buppou

Trung Bộ Kinh · bài 14/152

Tiểu Kinh Khổ Uẩn

Cūḷadukkhakkhandha Sutta — bài kinh ngắn về khối khổ

25 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Tiểu Kinh Khổ Uẩn (Cūḷadukkhakkhandha Sutta) là bài kinh thứ mười bốn trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài kinh cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Bài kinh mở đầu bằng một câu hỏi rất riêng tư, và có lẽ vì thế mà nó vẫn còn sức nặng với người đọc hôm nay: một người tại gia đã hiểu giáo lý, đã tin, đã thực hành, mà vẫn thấy trong mình những thứ mình tưởng đã bỏ được.

Người hỏi là Mahānāma, một người dòng Sakka, anh em với hai vị đệ tử lớn của Đức Thế Tôn là Anuruddha và Ānanda. Ông thưa rằng từ lâu ông đã hiểu lời dạy: tham, sân, si là những cấu uế của tâm. Nhưng rồi ông thú nhận: có những lúc các pháp tham, sân, si ấy vẫn chiếm lấy tâm ông và ngự trị ở đó. Ông hỏi: pháp gì nơi con còn chưa được đoạn trừ? Đức Thế Tôn trả lời thẳng: chính pháp ấy; nếu nó đã được đoạn trừ, ông đã không còn sống đời tại gia và thọ hưởng các dục nữa.

Câu trả lời ấy không phải một lời quở trách. Nó là một chẩn đoán: người ta có thể hiểu một điều rất rõ mà vẫn chưa sống được theo điều ấy, vì lòng ham muốn các dục chưa bị nhổ tận gốc. Đức Thế Tôn bèn nói ra một nguyên tắc rộng hơn: dù một vị thánh đệ tử đã thấy rõ các dục đem lại ít thích thú mà nhiều khổ đau, vị ấy vẫn có thể trở lui lại với chúng, chừng nào chưa tự mình nếm được niềm vui và hạnh phúc lìa khỏi các dục. Rồi Ngài kể chuyện của chính mình trước khi giác ngộ: Ngài cũng đã thấy như vậy, nhưng chỉ khi chứng được niềm vui ấy, Ngài mới dám tuyên bố mình không còn trở lui lại với các dục.

Phần lớn còn lại của bài kinh là một bản kê những cái giá của lòng ham dục — và bản kê ấy dài, cụ thể, gần như không có chỗ nào lên gân. Trước hết là chuyện mưu sinh: người ta đương đầu với lạnh, nóng, muỗi mòng, rắn rết, có khi chết vì đói khát; làm hoài mà của cải không đến thì buồn bã, đập ngực than khóc; làm ra được của rồi thì lo giữ, sợ vua lấy, trộm lấy, lửa đốt, nước cuốn, người thừa kế không thương mến lấy đi; mất rồi thì lại đau. Rồi vì dục mà vua chống vua, cha con cãi nhau, bạn bè tranh chấp, người ta lao vào trận chiến, phá nhà cướp của, ngoại tình, bị hành hình, và cuối cùng là những hành vi ác dẫn đến đọa xứ. Cái tên "khối khổ" là vì thế: không phải một nỗi khổ nào đó, mà là cả một đống khổ chất lại.

Nửa sau bài kinh chuyển sang một cuộc đối thoại khác. Đức Thế Tôn kể lại lần Ngài gặp các tu sĩ Nigaṇṭha, những người tu khổ hạnh theo cách đứng mãi không ngồi, và hỏi họ vì sao. Họ đáp rằng vị thầy của họ dạy: ai đã làm điều ác trong quá khứ thì hãy dùng khổ hạnh mà bào mòn nó, đồng thời đừng làm điều ác mới; khi nghiệp cũ hết, khổ hết, cảm thọ hết, thì mọi khổ đau sẽ chấm dứt. Đức Thế Tôn hỏi lại năm câu, và cả năm lần họ đều thú nhận là mình không biết. Từ đó Ngài rút ra một hệ quả cay: nếu quả báo của nghiệp quyết định tất cả, thì những kẻ hung bạo, tay vấy máu, khi tái sinh làm người, hẳn phải sinh ra trong hàng tu sĩ ấy.

Cuộc đối thoại khép lại bằng một phép so sánh rất đời. Các tu sĩ cho rằng không phải nhờ hạnh phúc mà đạt được hạnh phúc, mà phải nhờ khổ đau. Đức Thế Tôn không tranh cãi trừu tượng: Ngài hỏi vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có thể ngồi yên, không động đậy thân, không nói năng, mà cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong bảy ngày đêm hay không. Họ đáp không thể. Ngài nói Ngài có thể, và hỏi lại: vậy ai sống hạnh phúc hơn? Họ buộc phải thừa nhận. Bài kinh không kết luận bằng một lời răn; nó để người đọc tự rút ra điều cần rút ra: cái đang được gọi là hạnh phúc trong đời thường có giá của nó, và có một thứ hạnh phúc khác không phải trả giá bằng khổ đau của mình và của người.

[Chú thích của người dịch: Cūḷa là "nhỏ", dukkhakkhandha là "khối khổ"; đây là bản ngắn, đứng cạnh Đại Kinh Khổ Uẩn (MN 13).]


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại xứ của người Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tì-la-vệ), trong tịnh xá Nigrodha (vườn cây đa).

Rồi Mahānāma người Sakka đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Mahānāma người Sakka bạch Đức Thế Tôn:

[Chú thích: Mahānāma là anh em với Anuruddha và Ānanda, và theo chú giải thì nhờ vậy ông là anh em họ của Đức Thế Tôn. Ông ở lại đời sống tại gia, là một người đệ tử trung thành và rộng lượng, thiết tha tu tập. Kinh điển sơ kỳ không ghi lại lần ông chứng quả nào, nhưng chú giải cho rằng ông đã chứng quả Nhất lai (Tư-đà-hàm), và điều ấy phù hợp với những đoạn như SN 55.22 và SN 55.21.]

"Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã hiểu lời Đức Thế Tôn dạy như vầy:

'Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm.'

Và bạch Thế Tôn, con hiểu lời Đức Thế Tôn dạy như vầy:

'Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm.'

Nhưng bạch Thế Tôn, có lúc các pháp tham chiếm lấy tâm con và bám trụ, các pháp sân chiếm lấy tâm con và bám trụ, các pháp si chiếm lấy tâm con và bám trụ.

Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng:

'Pháp nào nơi con chưa được đoạn trừ, mà khiến có lúc các pháp tham chiếm lấy tâm con và bám trụ, các pháp sân chiếm lấy tâm con và bám trụ, các pháp si chiếm lấy tâm con và bám trụ?'"

[Chú thích: Như ở phần mở đầu bài kinh trước, Mahānāma bộc lộ sự tò mò và lòng cởi mở muốn tìm hiểu.]

"Này Mahānāma, chính pháp ấy trong ông chưa được đoạn trừ, nên có lúc các pháp tham chiếm lấy tâm ông và bám trụ, các pháp sân chiếm lấy tâm ông và bám trụ, các pháp si chiếm lấy tâm ông và bám trụ.

Này Mahānāma, nếu pháp ấy trong ông đã được đoạn trừ, thì ông đã không còn sống tại gia, đã không còn thọ hưởng các dục.

Nhưng này Mahānāma, vì chính pháp ấy trong ông chưa được đoạn trừ, nên ông vẫn sống tại gia, vẫn thọ hưởng các dục."

'Các dục đem lại ít thích thú, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền; mối nguy hại ở đây còn nhiều hơn.'

Này Mahānāma, dù vị thánh đệ tử đã thấy rõ điều ấy đúng như thực bằng trí tuệ chân chánh, nhưng chừng nào vị ấy chưa đạt được niềm vui và hạnh phúc lìa khỏi các dục, lìa khỏi các pháp bất thiện, hay một trạng thái an tịnh hơn thế,

[Chú thích: "Niềm vui và hạnh phúc lìa khỏi các dục và các pháp bất thiện" là thiền-na thứ nhất và thứ hai. Câu này dùng thì hiện tại: vị ấy hiện không chứng thiền-na, chứ không phải chưa từng chứng. Vì bậc Nhất lai chưa đoạn trừ hẳn sự bám chấp vào các dục, nên nếu không chịu khó hành thiền, tâm họ có thể lại bị các dục chi phối.]

thì trong lúc ấy, vị ấy vẫn chưa phải là người không còn trở lui lại với các dục.

[Chú thích: Câu Pali dùng lối phủ định kép: "không phải là người không trở lui", nghĩa là vẫn còn có thể trở lui.]

Nhưng này Mahānāma, khi vị thánh đệ tử đã thấy rõ điều ấy đúng như thực bằng trí tuệ chân chánh — rằng các dục đem lại ít thích thú, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, và mối nguy hại ở đây còn nhiều hơn — và vị ấy đạt được niềm vui và hạnh phúc lìa khỏi các dục, lìa khỏi các pháp bất thiện, hay một trạng thái an tịnh hơn thế,

thì khi ấy vị ấy là người không còn trở lui lại với các dục.

"Này Mahānāma, cả Ta nữa, trước khi giác ngộ, khi còn là Bồ-tát chưa giác ngộ, Ta cũng đã thấy rõ điều ấy đúng như thực bằng trí tuệ chân chánh rằng:

'Các dục đem lại ít thích thú, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền; mối nguy hại ở đây còn nhiều hơn.'

nhưng chừng nào Ta chưa đạt được niềm vui và hạnh phúc lìa khỏi các dục, lìa khỏi các pháp bất thiện, hay một trạng thái an tịnh hơn thế,

thì bấy giờ Ta vẫn chưa tuyên bố rằng mình không còn trở lui lại với các dục.

Nhưng này Mahānāma, khi Ta đã thấy rõ điều ấy đúng như thực bằng trí tuệ chân chánh — rằng các dục đem lại ít thích thú, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, và mối nguy hại ở đây còn nhiều hơn — và Ta đạt được niềm vui và hạnh phúc lìa khỏi các dục, lìa khỏi các pháp bất thiện, hay một trạng thái an tịnh hơn thế,

thì bấy giờ Ta tuyên bố rằng mình không còn trở lui lại với các dục."

[Chú thích: Cách nói ở đoạn này lặp lại cách nói trong bài giảng đầu tiên của Đức Thế Tôn (SN 56.11).]

Và này Mahānāma, cái gì là sự thích thú của các dục?

Này Mahānāma, có năm loại dục.

Năm là những gì?

Các sắc do mắt nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham;

Các âm thanh do tai nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham;

Các mùi hương do mũi nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham;

Các vị do lưỡi nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham;

Các xúc chạm do thân nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham —

Này Mahānāma, đó là năm loại dục.

Này Mahānāma, cảm giác dễ chịu và niềm vui phát sinh nhờ năm loại dục này —

đó là sự thích thú của các dục.

Và này Mahānāma, cái gì là mối nguy hại của các dục?

Ở đây, này Mahānāma, một người con nhà tử tế mưu sống bằng một nghề nào đó —

Đó có thể là nghề đóng dấu, nghề đếm, nghề tính toán, nghề làm ruộng, nghề buôn bán, nghề chăn bò, nghề bắn cung, nghề phục vụ vua, hay một nghề nào khác;

người ấy phải chịu lạnh, chịu nóng, bị ruồi mòng, muỗi, gió, nắng và rắn rết quấy nhiễu, có khi phải chết vì đói và khát;

Này Mahānāma, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Này Mahānāma, nếu người con nhà tử tế ấy nỗ lực, cố gắng, ra sức như vậy mà của cải không thành tựu,

thì người ấy buồn bã, mệt mỏi, than khóc, đập ngực, kêu gào, rơi vào mê loạn: "Sự nỗ lực của tôi thật là uổng công, sự cố gắng của tôi thật là vô ích!"

Này Mahānāma, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Này Mahānāma, nếu người con nhà tử tế ấy nỗ lực, cố gắng, ra sức như vậy và của cải thành tựu,

thì người ấy chịu khổ đau và buồn phiền vì phải giữ gìn của cải ấy:

"Làm sao để của cải của tôi không bị vua lấy, không bị kẻ trộm lấy, không bị lửa đốt, không bị nước cuốn, không bị những người thừa kế không thương mến lấy đi?"

Dù người ấy giữ gìn và bảo vệ như vậy, của cải ấy vẫn bị vua lấy, bị kẻ trộm lấy, bị lửa đốt, bị nước cuốn, hoặc bị những người thừa kế không thương mến lấy đi.

Người ấy buồn bã, mệt mỏi, than khóc, đập ngực, kêu gào, rơi vào mê loạn:

"Những gì tôi từng có nay đã không còn!"

Này Mahānāma, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.


Hơn nữa, này Mahānāma, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, vua cãi nhau với vua, hàng vua chúa cãi nhau với hàng vua chúa, bà-la-môn cãi nhau với bà-la-môn, gia chủ cãi nhau với gia chủ; mẹ cãi nhau với con, con cãi nhau với mẹ; cha cãi nhau với con, con cãi nhau với cha; anh em cãi nhau với anh em; anh em cãi nhau với chị em; chị em cãi nhau với anh em; bạn bè cãi nhau với bạn bè.

Sa vào cãi vã, tranh chấp, kiện tụng như vậy, họ dùng tay, dùng đá, dùng gậy, dùng dao mà tấn công lẫn nhau.

Ở nơi ấy, họ có thể gặp cái chết, hoặc nỗi khổ đau đến mức như chết.

Này Mahānāma, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này Mahānāma, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, họ cầm khiên và gươm, giương cung và tên, lao vào trận chiến dàn quân hai phía, khi tên đang bay, giáo đang phóng, gươm đang lóe sáng.

Ở đó, họ bị bắn bằng tên, bị đâm bằng giáo, bị chém đầu bằng gươm.

Ở nơi ấy, họ có thể gặp cái chết, hoặc nỗi khổ đau đến mức như chết.

Này Mahānāma, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này Mahānāma, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, họ cầm khiên và gươm, giương cung và tên, lao vào những lũy thành trát ướt, khi tên đang bay, giáo đang phóng, gươm đang lóe sáng.

[Chú thích của người dịch: Addāvalepana là trát một lớp bùn ướt lên lũy thành để chống lửa.]

Ở đó, họ bị bắn bằng tên, bị đâm bằng giáo, bị hắt phân bò vào người, bị một lực lượng mạnh hơn giày xéo, bị chém đầu bằng gươm.

[Chú thích của người dịch: Chakaṇakā thường được hiểu là phân bò, nhưng tự thân từ này không nói rõ; các bản Hán tương ứng lại ghi là đồng nóng chảy hoặc sắt nóng chảy. Abhivagga chỉ gặp ở đây trong tiếng Pali, chú giải nói đó là một thứ vũ khí trăm răng, còn bản dịch này hiểu là một lực lượng áp đảo.]

Ở nơi ấy, họ có thể gặp cái chết, hoặc nỗi khổ đau đến mức như chết.

Này Mahānāma, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này Mahānāma, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, họ phá cửa vào nhà, cướp của, trộm những nhà riêng lẻ, phục kích trên đường, ngoại tình.

Các vua bắt họ và thi hành nhiều hình phạt khác nhau:

Họ đánh bằng roi, bằng dây, bằng gậy; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; thi hành hình phạt nồi cháo, cạo vỏ sò, miệng Rāhu, vòng hoa lửa, tay cháy, bện cói, áo vỏ cây, linh dương, móc thịt, đồng tiền, nước tro ăn da, cột xoay, chiếu rơm; tưới dầu sôi lên thân, cho chó ăn thịt, dựng sống trên cọc, chém đầu bằng gươm.

[Chú thích của người dịch: Chú giải giải thích các tên hình phạt như sau: nồi cháo là mở nắp sọ rồi thả viên sắt nung vào cho óc sôi trào; cạo vỏ sò là mài sọ bằng sỏi cho nhẵn; miệng Rāhu là cạy miệng, nhét dầu và bấc rồi đốt cho cháy như mặt trời bị Rāhu nuốt. Những tên còn lại cũng là những cách hành hạ thân xác tương tự.]

Ở nơi ấy, họ có thể gặp cái chết, hoặc nỗi khổ đau đến mức như chết.

Này Mahānāma, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này Mahānāma, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, họ làm điều ác bằng thân, làm điều ác bằng lời, làm điều ác bằng ý.

Sau khi làm điều ác bằng thân, bằng lời, bằng ý, khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.

Này Mahānāma, đó là mối nguy hại của các dục liên quan đến đời sau, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

[Chú thích của người dịch: Các mối nguy hại trước đây thuộc loại thấy ngay trong đời này (sandiṭṭhika), còn mối nguy hại này thuộc về đời sau (samparāyika).]

Này Mahānāma, có một lần Ta trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).

Lúc bấy giờ, nhiều tu sĩ Nigaṇṭha (Ni-kiền-tử) đang đứng mãi trên sườn núi Isigili, tại Kāḷasilā (Hòn Đá Đen), từ chối chỗ ngồi, và cảm thọ những cảm thọ khổ, gay gắt, dữ dội, chua xót do tự hành xác.

[Chú thích: Đây là một khoảng đất rộng, thỉnh thoảng Đức Thế Tôn đến thuyết pháp, và cũng là nơi các tỳ-kheo Godhika và Vakkali tự kết liễu đời mình. Lối đứng mãi không ngồi này trước kia chính Bồ-tát cũng đã từng thực hành (MN 12).]

Rồi này Mahānāma, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi tĩnh lặng, Ta đi đến chỗ các tu sĩ Nigaṇṭha ấy ở Kāḷasilā trên sườn núi Isigili; đến nơi, Ta nói với họ:

[Chú thích: Đức Thế Tôn kể lại một cuộc nói chuyện tương tự nhưng chi tiết hơn với các tu sĩ Nigaṇṭha ở MN 101.]

"Này các hiền giả Nigaṇṭha, vì sao các ông đứng mãi, từ chối chỗ ngồi, và cảm thọ những cảm thọ khổ, gay gắt, dữ dội, chua xót do tự hành xác?"

[Chú thích: Dù bản thân đã từng thực hành những khổ hạnh ấy rất nhiều, Đức Thế Tôn vẫn hỏi.]

Khi Ta nói vậy, này Mahānāma, các tu sĩ Nigaṇṭha ấy nói với Ta:

"Thưa hiền giả, Nigaṇṭha Nātaputta (Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử) tự nhận là bậc biết hết, thấy hết, có tri kiến không thiếu sót về mọi thứ:

[Chú thích: Vị lãnh đạo Kỳ-na giáo Mahāvīra Vardhamāna được kinh Pali gọi là Nigaṇṭha Nātaputta. Nigaṇṭha nghĩa là "không còn nút thắt", tức không còn ràng buộc, và là từ chỉ tu sĩ Kỳ-na giáo; Nātaputta chỉ dòng họ Ñātika của ông.]

'Tri kiến luôn hiện diện nơi ta, không hề gián đoạn, khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ và khi ta thức.'

[Chú thích: Đức Thế Tôn phủ nhận có thứ toàn tri như vậy; Ngài biết ba minh (MN 71). Tuy vậy, Ngài vẫn có thể được gọi là "biết hết" theo một nghĩa rộng, vì Ngài hiểu rõ "tất cả" là sáu giác quan (SN 35.28).]

Ông ấy nói như vầy:

'Này các Nigaṇṭha, hẳn các ông đã từng làm điều ác trong quá khứ; hãy làm cho điều ấy tiêu mòn bằng lối khổ hạnh gay gắt, khó làm này.

[Chú thích: Đức Thế Tôn nhấn mạnh việc hiểu nghiệp và từ bỏ nguyên nhân tạo nghiệp mới, hơn là bào mòn khối nghiệp quá khứ không thể biết hết. Việc Mahāvīra nhấn mạnh đến nghiệp ác trong quá khứ báo trước cách dùng chữ nghiệp ngày nay, khi người ta viện đến nó mỗi khi gặp điều xấu không tránh được.]

Và nay, các ông thu thúc bằng thân, thu thúc bằng lời, thu thúc bằng ý — đó là không làm điều ác trong tương lai.

Như vậy, nhờ khổ hạnh làm cho các nghiệp cũ tiêu diệt, nhờ không làm nghiệp mới, nên không còn gì trôi chảy về tương lai.

Do tương lai không còn gì trôi chảy, nên nghiệp được đoạn tận; do nghiệp đoạn tận, nên khổ được đoạn tận; do khổ đoạn tận, nên cảm thọ được đoạn tận; do cảm thọ đoạn tận, nên tất cả khổ đau sẽ được tiêu mòn.'

[Chú thích: Động từ quá khứ phân từ đi với thì tương lai (nijjiṇṇaṁ bhavissati) cho nghĩa hoàn thành trong tương lai: "sẽ được tiêu mòn".]

'Chúng tôi tán đồng và chấp nhận điều ấy, và chúng tôi hoan hỷ về điều ấy.'"

Khi họ nói vậy, này Mahānāma, Ta nói với các tu sĩ Nigaṇṭha ấy:

"Nhưng này các hiền giả Nigaṇṭha, các ông có biết—

rằng trước đây chúng ta đã từng có mặt, chứ không phải là không hề có mặt chăng?"

"Thưa hiền giả, chúng tôi không biết."

"Nhưng này các hiền giả Nigaṇṭha, các ông có biết—

rằng trước đây chúng ta đã làm điều ác, chứ không phải là không hề làm điều ác chăng?"

"Thưa hiền giả, chúng tôi không biết."

"Nhưng này các hiền giả Nigaṇṭha, các ông có biết—

rằng chúng ta đã làm điều ác kiểu này hay kiểu kia chăng?"

"Thưa hiền giả, chúng tôi không biết."

"Nhưng này các hiền giả Nigaṇṭha, các ông có biết—

rằng chừng ấy khổ đã được tiêu mòn, chừng ấy khổ còn phải tiêu mòn, và khi chừng ấy khổ đã được tiêu mòn thì tất cả khổ sẽ được tiêu mòn chăng?"

"Thưa hiền giả, chúng tôi không biết."

"Nhưng này các hiền giả Nigaṇṭha, các ông có biết—

rằng ngay trong đời này, các pháp bất thiện được đoạn trừ và các pháp thiện được thành tựu chăng?"

"Thưa hiền giả, chúng tôi không biết."

"Vậy ra, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, các ông không biết—"


"Rằng trước đây chúng ta đã từng có mặt, chứ không phải là không hề có mặt — các ông không biết—

rằng trước đây chúng ta đã làm điều ác, chứ không phải là không hề làm điều ác — các ông không biết—

rằng chúng ta đã làm điều ác kiểu này hay kiểu kia — các ông không biết—

rằng chừng ấy khổ đã được tiêu mòn, chừng ấy khổ còn phải tiêu mòn, và khi chừng ấy khổ đã được tiêu mòn thì tất cả khổ sẽ được tiêu mòn.

Các ông không biết—

rằng ngay trong đời này, các pháp bất thiện được đoạn trừ và các pháp thiện được thành tựu.

Nếu vậy, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, những kẻ hung bạo trên đời, tay vấy máu, làm nghề tàn ác, khi tái sinh làm người, lại đi xuất gia trong hàng Nigaṇṭha hay sao?"

[Chú thích: Lập luận này được triển khai chi tiết hơn ở MN 101. "Nghề nghiệp tàn ác" (kurūrakammantā) được định nghĩa ở MN 51 và những chỗ khác.]

"Thưa ngài Gotama, không phải nhờ hạnh phúc mà đạt được hạnh phúc; nhờ khổ đau mới đạt được hạnh phúc.

[Chú thích: Ở MN 85, Đức Thế Tôn kể rằng khi còn là Bồ-tát chưa giác ngộ, chính Ngài cũng đã giữ quan điểm này. Như vậy không chỉ lối khổ hạnh mà cả niềm tin của Ngài thời ấy cũng giống các tu sĩ Nigaṇṭha. Kinh Sūyagaḍa của Kỳ-na giáo cũng bác quan điểm "nhờ lạc mà được lạc" và gán nó cho những người chê bai con đường cao quý.]

Nếu nhờ hạnh phúc mà đạt được hạnh phúc, thì vua Seniya Bimbisāra (Tần-bà-sa-la) xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) ắt đã đạt được hạnh phúc, vì vua ấy sống hạnh phúc hơn ngài Gotama."

[Chú thích: Với một con đường nhấn mạnh khổ hạnh, khó có cơ sở để nói các tu sĩ Nigaṇṭha thực hành thiền-na, và chắc chắn không phải niềm vui sâu xa của thiền-na.]

"Rõ ràng các hiền giả Nigaṇṭha đã nói lời vội vàng, không suy xét:

'Không phải nhờ hạnh phúc mà đạt được hạnh phúc; nhờ khổ đau mới đạt được hạnh phúc.

Nếu nhờ hạnh phúc mà đạt được hạnh phúc, thì vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha ắt đã đạt được hạnh phúc, vì vua ấy sống hạnh phúc hơn ngài Gotama.'"

"Nhưng chính Ta mới là người cần được hỏi ở đây:

'Ai sống hạnh phúc hơn — vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha hay ngài Gotama?'"

[Chú thích: Ngài buộc họ vào đúng tiêu chuẩn mà chính Ngài đã chứng tỏ: đừng phỏng đoán, hãy hỏi.]

"Rõ ràng chúng tôi đã nói lời vội vàng, không suy xét, thưa ngài Gotama. Không phải nhờ hạnh phúc mà đạt được hạnh phúc; nhờ khổ đau mới đạt được hạnh phúc.

Nếu nhờ hạnh phúc mà đạt được hạnh phúc, thì vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha ắt đã đạt được hạnh phúc, vì vua ấy sống hạnh phúc hơn ngài Gotama.

Nhưng hãy gác chuyện ấy sang một bên. Nay chúng tôi hỏi ngài Gotama:

'Ai sống hạnh phúc hơn — vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha hay ngài Gotama?'"

"Vậy thì, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, Ta sẽ hỏi lại các ông về điểm ấy; các ông hãy trả lời tùy theo điều các ông thấy chấp nhận được.

Các ông nghĩ sao, thưa các hiền giả Nigaṇṭha: vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có thể

không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong bảy ngày đêm và an trú như vậy chăng?"

"Thưa hiền giả, không thể."

"Các ông nghĩ sao, thưa các hiền giả Nigaṇṭha: vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có thể

không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong sáu ngày đêm và an trú như vậy chăng?

Vua ấy có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong năm ngày đêm và an trú như vậy chăng?

Vua ấy có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong bốn ngày đêm và an trú như vậy chăng?

Vua ấy có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong ba ngày đêm và an trú như vậy chăng?

Vua ấy có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong hai ngày đêm và an trú như vậy chăng?

Vua ấy có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong một ngày đêm và an trú như vậy chăng?"

"Thưa hiền giả, không thể."

"Còn Ta, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong một ngày đêm và an trú như vậy.

Còn Ta, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong hai ngày đêm và an trú như vậy.

Còn Ta, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong ba ngày đêm và an trú như vậy.

Còn Ta, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong bốn ngày đêm và an trú như vậy.

Còn Ta, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong năm ngày đêm và an trú như vậy.

Còn Ta, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong sáu ngày đêm và an trú như vậy.

Còn Ta, thưa các hiền giả Nigaṇṭha, có thể không động đậy thân, không nói năng, cảm thọ hạnh phúc tuyệt đối trong bảy ngày đêm và an trú như vậy."

[Chú thích: Sau khi giác ngộ, Đức Thế Tôn ngồi bảy ngày trong một tư thế (Ud 1.1); các đệ tử như Mahākassapa (Ud 3.7) và nữ tu Uttamā (Thig 3.2) cũng được ghi nhận thành tựu ấy.]

"Các ông nghĩ sao, thưa các hiền giả Nigaṇṭha: nếu vậy thì ai sống hạnh phúc hơn — vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha hay Ta?"

"Nếu vậy thì chính ngài Gotama sống hạnh phúc hơn vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha."

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Mahānāma người Sakka hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

Kinh Tiểu Khổ Uẩn, bài thứ tư, đến đây hoàn tất.

[Chú thích của người dịch: "Bài thứ tư" là ghi chú của người tụng, đánh dấu bài này đứng thứ tư trong phẩm Sư Tử Hống của Trung Bộ Kinh.]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →