buppou

Trung Bộ Kinh · bài 4/152

Kinh Sợ Hãi và Kinh Hoàng

Bhayabherava Sutta — bài kinh về nỗi sợ hãi và kinh hoàng nơi rừng vắng

30 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Sợ Hãi và Kinh Hoàng (Bhayabherava Sutta) là bài kinh thứ tư trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài kinh cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra gần thành Sāvatthī, mở đầu bằng cuộc gặp giữa Đức Thế Tôn và bà-la-môn Jāṇussoṇi. Ông này nói một điều nghe như khen: những người con nhà lương thiện vì tin nơi Đức Thế Tôn mà bỏ nhà ra đi, thì Ngài là người dẫn đường, người giúp đỡ, người khích lệ họ, và nhiều người đang noi theo gương ấy. Nhưng ngay sau đó ông nêu một nghi ngờ rất thực tế: sống nơi rừng sâu hoang vắng thật khó; ở một mình thật khó mà vui; và những khu rừng dường như cướp mất tâm trí của người tu chưa có định.

Đức Thế Tôn không phủ nhận. Ngài nói: đúng vậy, đúng vậy — rồi kể lại chính mình. Trước khi giác ngộ, Ngài cũng đã nghĩ y như thế về rừng núi. Nhưng thay vì tránh, Ngài tự kiểm tra từng điểm một: thân hành, khẩu hành, ý hành, sinh kế, lòng tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, dao động, hoài nghi, thói tự tâng bốc mình và chê bai người, tính nhút nhát, lòng mong cầu lợi dưỡng và danh tiếng, sự biếng nhác, thất niệm, thiếu định, kém tuệ. Với mỗi điểm, Ngài tự nhủ: những ai còn khuyết điểm ấy mà vào rừng thì chính khuyết điểm ấy sinh ra nỗi sợ; còn ta không còn khuyết điểm ấy, ta là một trong những bậc thánh sống nơi rừng vắng. Mười sáu lần như vậy, và mỗi lần xong, Ngài lại thấy mình an tâm hơn khi ở rừng.

Phần nổi tiếng nhất của bài kinh đến sau đó. Vào những đêm mười bốn, mười lăm và mùng tám của mỗi nửa tháng — những đêm được xem là linh thiêng — Ngài chủ động ra trú tại những nơi thờ tự trong vườn, trong rừng, dưới gốc cây, những chốn được xem là ghê sợ đến dựng ngược lông tóc. Đêm ấy, khi một con nai đi ngang, một con công làm rơi cành cây, hay gió xào xạc lá khô, nỗi sợ nổi lên. Và Ngài đặt ra một nguyên tắc: nỗi sợ đến lúc đang đi thì dẹp nó ngay trong lúc đi, đến lúc đang đứng thì dẹp ngay trong lúc đứng, lúc đang ngồi thì ngay trong lúc ngồi, lúc đang nằm thì ngay trong lúc nằm. Không đổi tư thế để chạy trốn, cũng không đứng dậy để đi tìm chỗ khác. Cả bài kinh nằm gọn trong thái độ ấy: gặp nỗi sợ tại đúng chỗ nó sinh khởi.

Khi nỗi sợ đã được xử lý như vậy, phần còn lại của bài kinh là con đường tu tập quen thuộc. Tâm đã trong sạch, Ngài nhập bốn tầng thiền-na, rồi trong ba canh của đêm ấy lần lượt chứng ba minh: nhớ lại các đời sống trước; thấy chúng sinh chết đi tái sinh theo nghiệp của mình; và cuối cùng là đoạn tận các lậu hoặc, tức giác ngộ hoàn toàn. Bài kinh khép lại bằng một câu trả lời cho câu hỏi ban đầu của vị bà-la-môn: Ngài vào rừng vì hai lẽ — để tự mình sống an lạc ngay trong đời này, và vì lòng thương xót đối với những người đến sau. Nghe xong, bà-la-môn Jāṇussoṇi xin quy y Tam Bảo.

Điều đáng chú ý là Đức Thế Tôn không trình bày mình như một người bẩm sinh không biết sợ. Ngài nói rõ: ta cũng từng thấy rừng đáng sợ, cũng từng giật mình vì tiếng động, và đã phải tập dẹp nỗi sợ ấy trong từng tư thế. Nỗi sợ ở đây không phải kẻ thù phải tiêu diệt bằng bùa chú hay bằng cách cắn răng chịu đựng, mà là dấu hiệu cho biết trong tâm còn chỗ chưa sạch. Vì vậy nửa đầu bài kinh mới là một danh sách để tự kiểm tra, chứ không phải một câu chuyện ly kỳ về rừng thiêng.

Người đọc lần đầu không cần thuộc các thuật ngữ. Chỉ cần để ý hai điều. Thứ nhất, mười sáu điểm tự kiểm tra kia không phải tội lỗi ghê gớm, mà là những thứ rất quen: tham, sân, buồn ngủ, bồn chồn, nghi ngờ, thích khoe mình, thích được khen, lười, quên mình đang làm gì. Thứ hai, cái lặp đi lặp lại mười sáu lần trong bản Pali không phải chỗ văn vẻ kém cỏi; đó chính là cách bài kinh dạy — mỗi lần lặp là một lần tự hỏi lại cho thật lòng.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi bà-la-môn Jāṇussoṇi (Sanh Văn) đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, ông chào hỏi thân mật với Đức Thế Tôn.

[Chú thích: Tên Jāṇussoṇi bắt nguồn từ Jānaśruti, nghĩa là "nổi tiếng trong dân chúng"; Hán tạng dịch là Sanh Văn cũng theo nghĩa đó. Chú giải Pali nói đây là tước hiệu ban cho vị tế sư của nước Kosala, nhưng điều này không có chứng cứ xác nhận.]

Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bà-la-môn Jāṇussoṇi bạch Đức Thế Tôn rằng:

"Thưa ngài Gotama, những người con nhà lương thiện nào vì lòng tin nơi ngài Gotama mà bỏ nhà ra đi, sống không nhà, thì ngài Gotama là người dẫn đầu cho họ, là người giúp ích nhiều cho họ, là người khích lệ họ;

[Chú thích: Câu này đôi khi được dịch thành câu hỏi, nhưng trong Pali không có từ để hỏi. Bản Hán tương ứng (Tăng Nhất A-hàm 31.1) lại đảo thứ tự: vị bà-la-môn nói trước rằng sống trong rừng thật khó, rồi mới nói tới việc Đức Thế Tôn là người dẫn đường.]

và những người ấy noi theo gương ngài Gotama."

[Chú thích: Chữ diṭṭhānugati ở đây nên hiểu là "noi theo cái đã thấy", tức noi theo tấm gương, chứ không phải "noi theo tri kiến" (diṭṭhi).]

"Đúng là vậy, này bà-la-môn, đúng là vậy, này bà-la-môn.

Này bà-la-môn, những người con nhà lương thiện nào vì lòng tin nơi ta mà bỏ nhà ra đi, sống không nhà, thì ta là người dẫn đầu cho họ, ta là người giúp ích nhiều cho họ, ta là người khích lệ họ;

và những người ấy noi theo gương của ta."

"Thưa ngài Gotama, quả thật những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng thật khó sống; viễn ly thật khó, sống một mình thật khó có niềm vui;

những khu rừng dường như cuốn phăng tâm trí của vị tỳ-kheo chưa đạt được định."

"Đúng là vậy, này bà-la-môn, đúng là vậy, này bà-la-môn.

Quả thật, này bà-la-môn, những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng thật khó sống; viễn ly thật khó, sống một mình thật khó có niềm vui;

những khu rừng dường như cuốn phăng tâm trí của vị tỳ-kheo chưa đạt được định."

Này bà-la-môn, ngay cả ta, trước khi giác ngộ, khi còn là bồ-tát chưa chứng được giác ngộ, cũng đã nghĩ rằng:

[Chú thích: Đây là lần đầu trong Trung Bộ Kinh Đức Thế Tôn kể lại việc mình tu thiền trước khi giác ngộ, và Ngài cho thấy mình khi ấy cũng là người thường gặp đúng những khó khăn ấy. Chữ bồ-tát (bodhisatta) ở đây nghĩa là "chúng sinh đang hướng tới giác ngộ".]

"Những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng thật khó sống; viễn ly thật khó, sống một mình thật khó có niềm vui;

những khu rừng dường như cuốn phăng tâm trí của vị tỳ-kheo chưa đạt được định."

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào thân hành chưa thanh tịnh mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi thân hành chưa thanh tịnh, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

[Chú thích: Nghĩa là chính lỗi lầm của họ hiện ra thành nỗi sợ. Suốt bài kinh, Đức Thế Tôn nhấn mạnh rằng sợ hãi chỉ được vượt qua bằng cách tu tập đúng con đường, chứ không bằng cách cố chịu đựng hay dùng bùa chú.]

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi thân hành chưa thanh tịnh.

Thân hành của ta đã thanh tịnh.

Những bậc thánh nào thân hành thanh tịnh mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự thanh tịnh của thân hành ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

[Chú thích: "An tâm" là chữ pallomamāpādiṁ, nghĩa đen là lông tóc không dựng ngược, tức không còn chút dao động.]

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào khẩu hành chưa thanh tịnh mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi khẩu hành chưa thanh tịnh, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Những sa-môn hay bà-la-môn nào ý hành chưa thanh tịnh mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi ý hành chưa thanh tịnh, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Những sa-môn hay bà-la-môn nào sinh kế chưa thanh tịnh mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi sinh kế chưa thanh tịnh, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi sinh kế chưa thanh tịnh.

Sinh kế của ta đã thanh tịnh.

Những bậc thánh nào sinh kế thanh tịnh mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

[Chú thích: Sự thanh tịnh của sinh kế được trình bày chi tiết trong Trường Bộ Kinh bài 2, như một phần của lộ trình tu tập từng bước. Có thể đọc bài kinh này như một cách trình bày khác của lộ trình ấy.]

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự thanh tịnh của sinh kế ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào tham muốn các dục, với lòng tham gắt gao nơi các dục, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi tham muốn và lòng tham gắt gao nơi các dục, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi tham muốn các dục, với lòng tham gắt gao nơi các dục.

Ta không tham muốn.

Những bậc thánh nào không tham muốn mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự không tham muốn ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào có tâm sân hận, ý nghĩ ác độc, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi tâm sân hận và ý nghĩ ác độc, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi tâm sân hận, ý nghĩ ác độc.

Ta có tâm từ.

Những bậc thánh nào có tâm từ mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình tâm từ ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào bị hôn trầm thụy miên chi phối mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi bị hôn trầm thụy miên chi phối, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi bị hôn trầm thụy miên chi phối.

Ta đã thoát khỏi hôn trầm thụy miên.

Những bậc thánh nào đã thoát khỏi hôn trầm thụy miên mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự thoát khỏi hôn trầm thụy miên ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:


"Những sa-môn hay bà-la-môn nào dao động, tâm không lắng dịu, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi dao động và tâm không lắng dịu, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi dao động, tâm không lắng dịu.

Tâm ta đã lắng dịu.

Những bậc thánh nào tâm đã lắng dịu mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự lắng dịu của tâm ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào còn hoài nghi, do dự, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi hoài nghi và do dự, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi còn hoài nghi, do dự.

Ta đã vượt qua hoài nghi.

Những bậc thánh nào đã vượt qua hoài nghi mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự vượt qua hoài nghi ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào tự tâng bốc mình và chê bai người khác mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi tự tâng bốc mình và chê bai người khác, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi tự tâng bốc mình và chê bai người khác.

Ta không tự tâng bốc mình, không chê bai người khác.

Những bậc thánh nào không tự tâng bốc mình, không chê bai người khác, mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự không tự tâng bốc mình và không chê bai người khác ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào run sợ, bẩm sinh nhút nhát, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi run sợ và bẩm sinh nhút nhát, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi run sợ, bẩm sinh nhút nhát.

Ta không còn sợ đến dựng tóc gáy.

Những bậc thánh nào không còn sợ đến dựng tóc gáy mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự không còn sợ đến dựng tóc gáy ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào mong cầu lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi mong cầu lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi mong cầu lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng.

Ta ít dục.

Những bậc thánh nào ít dục mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự ít dục ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào biếng nhác, thiếu tinh tấn, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi biếng nhác và thiếu tinh tấn, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi biếng nhác, thiếu tinh tấn.

Ta đã khởi tinh tấn.

Những bậc thánh nào đã khởi tinh tấn mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự khởi tinh tấn ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào thất niệm, không tỉnh giác, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi thất niệm và không tỉnh giác, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi thất niệm, không tỉnh giác.

Ta an trú chánh niệm.

Những bậc thánh nào an trú chánh niệm mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự an trú chánh niệm ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào không có định, tâm tán loạn, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi không có định và tâm tán loạn, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

[Chú thích: "Tâm tán loạn" là chữ vibbhantacittā; động từ cùng gốc với chữ này còn dùng để nói về một vị xuất gia hoàn tục.]

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi không có định, tâm tán loạn.

Ta thành tựu định.

Những bậc thánh nào thành tựu định mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự thành tựu định ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Những sa-môn hay bà-la-môn nào kém tuệ, đần độn, mà lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng, thì chính vì lỗi kém tuệ và đần độn, các vị sa-môn và bà-la-môn ấy chuốc lấy sự sợ hãi và kinh hoàng bất thiện.

Nhưng ta đâu có lui tới những trú xứ xa xôi ấy khi kém tuệ, đần độn."


"Ta thành tựu tuệ.

Những bậc thánh nào thành tựu tuệ mà lui tới những trú xứ xa xôi ấy, ta là một trong những vị ấy."

Này bà-la-môn, khi thấy nơi chính mình sự thành tựu tuệ ấy, ta càng thêm an tâm mà sống nơi rừng vắng.

Phần mười sáu cách trình bày chấm dứt tại đây.

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Hay là ta hãy làm thế này — vào những đêm mà mọi người đều biết và đánh dấu đặc biệt:

đêm mười bốn, đêm mười lăm và đêm mùng tám của mỗi nửa tháng,

[Chú thích: Đó là những ngày trai giới (uposatha) theo chu kỳ mặt trăng.]

vào những đêm như thế, ta hãy trú tại những trú xứ như thế này — những nơi thờ tự trong vườn, trong rừng, dưới gốc cây, những chốn ghê sợ khiến lông tóc dựng ngược. Biết đâu ta lại thấy được sự sợ hãi và kinh hoàng ấy."

Này bà-la-môn, một thời gian sau, vào những đêm mà mọi người đều biết và đánh dấu đặc biệt:

đêm mười bốn, đêm mười lăm và đêm mùng tám của mỗi nửa tháng,

vào những đêm như thế, ta trú tại những trú xứ như thế này — những nơi thờ tự trong vườn, trong rừng, dưới gốc cây, những chốn ghê sợ khiến lông tóc dựng ngược.

Trong khi ta trú ở đó, này bà-la-môn, có khi một con nai đi ngang, có khi một con công làm rơi một cành cây, có khi gió làm xào xạc đám lá khô.

Này bà-la-môn, khi ấy ta nghĩ rằng:

"Đây hẳn là sự sợ hãi và kinh hoàng đang đến."

[Chú thích: Tình cảm vừa yêu vừa sợ rừng núi ở đây làm nhớ đến bài thánh ca về nữ thần rừng Araṇyānī trong Rig Veda 10.146.]

Này bà-la-môn, ta lại nghĩ rằng:

"Sao ta lại cứ sống mà trông chờ sự sợ hãi?

Hay là ta hãy dẹp sự sợ hãi và kinh hoàng ấy ngay khi nó đến với ta: nó đến lúc ta đang ở tư thế nào, ta cứ nguyên tư thế ấy mà dẹp nó."

Này bà-la-môn, sự sợ hãi và kinh hoàng ấy đến với ta khi ta đang kinh hành.

Này bà-la-môn, khi ấy ta không đứng lại, không ngồi xuống, không nằm xuống, cho đến khi ta dẹp xong sự sợ hãi và kinh hoàng ấy ngay trong lúc đang kinh hành.

Này bà-la-môn, sự sợ hãi và kinh hoàng ấy đến với ta khi ta đang đứng.

Này bà-la-môn, khi ấy ta không kinh hành, không ngồi xuống, không nằm xuống, cho đến khi ta dẹp xong sự sợ hãi và kinh hoàng ấy ngay trong lúc đang đứng.

Này bà-la-môn, sự sợ hãi và kinh hoàng ấy đến với ta khi ta đang ngồi.

Này bà-la-môn, khi ấy ta không nằm xuống, không đứng dậy, không kinh hành, cho đến khi ta dẹp xong sự sợ hãi và kinh hoàng ấy ngay trong lúc đang ngồi.

Này bà-la-môn, sự sợ hãi và kinh hoàng ấy đến với ta khi ta đang nằm.

Này bà-la-môn, khi ấy ta không ngồi dậy, không đứng dậy, không kinh hành, cho đến khi ta dẹp xong sự sợ hãi và kinh hoàng ấy ngay trong lúc đang nằm.

Này bà-la-môn, có một số sa-môn và bà-la-môn khi đang là đêm thì nhận là ngày, khi đang là ngày thì nhận là đêm.

[Chú thích: Đoạn này cho thấy những khu rừng có thể làm tâm người chưa có định bị xáo trộn: khi công phu thiền, nhận thức có thể đổi khác đến mức khó hiểu. Cố sức quá mức trong thiền đôi khi cũng dẫn đến tổn hại tinh thần.]

Ta nói rằng đó là sự sống trong si mê của các vị sa-môn, bà-la-môn ấy.

Còn ta, này bà-la-môn, khi đang là đêm thì biết là đêm, khi đang là ngày thì biết là ngày.

[Chú thích: Câu này ám chỉ một câu thường gặp "ngày thế nào thì đêm thế ấy, đêm thế nào thì ngày thế ấy", gắn với việc tu nhận thức ánh sáng và xua tan hôn trầm. Ý của câu ấy là tâm đã được tu đến mức tràn đầy ánh sáng, bất kể bên ngoài sáng hay tối.]

Này bà-la-môn, nếu có ai muốn nói đúng mà nói rằng:

"Một chúng sinh không còn bị si mê chi phối đã xuất hiện trên đời vì lợi ích và hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương xót đối với thế gian, vì lợi ích, hạnh phúc và an lạc của chư thiên và loài người" — thì chính là nói về ta:

"Một chúng sinh không còn bị si mê chi phối đã xuất hiện trên đời vì lợi ích và hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương xót đối với thế gian, vì lợi ích, hạnh phúc và an lạc của chư thiên và loài người."

Này bà-la-môn, khi ấy tinh tấn của ta đã được khởi lên, không hề lui sụt; chánh niệm đã an trú, không quên mất; thân đã lắng dịu, không còn dao động; tâm đã định tĩnh, nhất tâm.

[Chú thích: Đến đây bài kinh trở về cách trình bày quen thuộc về định rồi về tuệ. Gộp lại, đây là lần trình bày đầu tiên về lộ trình tu tập từng bước trong Trung Bộ Kinh. Chữ "nhất tâm" (ekagga) được chú giải hiểu là "đặt đúng chỗ", còn dạng Sanskrit ekāgra lại gợi nghĩa "đỉnh cao".]

Này bà-la-môn, ta ly các dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi.

[Chú thích: Thiền-na là trạng thái tâm thức cao hơn mức thường, nên các chữ ở đây cũng mang nghĩa cao hơn. "Tầm" và "tứ" thường có nghĩa là suy nghĩ, nhưng trong thiền-na chỉ sự hướng tâm và giữ tâm vào đối tượng.]

Khi tầm và tứ lắng xuống, ta chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, một trạng thái nội tâm lắng trong, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh khởi.

[Chú thích: Mỗi tầng thiền-na bắt đầu đúng lúc khía cạnh thô nhất của tầng trước vừa lắng xuống; đây là tiến trình tự nhiên, không phải do cố ý điều khiển.]

Khi hỷ đã lìa, ta trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, và thân cảm nhận được lạc; ta chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, cảnh giới mà các bậc thánh tuyên bố: "Người có xả và chánh niệm thì sống an lạc."

[Chú thích: Phản ứng với hỷ chín dần từ niềm phấn khởi vi tế sang sự thăng bằng của xả. Chánh niệm có mặt trong mọi tầng thiền sâu, nhưng đến đây mới nổi bật.]

Khi lạc đã được từ bỏ và khổ đã được từ bỏ, và khi hỷ và ưu từ trước đã chấm dứt, ta chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.

[Chú thích: Xả dẫn cảm thọ vào trạng thái trung tính vi tế; khổ và ưu đã được buông từ lâu, nhưng được nhắc ở đây vì là cặp đối ứng vi tế của lạc và hỷ.]

Khi tâm ta đã định tĩnh như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không còn vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, đã trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững vàng, không lay chuyển — ta hướng tâm tới trí nhớ về các đời sống trước. Ta nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau,

[Chú thích: Xả của thiền-na thứ tư không phải là lờ đờ, mà là nhận thức sáng rỡ; đây là nền tảng tốt nhất để phát triển các minh. Động từ abhininnāmeti ("hướng tới") cho thấy hành giả bước ra khỏi định sâu, như con rùa thò chân ra khỏi mai.]

nghĩa là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra. Ở chỗ ấy, ta đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, nhan sắc như thế này, ăn món ăn như thế này, cảm thọ lạc và khổ như thế này, tuổi thọ có giới hạn như thế này; ta chết ở đó và sinh ra ở chỗ kia. Ở chỗ kia, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, nhan sắc như thế này, ăn món ăn như thế này, cảm thọ lạc và khổ như thế này, tuổi thọ có giới hạn như thế này; ta chết ở đó và sinh ra ở đây. Như vậy, ta nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, với đầy đủ nét và chi tiết.

[Chú thích: Nhờ năng lực thiền-na thứ tư, ký ức xuyên qua bức màn sinh tử và cho thấy thời gian mênh mông, không có chỗ dừng nào trong vòng luân hồi. Tri kiến này không mờ nhạt mà rõ ràng, sáng tỏ.]

Này bà-la-môn, đây là minh thứ nhất mà ta đã chứng được trong canh đầu của đêm,

vô minh đã bị diệt, minh đã sinh khởi; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã sinh khởi — đúng như với người sống không phóng dật, nhiệt tâm và dốc lòng.

Khi tâm ta đã định tĩnh như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không còn vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, đã trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững vàng, không lay chuyển — ta hướng tâm tới trí biết về sự chết và tái sinh của chúng sinh.

Với thiên nhãn trong sạch, vượt ngoài tầm mắt của người thường, ta thấy chúng sinh đang chết và đang sinh, kém cỏi và cao quý, đẹp và xấu, sinh vào cõi lành hay cõi dữ; ta hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình: "Những chúng sinh này đã làm ác bằng thân, đã làm ác bằng lời, đã làm ác bằng ý; đã mắng nhiếc các bậc thánh; có tà kiến; thọ trì nghiệp theo tà kiến. Khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh kia đã làm lành bằng thân, đã làm lành bằng lời, đã làm lành bằng ý; không mắng nhiếc các bậc thánh; có chánh kiến; thọ trì nghiệp theo chánh kiến. Khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi lành, cõi trời." Như vậy, với thiên nhãn trong sạch, vượt ngoài tầm mắt của người thường, ta thấy chúng sinh đang chết và đang sinh, kém cỏi và cao quý, đẹp và xấu, sinh vào cõi lành hay cõi dữ; ta hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình.

[Chú thích: Ở đây tri kiến mở rộng sang sự tái sinh của người khác, và quan trọng hơn, đưa vào hiểu biết về nhân quả — vì sao tái sinh lại như vậy. Nhưng loại tri kiến này không phải không thể sai, nên kết luận chỉ nên rút ra dè dặt sau một thời gian dài chiêm nghiệm.]

Này bà-la-môn, đây là minh thứ hai mà ta đã chứng được trong canh giữa của đêm,

vô minh đã bị diệt, minh đã sinh khởi; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã sinh khởi — đúng như với người sống không phóng dật, nhiệt tâm và dốc lòng.

Khi tâm ta đã định tĩnh như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không còn vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, đã trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững vàng, không lay chuyển — ta hướng tâm tới trí biết về sự đoạn tận các lậu hoặc.

[Chú thích: Đây là kinh nghiệm giác ngộ, mục đích thật của con đường. Các lậu hoặc bị chế ngự bởi giới, bị đè nén bởi sức định, và ở đây bị đoạn trừ vĩnh viễn.]

Ta đã như thật hiểu rõ: "Đây là khổ", "Đây là sự tập khởi của khổ", "Đây là sự chấm dứt của khổ", "Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ".

[Chú thích: Đó là Bốn Sự Thật Cao Quý, nội dung chính của bài pháp đầu tiên. Thấy được bốn sự thật này ứng với quả Nhập Lưu; đoạn tận mọi lậu hoặc ứng với quả A-la-hán.]

Ta đã như thật hiểu rõ: "Đây là các lậu hoặc", "Đây là sự tập khởi của lậu hoặc", "Đây là sự chấm dứt của lậu hoặc", "Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của lậu hoặc".

[Chú thích: Áp dụng bốn sự thật cho các lậu hoặc cho thấy đây là giai đoạn cuối của giác ngộ, tức quả A-la-hán. Chữ "lậu hoặc" ở đây dịch chữ āsava, chỉ vết nhơ làm ô nhiễm tâm.]

Khi ta biết như vậy và thấy như vậy, tâm đã giải thoát khỏi lậu hoặc của dục, tâm đã giải thoát khỏi lậu hoặc của hữu, tâm đã giải thoát khỏi lậu hoặc của vô minh.

[Chú thích: Lậu hoặc của hữu là tham muốn được tiếp tục sống trong một đời sống mới.]

Khi đã giải thoát, ta biết rằng mình đã giải thoát.

[Chú thích: Đây là sự tự biết mình đã giải thoát: hành giả nhìn lại tâm mình và thấy nó đã thoát khỏi mọi sức mạnh đưa đến khổ đau.]

Ta đã như thật biết rõ: "Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa."

[Chú thích: Đây là lời tuyên bố chuẩn mực về giác ngộ trọn vẹn trong kinh điển: sinh đã tận vì cái đẩy tái sinh đã cạn; con đường tám nhánh đã được tu đầy đủ; mọi việc liên quan đến bốn sự thật đã xong; và Niết-bàn là cuối cùng, không còn trở lại cõi nào nữa.]


Này bà-la-môn, đây là minh thứ ba mà ta đã chứng được trong canh cuối của đêm,

vô minh đã bị diệt, minh đã sinh khởi; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã sinh khởi — đúng như với người sống không phóng dật, nhiệt tâm và dốc lòng.

Này bà-la-môn, có thể ông nghĩ rằng:

"Có lẽ đến nay sa-môn Gotama vẫn chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, nên mới cứ lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng."

Nhưng này bà-la-môn, không nên nhìn nhận như vậy.

Này bà-la-môn, ta lui tới những trú xứ xa xôi giữa rừng sâu hoang vắng vì thấy hai lợi ích:

một là thấy được sự sống an lạc ngay trong đời này cho chính mình, hai là vì lòng thương xót đối với thế hệ sau.

[Chú thích: Câu này cũng xuất hiện trong Tăng Chi Bộ Kinh bài 2.30. Ở đây Đức Thế Tôn xác nhận điều Jāṇussoṇi tin: Ngài sống nơi rừng vắng một phần để làm gương cho người sau.]

Thật vậy, thưa ngài Gotama, ngài Gotama đã thương xót thế hệ sau — điều ấy thật xứng với một bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.

Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời!

Ví như, thưa ngài Gotama, có người dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, ngài Gotama đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách.

Tôi xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo.

[Chú thích: Jāṇussoṇi xuất hiện và xin quy y rất nhiều lần trong kinh điển, đến mức gần thành một khuôn riêng. Những đoạn kết kiểu này thường do người biên tập thêm vào sau, nên không nên xem là lời của chính Đức Thế Tôn.]

Xin ngài Gotama nhận tôi làm người cư sĩ, từ hôm nay cho đến trọn đời, tôi xin quy y.

Kinh Sợ Hãi và Kinh Hoàng, bài thứ tư, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →