Trung Bộ Kinh · bài 151/152
Kinh Thanh Tịnh Việc Khất Thực
Piṇḍapātapārisuddhi Sutta — bài kinh về việc làm cho trong sạch bữa ăn khất thực
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài kinh mở đầu bằng một cảnh rất nhỏ. Buổi chiều, tại Rājagaha (Vương Xá), Tôn giả Sāriputta từ chỗ độc cư bước ra, đến đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nhìn thấy các căn của ông trong sáng, sắc mặt thanh tịnh và sáng rỡ, bèn hỏi: nay ông thường an trú nhiều trong trú xứ nào? Chữ "trú xứ" ở đây không chỉ chỗ ở. Nó là cách an trú của tâm, là nếp sống bên trong mà một người thường lui tới.
Tôn giả Sāriputta đáp: con thường an trú nhiều trong trú xứ trống không. Đức Thế Tôn khen lời ấy và gọi đó là trú xứ của bậc đại nhân, rồi Ngài đưa ra một cách kiểm tra để bất cứ tỳ-kheo nào cũng đi vào được trú xứ ấy. Cách ấy rất cụ thể: trong lúc đi vào làng để khất thực, trong lúc đi khất thực, và trong lúc từ làng khất thực trở về, mỗi người tự hỏi mình rằng đối với những hình sắc mắt thấy, âm thanh tai nghe, mùi mũi ngửi, vị lưỡi nếm, vật xúc chạm thân chạm và những gì ý nghĩ tới, nơi mình có khởi lên lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si hay sự chống đối của tâm hay không.
Câu trả lời có hai nhánh. Nếu có, thì phải nỗ lực đoạn trừ chính những pháp xấu ác, bất thiện ấy. Nếu không có, thì hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện. Điểm đáng chú ý nằm ở chỗ Đức Thế Tôn đặt phép kiểm tra vào đúng quãng đường đi khất thực, tức là phần đời sống dễ bị xao động nhất, chứ không phải trong một căn phòng yên tĩnh.
Sau đó Ngài áp dụng đúng khuôn ấy cho mười hai đề mục nữa: năm loại dục lạc, năm triền cái, năm thủ uẩn, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, con đường thánh tám chi phần, chỉ và quán, sau cùng là minh và giải thoát. Mỗi đề mục chỉ có hai câu hỏi: việc ấy nơi ta đã xong chưa? Nếu chưa thì nỗ lực, nếu rồi thì an trú trong niềm vui ấy mà tiếp tục tu học.
Điều khiến bài kinh này khác nhiều bài khác là chỗ danh sách ấy không dừng lại ở những bậc còn đang tu. Ngay cả minh và giải thoát, tức đích cuối cùng, cũng nằm trong danh sách phải tự kiểm tra, và câu trả lời "đã xong" vẫn dẫn đến việc tiếp tục tu học ngày đêm. Nói cách khác, sự tự quán xét không phải một bước để vượt qua rồi bỏ lại, mà trở thành nếp sống. Bài kinh khép lại bằng lời dạy rằng mọi sa-môn, bà-la-môn trong quá khứ, vị lai và hiện tại làm cho bữa ăn khất thực được thanh tịnh đều nhờ quán xét đi quán xét lại như vậy.
Với người chưa học Phật, có thể đọc bài kinh này như một bài tập tự kiểm tra mỗi ngày. Bữa ăn khất thực là bữa ăn xin được từ người khác, nên nó buộc người nhận phải tự hỏi mình có xứng đáng với của ấy không; "thanh tịnh việc khất thực" nghĩa là bữa ăn chỉ nuôi thân, không nuôi tham sân si. Nhưng câu hỏi thì rộng hơn bữa ăn: mỗi lần ra khỏi nhà, mỗi lần đi qua một con đường quen, ta mang theo cái gì trong tâm, và cái gì đã khởi lên ở đó mà ta không để ý.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).
Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, Tôn giả đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Sāriputta đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói với Tôn giả như vầy:
Này Sāriputta, các căn của ông thật trong sáng, sắc mặt thanh tịnh và sáng rỡ.
Này Sāriputta, nay ông thường an trú nhiều trong trú xứ nào?
Bạch Thế Tôn, nay con thường an trú nhiều trong trú xứ trống không.
[Chú thích: Đoạn này ứng với MN 121:3.3 và chú thích ở đó. Bài kinh ấy đưa ra một góc nhìn khác về phép an trú này.]
Lành thay, lành thay, này Sāriputta!
Hóa ra nay ông thường an trú nhiều trong trú xứ của bậc đại nhân, này Sāriputta.
[Chú thích: Hình ảnh bậc đại nhân thì quen thuộc, nhưng trú xứ của bậc đại nhân (mahāpurisavihāra) chỉ xuất hiện ở đây và ở Kd 22:2.5.10, chỗ ấy hình như mượn từ đoạn này.]
Này Sāriputta, trú xứ của bậc đại nhân chính là đây:
Sự trống không.
Vì thế, này Sāriputta, nếu tỳ-kheo ước muốn:
"Mong rằng ta an trú nhiều trong trú xứ trống không" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải suy xét như vầy:
"Trên con đường ta đi vào làng để khất thực, ở chỗ ta đi khất thực, và trên con đường ta từ làng khất thực trở về — ở đó, đối với những hình sắc được nhận biết bằng mắt, nơi ta có chăng lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si, hay sự chống đối của tâm?"
[Chú thích: Ở đây phép quán sáu xứ giác quan được dạy trong bối cảnh thu thúc giác quan, bằng cách chủ động phát triển tuệ.]
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Trên con đường ta đi vào làng để khất thực, ở chỗ ta đi khất thực, và trên con đường ta từ làng khất thực trở về — ở đó, đối với những hình sắc được nhận biết bằng mắt, nơi ta có lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si, hay sự chống đối của tâm" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực đoạn trừ chính những pháp xấu ác, bất thiện ấy.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Trên con đường ta đi vào làng để khất thực, ở chỗ ta đi khất thực, và trên con đường ta từ làng khất thực trở về — ở đó, đối với những hình sắc được nhận biết bằng mắt, nơi ta không có lòng ham muốn, không có lòng tham, không có lòng sân, không có lòng si, cũng không có sự chống đối của tâm" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Trên con đường ta đi vào làng để khất thực, ở chỗ ta đi khất thực, và trên con đường ta từ làng khất thực trở về — ở đó, đối với những âm thanh được nhận biết bằng tai, nơi ta có chăng lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si, hay sự chống đối của tâm?
Ở đó, đối với những mùi được nhận biết bằng mũi, nơi ta có chăng lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si, hay sự chống đối của tâm?
Ở đó, đối với những vị được nhận biết bằng lưỡi, nơi ta có chăng lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si, hay sự chống đối của tâm?
Ở đó, đối với những vật xúc chạm được nhận biết bằng thân, nơi ta có chăng lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si, hay sự chống đối của tâm?
Ở đó, đối với những pháp được nhận biết bằng ý, nơi ta có chăng lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si, hay sự chống đối của tâm?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Trên con đường ta đi vào làng để khất thực, ở chỗ ta đi khất thực, và trên con đường ta từ làng khất thực trở về — ở đó, đối với những pháp được nhận biết bằng ý, nơi ta có lòng ham muốn, lòng tham, lòng sân, lòng si, hay sự chống đối của tâm" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực đoạn trừ chính những pháp xấu ác, bất thiện ấy.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Trên con đường ta đi vào làng để khất thực, ở chỗ ta đi khất thực, và trên con đường ta từ làng khất thực trở về — ở đó, đối với những pháp được nhận biết bằng ý, nơi ta không có lòng ham muốn, không có lòng tham, không có lòng sân, không có lòng si, cũng không có sự chống đối của tâm" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
[Chú thích: Những phần sau đây có thể là phần thêm vào sau này, vì bản tương ứng trong Hán tạng (SA 236, T ii 57b24) không có chúng.]
"Năm loại dục lạc nơi ta đã được đoạn trừ chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm loại dục lạc nơi ta chưa được đoạn trừ" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực đoạn trừ năm loại dục lạc.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm loại dục lạc nơi ta đã được đoạn trừ" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Năm triền cái nơi ta đã được đoạn trừ chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm triền cái nơi ta chưa được đoạn trừ" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực đoạn trừ năm triền cái.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm triền cái nơi ta đã được đoạn trừ" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Năm thủ uẩn nơi ta đã được hiểu biết trọn vẹn chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm thủ uẩn nơi ta chưa được hiểu biết trọn vẹn" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực hiểu biết trọn vẹn năm thủ uẩn.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm thủ uẩn nơi ta đã được hiểu biết trọn vẹn" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Bốn niệm xứ nơi ta đã được tu tập chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Bốn niệm xứ nơi ta chưa được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực tu tập bốn niệm xứ.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Bốn niệm xứ nơi ta đã được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Bốn chánh cần nơi ta đã được tu tập chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Bốn chánh cần nơi ta chưa được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực tu tập bốn chánh cần.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Bốn chánh cần nơi ta đã được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Bốn thần túc nơi ta đã được tu tập chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Bốn thần túc nơi ta chưa được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực tu tập bốn thần túc.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Bốn thần túc nơi ta đã được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Năm căn nơi ta đã được tu tập chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm căn nơi ta chưa được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực tu tập năm căn.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm căn nơi ta đã được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Năm lực nơi ta đã được tu tập chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm lực nơi ta chưa được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực tu tập năm lực.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Năm lực nơi ta đã được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Bảy giác chi nơi ta đã được tu tập chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Bảy giác chi nơi ta chưa được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực tu tập bảy giác chi.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Bảy giác chi nơi ta đã được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Con đường thánh tám chi phần nơi ta đã được tu tập chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Con đường thánh tám chi phần nơi ta chưa được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực tu tập con đường thánh tám chi phần.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Con đường thánh tám chi phần nơi ta đã được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Chỉ và quán nơi ta đã được tu tập chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Chỉ và quán nơi ta chưa được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực tu tập chỉ và quán.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Chỉ và quán nơi ta đã được tu tập" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
Lại nữa, này Sāriputta, tỳ-kheo phải suy xét như vầy:
"Minh và giải thoát nơi ta đã được chứng ngộ chưa?"
Này Sāriputta, nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Minh và giải thoát nơi ta chưa được chứng ngộ" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy phải nỗ lực chứng ngộ minh và giải thoát.
Này Sāriputta, nhưng nếu tỳ-kheo trong khi quán xét biết như vầy:
"Minh và giải thoát nơi ta đã được chứng ngộ" — thì này Sāriputta, tỳ-kheo ấy hãy an trú trong chính niềm vui và hoan hỷ ấy, ngày đêm tu học trong những pháp thiện.
[Chú thích: Ngay cả bậc A-la-hán cũng tiếp tục thiền tập và thực hành, vì đó là cách sống an lạc và để nêu gương tốt.]
Này Sāriputta, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã làm cho bữa ăn khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đều đã làm cho bữa ăn khất thực được thanh tịnh nhờ quán xét đi quán xét lại như vậy.
Này Sāriputta, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời vị lai sẽ làm cho bữa ăn khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đều sẽ làm cho bữa ăn khất thực được thanh tịnh nhờ quán xét đi quán xét lại như vậy.
Này Sāriputta, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời hiện tại đang làm cho bữa ăn khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đều đang làm cho bữa ăn khất thực được thanh tịnh nhờ quán xét đi quán xét lại như vậy.
Vì thế, này Sāriputta, các ông hãy học tập như vầy: "Chúng ta sẽ làm cho bữa ăn khất thực được thanh tịnh nhờ quán xét đi quán xét lại" —
[Chú thích: Câu này làm rõ mục đích chung của bài kinh: đưa ra cách để tỳ-kheo quán xét trong lúc đi khất thực hằng ngày, khi dễ gặp những hình sắc, âm thanh và mùi làm xao lãng tâm.]
này Sāriputta, các ông phải học tập đúng như thế.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Sāriputta hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Thanh Tịnh Việc Khất Thực, bài thứ chín, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.