buppou

Trung Bộ Kinh · bài 152/152

Kinh Tu Tập Các Căn

Indriyabhāvanā Sutta — bài kinh về sự tu tập các căn, bài cuối cùng của Trung Bộ Kinh

22 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Tu Tập Các Căn (Indriyabhāvanā Sutta) là bài thứ 152, cũng là bài cuối cùng của Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại Gajaṅgalā, một thị trấn ở vùng biên phía đông của vùng trung tâm Ấn Độ thời bấy giờ, trong một rừng tre. Người đến thăm Đức Thế Tôn hôm ấy không phải một vị xuất gia mà là Uttara, một thanh niên đang theo học với bà-la-môn Pārāsiviya — tức một vị thầy thuộc giai cấp bà-la-môn, giới trí thức tế lễ của Ấn Độ cổ.

Đức Thế Tôn mở đầu bằng một câu hỏi lịch sự: thầy của ông có dạy học trò về sự tu tập các căn không? Uttara đáp là có. Và khi được hỏi dạy thế nào, ông trình bày: đó là khi mắt không thấy sắc, tai không nghe tiếng. Đức Thế Tôn chỉ ra ngay chỗ vô lý của lời ấy — nếu vậy thì người mù và người điếc sẽ có các căn đã được tu tập hoàn hảo. Uttara không đáp được, ngồi im, rũ vai, cúi đầu. Cuộc đối thoại chấm dứt ở đó, nhưng chính nó mở ra phần dạy thật sự của bài kinh.

Vậy "căn" ở đây là gì? Đó là sáu năng lực của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý — những gì cho phép ta thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm và suy nghĩ. Và "tu tập" chúng, theo Đức Thế Tôn, không phải là làm cho chúng ngưng hoạt động, mà là thay đổi cách ta đối diện với những gì chúng mang đến. Khi mắt thấy một hình sắc, trong tâm lập tức khởi lên cái ưa, cái không ưa, hoặc lẫn lộn cả hai. Đó là chuyện tự nhiên, không phải lỗi của ai. Cái được tu tập là bước tiếp theo: nhận ra những phản ứng ấy vừa mới sinh, do điều kiện mà có, thô thiển và rồi sẽ mất; nhờ thấy vậy, chúng lắng xuống và tâm an trú trong xả — trạng thái không bị kéo về phía ưa hay ghét.

Bài kinh lặp lại khuôn ấy cho cả sáu giác quan, mỗi lần kèm một ví dụ cho thấy sự chuyển hóa xảy ra nhanh đến mức nào: mở mắt rồi nhắm lại, búng tay, giọt nước lăn trên lá sen, nhổ một cục nước bọt, co hay duỗi cánh tay, giọt nước rơi trên chảo sắt nung. Rồi Đức Thế Tôn lần lượt nói về ba hạng. Phần thứ nhất là sự tu tập các căn tối thượng vừa mô tả, nơi phản ứng ưa ghét vừa sinh đã lắng xuống và xả được an lập. Phần thứ hai là bậc hữu học còn đang tập: vẫn bị ưa ghét chi phối như trước, nhưng thấy chúng là khổ nên không chạy theo. Phần thứ ba là bậc thánh đã tu tập các căn, có thể tùy ý nhìn cái đáng ghê tởm là không đáng ghê tởm, nhìn cái không đáng ghê tởm là đáng ghê tởm, hoặc buông cả hai mà an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.

Phần cuối bài kinh không còn lý luận. Đức Thế Tôn nhắc Ānanda rằng những gì một bậc thầy cần làm cho học trò thì Ngài đã làm, rồi chỉ ra những gốc cây và những chỗ trống vắng: hãy thiền định, chớ phóng dật, chớ để sau này phải hối hận. Đó là những lời cuối cùng của Trung Bộ Kinh, và cũng là lời nhắc được lặp lại ở nhiều bài kinh khác trong bộ.

Đọc bài này, người mới tìm hiểu kinh điển có thể thấy một điều rất đời thường: tu tập không phải là trốn tránh cảm giác, mà là học cách không bị cảm giác của mình điều khiển. Và chỗ luyện tập ấy không ở đâu xa — nó nằm ngay trong giây đầu tiên khi một cái gì đó vừa chạm vào mắt, tai hay ý.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Gajaṅgalā, trong rừng tre Suveḷuvana.

[Chú thích: Tên nơi chốn trong bản Pali là Gajaṅgalā và Suveḷuvana, trong đó Suveḷuvana là tên khu rừng tre. Cách viết này thống nhất với Tăng Chi Bộ Kinh 10.28, nơi một vị tỳ-kheo-ni trú tại thị trấn ấy giảng một bài pháp thấu suốt cho dân chúng; theo Luật tạng, đây là điểm cực đông của vùng trung tâm Ấn Độ thời bấy giờ, và kinh Milindapañha nói đây là nơi sinh của Nāgasena, nên có lẽ ở vùng Darjeeling ngày nay. Dù thế nào, đây cũng là nơi xa nhất về phía đông mà Đức Thế Tôn từng đến.]

Rồi thanh niên Uttara, học trò của bà-la-môn Pārāsiviya, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, ông chào hỏi Đức Thế Tôn.

[Chú thích: Vị thầy bà-la-môn này còn được ghi với những dạng tên khác là Pārāsariya và Pārāpariya, và xuất hiện trong các bài Jātaka 222 và 353 với lời cảnh báo rằng làm điều ác sẽ dẫn đến hối hận. Những vị tỳ-kheo trùng tên trong Trưởng lão Tăng kệ (Thag 1.116, 16.2, 16.10) đều thuộc dòng họ ấy, hậu duệ của hiền giả Parāśara.]

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và câu chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên. Khi thanh niên Uttara, học trò của Pārāsiviya, đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói với ông:

"Này Uttara, bà-la-môn Pārāsiviya có dạy các đệ tử của mình về sự tu tập các căn không?"

"Có chứ, thưa ngài Gotama, bà-la-môn Pārāsiviya có dạy các đệ tử của mình về sự tu tập các căn."

"Nhưng thế nào, này Uttara, bà-la-môn Pārāsiviya dạy các đệ tử của mình về sự tu tập các căn?"

"Thưa ngài Gotama, ở đây, khi dùng mắt mà không thấy sắc, dùng tai mà không nghe tiếng —

[Chú thích: Đây có lẽ là cách nói méo mó của một số giáo lý Upaniṣad về trạng thái đồng nhất không phân biệt của thần linh, trong đó tiềm năng của các giác quan vẫn còn (xem Trường Bộ Kinh 29.16.13). Cũng có thể giáo lý ấy nói đến giấc ngủ sâu, khi các giác quan rút vào khoảng không của trái tim (Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 2.1.17).]

Đó là cách, thưa ngài Gotama, bà-la-môn Pārāsiviya dạy các đệ tử của mình về sự tu tập các căn."

"Nếu vậy, này Uttara, người mù sẽ có các căn đã được tu tập, người điếc sẽ có các căn đã được tu tập,

theo lời của bà-la-môn Pārāsiviya.

Vì này Uttara, người mù dùng mắt không thấy sắc, người điếc dùng tai không nghe tiếng."

[Chú thích: Lời dạy ở đây không nói về thiền sâu, nơi các giác quan có thể tạm ngưng hoạt động, mà nói về cách ta quan hệ với kinh nghiệm của giác quan.]

Khi nghe nói vậy, thanh niên Uttara, học trò của Pārāsiviya, ngồi im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, ủ rũ, không nói được lời nào.

Rồi Đức Thế Tôn, biết thanh niên Uttara, học trò của Pārāsiviya, đang ngồi im lặng, bối rối, rũ vai, cúi đầu, ủ rũ, không nói được lời nào, bèn gọi Tôn giả Ānanda:

"Này Ānanda, bà-la-môn Pārāsiviya dạy các đệ tử của mình về sự tu tập các căn theo một cách khác, còn trong giới luật của bậc thánh thì có sự tu tập các căn tối thượng."

"Bạch Thế Tôn, nay đã đúng lúc; bạch Thiện Thệ, nay đã đúng lúc

để Đức Thế Tôn dạy về sự tu tập các căn tối thượng trong giới luật của bậc thánh. Các tỳ-kheo sau khi nghe Đức Thế Tôn sẽ ghi nhớ."

"Vậy thì này Ānanda, hãy nghe và khéo tác ý; Ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Ānanda đáp lại Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Và thế nào, này Ānanda, trong giới luật của bậc thánh lại có sự tu tập các căn tối thượng?

Ở đây, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng mắt thấy sắc, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

[Chú thích của người dịch: "Khả ý" là cái làm tâm ưa thích, "bất khả ý" là cái làm tâm khó chịu. Cặp này lặp suốt bài kinh, và ở phần tu tập các căn tối thượng thì luôn được đặt đối lập với "xả".]

Vị ấy hiểu như vầy:

'Cái khả ý này đã sinh khởi nơi tôi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi.

Mà cái ấy là hữu vi, thô thiển, do duyên mà sinh khởi.

Cái này là an tịnh, cái này là thù thắng, tức là

xả.'

Rồi đối với vị ấy, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất;

xả được an lập.

Ví như, này Ānanda, một người có mắt sáng mở mắt rồi nhắm lại, hoặc nhắm mắt rồi mở ra;

[Chú thích: Loạt ví dụ trong bài, mỗi ví dụ được chọn cho hợp với một giác quan.]

cũng vậy, này Ānanda, với bất cứ ai, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất nhanh chóng như vậy, mau lẹ như vậy, dễ dàng như vậy, và xả được an lập —

này Ānanda, đây được gọi là sự tu tập các căn tối thượng trong giới luật của bậc thánh, đối với các sắc do mắt nhận biết.

[Chú thích: Chữ indriya, tức "căn", vốn có nghĩa là "tiềm năng": câu này cho thấy sự phòng hộ các giác quan cũng chính là cách làm chúng phát triển đến mức trọn vẹn nhất.]

Hơn nữa, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng tai nghe tiếng, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Cái khả ý này đã sinh khởi nơi tôi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi.

Mà cái ấy là hữu vi, thô thiển, do duyên mà sinh khởi.

Cái này là an tịnh, cái này là thù thắng, tức là

xả.'

Rồi đối với vị ấy, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất;

xả được an lập.

Ví như, này Ānanda, một người khỏe mạnh búng tay một cách dễ dàng;

cũng vậy, này Ānanda, với bất cứ ai, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất nhanh chóng như vậy, mau lẹ như vậy, dễ dàng như vậy, và xả được an lập —

này Ānanda, đây được gọi là sự tu tập các căn tối thượng trong giới luật của bậc thánh, đối với các tiếng do tai nhận biết.

Hơn nữa, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng mũi ngửi mùi, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Cái khả ý này đã sinh khởi nơi tôi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi.

Mà cái ấy là hữu vi, thô thiển, do duyên mà sinh khởi.

Cái này là an tịnh, cái này là thù thắng, tức là

xả.'

Rồi đối với vị ấy, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất;

xả được an lập.

Ví như, này Ānanda, những giọt nước trên lá sen hơi nghiêng thì lăn đi, không đọng lại;

cũng vậy, này Ānanda, với bất cứ ai, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất nhanh chóng như vậy, mau lẹ như vậy, dễ dàng như vậy, và xả được an lập —

này Ānanda, đây được gọi là sự tu tập các căn tối thượng trong giới luật của bậc thánh, đối với các mùi do mũi nhận biết.

Hơn nữa, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng lưỡi nếm vị, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Cái khả ý này đã sinh khởi nơi tôi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi.

Mà cái ấy là hữu vi, thô thiển, do duyên mà sinh khởi.

Cái này là an tịnh, cái này là thù thắng, tức là

xả.'

Rồi đối với vị ấy, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất;

xả được an lập.

Ví như, này Ānanda, một người khỏe mạnh tụ một cục nước bọt nơi đầu lưỡi rồi nhổ ra một cách dễ dàng;

cũng vậy, này Ānanda, với bất cứ ai, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất nhanh chóng như vậy, mau lẹ như vậy, dễ dàng như vậy, và xả được an lập —

này Ānanda, đây được gọi là sự tu tập các căn tối thượng trong giới luật của bậc thánh, đối với các vị do lưỡi nhận biết.

Hơn nữa, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng thân chạm xúc, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Cái khả ý này đã sinh khởi nơi tôi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi.

Mà cái ấy là hữu vi, thô thiển, do duyên mà sinh khởi.

Cái này là an tịnh, cái này là thù thắng, tức là

xả.'

Rồi đối với vị ấy, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất;

xả được an lập.

Ví như, này Ānanda, một người khỏe mạnh co cánh tay đang duỗi ra, hoặc duỗi cánh tay đang co lại;

cũng vậy, này Ānanda, với bất cứ ai, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất nhanh chóng như vậy, mau lẹ như vậy, dễ dàng như vậy, và xả được an lập —

này Ānanda, đây được gọi là sự tu tập các căn tối thượng trong giới luật của bậc thánh, đối với các xúc do thân nhận biết.

Hơn nữa, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng ý biết pháp, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Cái khả ý này đã sinh khởi nơi tôi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi.

Mà cái ấy là hữu vi, thô thiển, do duyên mà sinh khởi.

Cái này là an tịnh, cái này là thù thắng, tức là

xả.'

Rồi đối với vị ấy, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất;

xả được an lập.

Ví như, này Ānanda, một người khỏe mạnh thả hai hay ba giọt nước vào một cái chảo sắt đã được nung nóng cả ngày.

Này Ānanda, các giọt nước ấy rơi xuống thì chậm, nhưng chúng sẽ nhanh chóng khô cạn và tiêu hết;

cũng vậy, này Ānanda, với bất cứ ai, cái khả ý đã sinh khởi, cái bất khả ý đã sinh khởi, cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi đều diệt mất nhanh chóng như vậy, mau lẹ như vậy, dễ dàng như vậy, và xả được an lập —

này Ānanda, đây được gọi là sự tu tập các căn tối thượng trong giới luật của bậc thánh, đối với các pháp do ý nhận biết.

Như vậy, này Ānanda, trong giới luật của bậc thánh có sự tu tập các căn tối thượng.

Và thế nào, này Ānanda, là bậc hữu học đang thực hành?

[Chú thích: Bậc hữu học ở đây ít nhất là bậc Dự lưu. Vị ấy vẫn còn phản ứng với những kinh nghiệm giác quan khả ý hay bất khả ý, nhưng hiểu rằng chúng dẫn đến khổ, nên luyện tập để được giải thoát.]

Ở đây, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng mắt thấy sắc, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Vị ấy kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm vì cái khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái bất khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi ấy.

Khi dùng tai nghe tiếng, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý. Vị ấy kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm vì cái khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái bất khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi ấy.

Khi dùng mũi ngửi mùi, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý. Vị ấy kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm vì cái khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái bất khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi ấy.

Khi dùng lưỡi nếm vị, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý. Vị ấy kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm vì cái khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái bất khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi ấy.

Khi dùng thân chạm xúc, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý. Vị ấy kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm vì cái khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái bất khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi ấy.

Khi dùng ý biết pháp, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Vị ấy kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm vì cái khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái bất khả ý đã sinh khởi ấy, vì cái vừa khả ý vừa bất khả ý đã sinh khởi ấy.

Như vậy, này Ānanda, là bậc hữu học đang thực hành.

Và thế nào, này Ānanda, là bậc thánh đã tu tập các căn?

[Chú thích: Đây là bậc A-la-hán. Vị ấy vẫn cảm nhận sự kích thích của giác quan là khả ý hay bất khả ý, nhưng không phản ứng theo.]

Ở đây, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng mắt thấy sắc, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Nếu vị ấy muốn: 'Mong tôi an trú với tưởng không ghê tởm đối với cái đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với tưởng không ghê tởm đối với cái ấy.

[Chú thích: Ở đây khả năng này đã hoàn toàn thuần thục. Với người đang tu học, phép luyện ấy được dạy như một bài tập riêng (Tăng Chi Bộ Kinh 5.144).]

Nếu vị ấy muốn: 'Mong tôi an trú với tưởng ghê tởm đối với cái không đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với tưởng ghê tởm đối với cái ấy.

Nếu vị ấy muốn: 'Mong tôi an trú với tưởng không ghê tởm đối với cả cái đáng ghê tởm lẫn cái không đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với tưởng không ghê tởm đối với cả hai cái ấy.

Nếu vị ấy muốn: 'Mong tôi an trú với tưởng ghê tởm đối với cả cái không đáng ghê tởm lẫn cái đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với tưởng ghê tởm đối với cả hai cái ấy.

Nếu vị ấy muốn: 'Sau khi loại bỏ cả cái đáng ghê tởm lẫn cái không đáng ghê tởm, mong tôi an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác', thì vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác đối với cái ấy.

Hơn nữa, này Ānanda, khi một tỳ-kheo dùng tai nghe tiếng, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Khi dùng mũi ngửi mùi, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Khi dùng lưỡi nếm vị, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Khi dùng thân chạm xúc, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Khi dùng ý biết pháp, nơi vị ấy sinh khởi cái khả ý, sinh khởi cái bất khả ý, sinh khởi cái vừa khả ý vừa bất khả ý.

Nếu vị ấy muốn: 'Mong tôi an trú với tưởng không ghê tởm đối với cái đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với tưởng không ghê tởm đối với cái ấy.

Nếu vị ấy muốn: 'Mong tôi an trú với tưởng ghê tởm đối với cái không đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với tưởng ghê tởm đối với cái ấy.

Nếu vị ấy muốn: 'Mong tôi an trú với tưởng không ghê tởm đối với cả cái đáng ghê tởm lẫn cái không đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với tưởng không ghê tởm đối với cả hai cái ấy.

Nếu vị ấy muốn: 'Mong tôi an trú với tưởng ghê tởm đối với cả cái không đáng ghê tởm lẫn cái đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với tưởng ghê tởm đối với cả hai cái ấy.

Nếu vị ấy muốn: 'Sau khi loại bỏ cả cái đáng ghê tởm lẫn cái không đáng ghê tởm, mong tôi an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác', thì vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác đối với cái ấy.

Như vậy, này Ānanda, là bậc thánh đã tu tập các căn.

Như vậy, này Ānanda, Ta đã dạy sự tu tập các căn tối thượng trong giới luật của bậc thánh, đã dạy về bậc hữu học đang thực hành, đã dạy về bậc thánh đã tu tập các căn.

Này Ānanda, một bậc thầy mong điều tốt lành cho các đệ tử, vì lòng thương tưởng mà làm những gì một bậc thầy cần làm cho các đệ tử — Ta đã làm điều ấy cho các ông.

Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống vắng. Hãy thiền định, này Ānanda, chớ có phóng dật, chớ để sau này phải hối hận. Đây là lời dạy của Ta cho các ông."

[Chú thích: Trung Bộ Kinh kết thúc bằng lời Đức Thế Tôn khuyến khích Ānanda, người học trò tiêu biểu của các bài kinh, thực hành thiền định.]

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

Kinh Tu Tập Các Căn, bài thứ mười, đã hoàn thành.

Phẩm Saḷāyatana, phẩm thứ năm, đã hoàn thành.


Tóm tắt phẩm

Anāthapiṇḍika, Channa,

Puṇṇa, Nandaka, Rāhula;

Chachakka và Saḷāyatanika,

Nagaravindeyya cùng Suddhika;

và cả Indriyabhāvanā nữa,

ấy là phẩm Ovāda, phẩm thứ năm.

[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt tên các bài trong phẩm, mỗi tên chỉ gợi một chữ để người tụng nhớ thứ tự. Các tên ở đây đã được rút gọn nên không khớp hoàn toàn với tiêu đề từng bài: Chachakka và Saḷāyatanika là bài 148 và 149, Nagaravindeyya là bài 150, còn Suddhika là bài 151 về sự thanh tịnh trong việc khất thực.]


Tóm tắt các phẩm

Devadaha, Anupada,

Suññata và Vibhaṅga;

Saḷāyatana — các phẩm ấy

đứng trong Uparipaṇṇāsa.

[Chú thích của người dịch: Uparipaṇṇāsa là nhóm thứ ba, tức nhóm năm mươi bài phía sau của Trung Bộ Kinh; mỗi paṇṇāsa là một nhóm khoảng năm mươi bài. Bài kệ này liệt kê năm phẩm của nhóm ấy: Devadaha, Anupada, Suññata, Vibhaṅga và Saḷāyatana.]

Uparipaṇṇāsa đã trọn vẹn.

Được tô điểm bằng ba nhóm năm mươi, trọn bộ

Trung Bộ Kinh đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →