm, tránh ăn phi thời, tránh xem múa hát, âm nhạc và các buổi trình diễn, tránh mang vòng hoa, hương liệu, phấn son và các thứ trang sức, tránh giường cao và giường lớn, tránh nhận vàng và bạc, tránh nhận hạt giống còn sống, tránh nhận thịt sống, tránh nhận đàn bà và con gái, tránh nhận nô tỳ trai và gái, tránh nhận dê và cừu, tránh nhận gà và heo, tránh nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, tránh nhận ruộng đất và đất đai, tránh làm sứ giả và đi lại đưa tin, tránh mua bán, tránh gian lận với cân, tiền và thước đo, tránh các nghề uốn éo, lừa đảo và gian trá, tránh chặt cắt, giết, trói, cướp giật, cướp phá, chặn đường, vào nhà cướp bóc. Người ấy biết đủ với y phục che thân và đồ ăn khất thực nuôi bụng; đi đâu cũng chỉ mang theo những thứ ấy; như con chim, dù bay đi đâu cũng chỉ mang theo đôi cánh, cũng vậy, người ấy biết đủ với y phục che thân và đồ ăn khất thực nuôi bụng, đi đâu cũng chỉ mang theo những thứ ấy. Với khối giới cao thượng ấy, người ấy cảm nhận niềm vui trong sạch bên trong. Khi mắt thấy sắc, người ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng; vì nếu không hộ trì nhãn căn, các pháp xấu ác, tham lam và ưu não sẽ tràn vào, nên người ấy thực hành hộ trì nhãn căn, gìn giữ nhãn căn. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc chạm, ý nhận biết pháp, người ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng; vì nếu không hộ trì ý căn, các pháp xấu ác, tham lam và ưu não sẽ tràn vào, nên người ấy thực hành hộ trì ý căn, gìn giữ ý căn. Với sự hộ trì các căn cao thượng ấy, người ấy cảm nhận niềm vui không uế nhiễm bên trong. Người ấy tỉnh giác khi đi tới, đi lui; tỉnh giác khi nhìn trước, nhìn sau; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay; tỉnh giác khi mang y, bát và các vật dụng; tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Với khối giới cao thượng ấy, với sự hộ trì các căn và chánh niệm tỉnh giác ấy, người ấy lui về một chỗ vắng vẻ: rừng, gốc cây, núi đá, hang núi, hốc núi, nghĩa địa, rừng rậm, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, người ấy ngồi kiết già, giữ thân ngay thẳng, đặt chánh niệm trước mặt.

[Chú thích của người dịch: Pali ở đây lược một khối văn rất dài bằng dấu peyyāla, từ chỗ Như Lai xuất hiện cho đến việc vị ấy ngồi kiết già với chánh niệm trước mặt. Bản dịch giữ đủ mọi chặng và các câu chốt; bản đầy đủ từng câu của khối văn này có trong Trung Bộ Kinh 38 và Trung Bộ Kinh 51.]

Vị ấy từ bỏ năm triền cái này, những cấu uế của tâm làm yếu ớt tuệ,

rồi ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh ra.

Này Sandaka, một vị thầy mà dưới vị ấy một đệ tử đạt được một sự thù thắng cao quý như vậy, thì ở nơi vị ấy, một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng nên sống đời phạm hạnh; và khi sống như vậy, người ấy sẽ thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, do tầm và tứ lắng yên, một tỳ-kheo chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, nội tâm thanh tịnh, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh ra.

[Chú thích: Chữ bhikkhu (tỳ-kheo) ở đây có vẻ không hợp cảnh, nhưng các bản thảo đều ghi như vậy.]

Này Sandaka, một vị thầy mà dưới vị ấy một đệ tử đạt được một sự thù thắng cao quý như vậy, thì ở nơi vị ấy, một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng nên sống đời phạm hạnh; và khi sống như vậy, người ấy sẽ thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, do ly hỷ, một tỳ-kheo sống xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm nhận lạc; vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh nói là sống xả, có chánh niệm, an trú trong lạc.

Này Sandaka, một vị thầy mà dưới vị ấy một đệ tử đạt được một sự thù thắng cao quý như vậy, thì ở nơi vị ấy, một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng nên sống đời phạm hạnh; và khi sống như vậy, người ấy sẽ thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Lại nữa, này Sandaka, do xả lạc và xả khổ, do hỷ và ưu đã lắng xuống từ trước, một tỳ-kheo chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Này Sandaka, một vị thầy mà dưới vị ấy một đệ tử đạt được một sự thù thắng cao quý như vậy, thì ở nơi vị ấy, một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng nên sống đời phạm hạnh; và khi sống như vậy, người ấy sẽ thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, sáng trong, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, mềm mại, dễ dùng, vững vàng, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí nhớ về các đời sống trước.

Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, như là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra: 'Ở đó ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, màu da như vậy, đồ ăn như vậy, cảm thọ lạc và khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ chỗ ấy chết đi, ta sinh ra ở chỗ kia; ở chỗ kia ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, màu da như vậy, đồ ăn như vậy, cảm thọ lạc và khổ như vậy, tuổi thọ như vậy. Từ chỗ ấy chết đi, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, với các nét và các chi tiết.

Này Sandaka, một vị thầy mà dưới vị ấy một đệ tử đạt được một sự thù thắng cao quý như vậy, thì ở nơi vị ấy, một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng nên sống đời phạm hạnh; và khi sống như vậy, người ấy sẽ thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, sáng trong, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, mềm mại, dễ dùng, vững vàng, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí về sự chết và sự tái sinh của các chúng sinh.

Vị ấy dùng thiên nhãn thanh tịnh, vượt trên mức của người, thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh, kẻ hạ liệt kẻ cao quý, kẻ xinh đẹp kẻ xấu xí, kẻ đến nơi tốt kẻ đến nơi xấu: 'Những chúng sinh này, do thân làm ác, do lời nói ác, do ý nghĩ ác, do chê bai các bậc thánh, do tà kiến, do nhận lấy nghiệp của tà kiến, khi thân hoại mạng chung, đã sinh vào nơi khốn khổ, cảnh giới xấu, nơi đọa lạc, địa ngục. Những chúng sinh này, do thân làm lành, do lời nói lành, do ý nghĩ lành, do không chê bai các bậc thánh, do chánh kiến, do nhận lấy nghiệp của chánh kiến, khi thân hoại mạng chung, đã sinh vào nơi tốt lành, cảnh giới của trời.' Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh vượt trên mức của người, vị ấy thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh, và hiểu rằng các chúng sinh ấy đi theo nghiệp của mình.

Này Sandaka, một vị thầy mà dưới vị ấy một đệ tử đạt được một sự thù thắng cao quý như vậy, thì ở nơi vị ấy, một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng nên sống đời phạm hạnh; và khi sống như vậy, người ấy sẽ thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.


Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, sáng trong, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, mềm mại, dễ dùng, vững vàng, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí về sự đoạn tận các lậu hoặc.

Vị ấy như thật biết: "Đây là khổ"; như thật biết: "Đây là sự sinh khởi của khổ"; như thật biết: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; như thật biết: "Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ".

Vị ấy như thật biết: "Đây là các lậu hoặc"; như thật biết: "Đây là sự sinh khởi của các lậu hoặc"; như thật biết: "Đây là sự chấm dứt của các lậu hoặc"; như thật biết: "Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của các lậu hoặc".

Với vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của dục, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của hữu, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của vô minh.

Trong sự giải thoát ấy, khởi lên trí biết rằng đã được giải thoát.

Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'

Này Sandaka, một vị thầy mà dưới vị ấy một đệ tử đạt được một sự thù thắng cao quý như vậy, thì ở nơi vị ấy, một người sáng suốt, dù có cố gắng hết sức, cũng nên sống đời phạm hạnh; và khi sống như vậy, người ấy sẽ thành tựu được pháp thiện khéo đúng lý.

"Nhưng thưa ngài Ānanda, một tỳ-kheo A-la-hán, đã diệt tận lậu hoặc, đã sống xong đời phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt được mục đích của mình, đã đoạn tận các kiết sử của hữu, đã được giải thoát nhờ chánh trí — liệu vị ấy có còn thọ hưởng các dục không?"

"Này Sandaka, một tỳ-kheo A-la-hán, đã diệt tận lậu hoặc, đã sống xong đời phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt được mục đích của mình, đã đoạn tận các kiết sử của hữu, đã được giải thoát nhờ chánh trí, thì không còn có thể làm năm việc.

Một tỳ-kheo đã diệt tận lậu hoặc không còn có thể cố ý lấy mạng sống của một chúng sinh; không còn có thể lấy của không cho với ý định trộm cắp; không còn có thể hành dâm; không còn có thể cố ý nói dối; không còn có thể tích trữ và thọ hưởng các dục như trước khi còn là người sống trong nhà.

Này Sandaka, một tỳ-kheo A-la-hán, đã diệt tận lậu hoặc, đã sống xong đời phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt được mục đích của mình, đã đoạn tận các kiết sử của hữu, đã được giải thoát nhờ chánh trí, thì không còn có thể làm năm việc ấy."

"Nhưng thưa ngài Ānanda, với một tỳ-kheo A-la-hán, đã diệt tận lậu hoặc, đã sống xong đời phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt được mục đích của mình, đã đoạn tận các kiết sử của hữu, đã được giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ, thức, có phải tri và kiến luôn luôn, liên tục hiện diện trước vị ấy:

'Lậu hoặc của ta đã hết'?"

"Vậy thì, này Sandaka, ta sẽ nói cho ông một ví dụ.

Nhờ ví dụ, một số người sáng suốt hiểu được ý nghĩa của lời đã nói.

Ví như, này Sandaka, có một người bị chặt mất tay chân.

Người ấy có luôn luôn biết, khi đi, khi đứng, khi ngủ, khi thức:

'Tay chân ta đã bị chặt' — hay chỉ khi xem xét lại mới biết:

'Tay chân ta đã bị chặt'?"

"Thưa ngài Ānanda, người ấy không luôn luôn biết:

'Tay chân ta đã bị chặt.'

Mà chỉ khi xem xét lại, người ấy mới biết:

'Tay chân ta đã bị chặt.'"

"Cũng vậy, này Sandaka, với một tỳ-kheo A-la-hán, đã diệt tận lậu hoặc, đã sống xong đời phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt được mục đích của mình, đã đoạn tận các kiết sử của hữu, đã được giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ, thức, tri và kiến rằng lậu hoặc đã hết không luôn luôn, liên tục hiện diện trước vị ấy:

'Lậu hoặc của ta đã hết';

mà chỉ khi xem xét lại, vị ấy mới biết:

'Lậu hoặc của ta đã hết.'"

"Nhưng thưa ngài Ānanda, trong Pháp và Luật này, có bao nhiêu vị đã được giải thoát?"

[Chú thích: Chữ niyyātāro, dịch là những vị đã được giải thoát, là một danh từ tác nhân từ động từ niyyāti (đi ra), chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở đây. Có lẽ đây là một thuật ngữ riêng trong hệ thống của Sandaka.]

"Này Sandaka, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa, những vị đã được giải thoát trong Pháp và Luật này."

"Thật kỳ diệu thay, thưa ngài Ānanda, thật hi hữu thay!

Ở đây không có chuyện đề cao pháp của mình và chê bai pháp của người khác; Pháp được giảng trong phạm vi của nó, mà người ta chỉ ra được rất nhiều vị đã được giải thoát.

Nhưng những người Ājīvaka này, con của người đàn bà mất con, tự đề cao mình và chê bai người khác, chỉ công nhận có ba vị đã được giải thoát, như là:

[Chú thích: Cụm từ con của người đàn bà mất con là một lời nguyền rủa chen vào giữa đoạn văn. Có thể đó là cách nói giễu cợt, hàm ý mẹ của họ chẳng còn đứa con nào, hoặc ám chỉ một nữ quỷ giết trẻ con.]

Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, và du sĩ Makkhali Gosāla."

Rồi du sĩ Sandaka nói với hội chúng của mình:

"Quý vị hãy đi đi. Đời sống phạm hạnh là sống dưới sa-môn Gotama.

Nay ta không dễ gì từ bỏ lợi dưỡng, cung kính và danh vọng nữa."

Như vậy, du sĩ Sandaka đã cho hội chúng của mình đi để sống đời phạm hạnh dưới Đức Thế Tôn.

Bài kinh Sandaka, bài thứ sáu, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →