Trung Bộ Kinh · bài 30/152
Tiểu Kinh Lõi Cây
Cūḷasāropamasutta
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Tiểu Kinh Lõi Cây (Cūḷasāropamasutta) là bài kinh thứ ba mươi trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong tịnh xá rừng Jeta (Kỳ-đà). Một bà-la-môn tên là Piṅgalakoccha đến hỏi Đức Thế Tôn một câu rất đời thường: trong sáu vị thầy nổi tiếng đương thời, ai thật sự đã biết điều mình tuyên bố là biết, ai chỉ nói suông? Đức Thế Tôn gạt câu hỏi ấy sang một bên và hứa giảng cho ông một điều quan trọng hơn: đâu là phần cốt lõi của đời sống tu tập.
Để trả lời, Ngài kể một câu chuyện nhỏ về người đi tìm lõi cây. Một thân cây lớn có năm lớp, từ trong ra ngoài: lõi cây quý nhất, rồi gỗ giác, rồi vỏ trong, rồi vỏ ngoài, cuối cùng là cành và lá. Người cần lõi cây mà lại chặt cành lá đem về, tưởng đó là lõi cây, thì sẽ không làm được việc gì cần đến lõi cây. Kinh lần lượt kể năm hạng người như vậy: người chặt cành lá, người chặt vỏ ngoài, người chặt vỏ trong, người chặt gỗ giác, và cuối cùng là người chỉ chặt đúng lõi cây.
Năm hạng người ấy ứng với năm chặng của người tu. Hạng thứ nhất là người xuất gia, có được lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng rồi tự mãn, tự khen mình và chê người khác, không buồn tiến xa hơn: đó là cành lá. Hạng thứ hai có được sự thành tựu về giới, hạng thứ ba có được sự thành tựu về định, hạng thứ tư có được tri kiến, và cả ba hạng này cũng đều dừng lại, tự khen mình, chê người khác, rồi buông xuôi. Điều đáng chú ý là ngay cả giới, định và tri kiến — những thứ mà người đời thường lấy làm thước đo của sự tu hành — cũng vẫn chưa phải lõi cây.
Vậy lõi cây là gì? Bài kinh trả lời ở phần cuối: đó là tâm giải thoát bất động. Giới, định và tri kiến là phương tiện, là những chặng đường phải đi qua, nhưng không phải là cứu cánh. Đức Thế Tôn nói rõ: phạm hạnh này không được sống vì lợi dưỡng, cung kính, danh tiếng, cũng không vì thành tựu giới, thành tựu định hay tri kiến; phạm hạnh được sống vì tâm giải thoát bất động ấy, và chính nó là lõi cây, là cứu cánh.
Giữa bài kinh có một khối văn dài liệt kê chín tầng định: bốn tầng thiền-na và bốn tầng vô sắc, rồi tầng diệt tận thọ và tưởng. Mỗi tầng đều được đánh dấu bằng một câu lặp lại: đây là pháp cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến. Cách trình bày ấy cho thấy ngay cả những tầng định sâu nhất cũng chỉ là những nấc thang, và người tu không được dừng lại ở bất cứ nấc thang nào.
Với người đọc hôm nay, bài kinh là một lời nhắc rất cụ thể. Ai trong chúng ta cũng có những "cành lá" của riêng mình: một chút khen ngợi, một chút thành tích, một chút hiểu biết khiến ta bằng lòng và thôi cố gắng. Bài kinh không bảo ta phải vứt bỏ những thứ ấy, mà bảo ta đừng nhầm chúng với lõi cây. Cuối bài, bà-la-môn Piṅgalakoccha hiểu ra, xin quy y và trở thành người cư sĩ — một kết thúc giản dị cho một bài giảng về việc phân biệt đâu là vỏ, đâu là lõi.
[Chú thích của người dịch: Cūḷa nghĩa là nhỏ. Tên ấy dùng để phân biệt với Đại Kinh Lõi Cây (MN 29), bài trước đó, cũng dùng hình ảnh lõi cây nhưng khai triển theo hướng khác.]
Cūḷasāropamasutta — bài kinh ngắn về lõi cây, ví đời sống phạm hạnh như việc đi tìm phần cốt lõi của một thân cây
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Rồi bà-la-môn Piṅgalakoccha đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, ông chào hỏi Đức Thế Tôn.
[Chú thích: Vị bà-la-môn này không xuất hiện ở chỗ nào khác trong kinh tạng Pali. Tên ông có piṅgala nghĩa là hung đỏ, còn Koccha là tên dòng dõi, gợi đến hiền giả Kutsa Āṅgirasa được nhắc nhiều trong Rig Veda.]
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và chuyện trò thân tình, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, bà-la-môn Piṅgalakoccha bạch Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, những sa-môn và bà-la-môn ấy — những vị có hội chúng, có đám đông đệ tử, là thầy dạy của đám đông, được nhiều người biết đến, có danh vọng, là những người sáng lập giáo phái, được đông đảo quần chúng xem là bậc thiện —
đó là Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhiputta và Nigaṇṭha Nātaputta:
theo lời tự nhận của mình, tất cả các vị ấy có thật đã tự mình chứng biết không, hay không vị nào chứng biết, hay một số chứng biết còn một số thì không?"
[Chú thích: Trong sáu vị ấy, có vị như Nigaṇṭha Nātaputta và Pūraṇa Kassapa tự nhận đã có thắng tri, có vị như Ajita Kesakambala lại phủ nhận khả năng ấy.]
"Thôi, này bà-la-môn, hãy để đó:
'Theo lời tự nhận của mình, tất cả các vị ấy có thật đã tự mình chứng biết không, hay không vị nào chứng biết, hay một số chứng biết còn một số thì không?'
[Chú thích: Đức Thế Tôn cũng đáp y như vậy khi du sĩ Subhadda hỏi câu ấy trong kinh Đại Bát Niết-bàn.]
Này bà-la-môn, Ta sẽ giảng Pháp cho ông.
Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, thưa ngài", bà-la-môn Piṅgalakoccha đáp lại Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này bà-la-môn, ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; người ấy gặp một cây lớn đang đứng, có lõi cây, nhưng bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, rồi chặt cành và lá đem đi, tưởng đó là lõi cây.
[Chú thích của người dịch: Năm lớp của cây, từ trong ra ngoài, là lõi cây, gỗ giác, vỏ trong, vỏ ngoài và cành lá; càng ra ngoài càng ít giá trị. Hình ảnh này được dùng suốt bài kinh để xếp hạng các mức thành tựu của người tu.]
Một người có mắt sáng thấy vậy, bèn nói:
'Ông này thật không biết lõi cây, không biết gỗ giác, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.
Vì thế, ông này — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã bỏ qua lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành và lá đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ta sẽ không đạt được kết quả ấy.'
Này bà-la-môn, lại ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; người ấy gặp một cây lớn đang đứng, có lõi cây, nhưng bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, rồi chặt vỏ ngoài đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Một người có mắt sáng thấy vậy, bèn nói:
'Ông này thật không biết lõi cây, không biết gỗ giác, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.
Vì thế, ông này — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã bỏ qua lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ta sẽ không đạt được kết quả ấy.'
Này bà-la-môn, lại ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; người ấy gặp một cây lớn đang đứng, có lõi cây, nhưng bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, rồi chặt vỏ trong đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Một người có mắt sáng thấy vậy, bèn nói:
'Ông này thật không biết lõi cây, không biết gỗ giác, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.
Vì thế, ông này — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã bỏ qua lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, bỏ qua gỗ giác, chặt vỏ trong đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ta sẽ không đạt được kết quả ấy.'
Này bà-la-môn, lại ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; người ấy gặp một cây lớn đang đứng, có lõi cây, nhưng bỏ qua lõi cây, rồi chặt gỗ giác đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Một người có mắt sáng thấy vậy, bèn nói:
'Ông này thật không biết lõi cây, không biết gỗ giác, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.
Vì thế, ông này — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã bỏ qua lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, rồi chặt gỗ giác đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ta sẽ không đạt được kết quả ấy.'
Này bà-la-môn, lại ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; người ấy gặp một cây lớn đang đứng, có lõi cây, và chỉ chặt đúng lõi cây đem đi, biết rõ đó là lõi cây.
Một người có mắt sáng thấy vậy, bèn nói:
'Ông này thật biết lõi cây, biết gỗ giác, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá.
Vì thế, ông này — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã chặt đúng lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, đem đi, biết rõ đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ta sẽ đạt được kết quả ấy.'
Cũng vậy, này bà-la-môn, ở đây có một hạng người vì lòng tin mà rời nhà ra sống đời không nhà, nghĩ rằng:
'Ta bị chìm đắm trong sinh, già, chết, trong sầu, bi, khổ, ưu, não; ta bị chìm đắm trong khổ, bị khổ vây hãm,
mong sao sự chấm dứt hoàn toàn khối khổ này được hiển lộ.'
Sau khi đã xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra được lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng.
Vị ấy hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, và thấy như đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Rồi vị ấy nhờ lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác:
'Ta đây có lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng; còn những tỳ-kheo khác kia thì không ai biết đến, không có uy lực.'
Và đối với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, vị ấy không khởi lên ước muốn, không nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy sống buông xuôi và lười nhác.
[Chú thích: Câu này là chỗ khác với đoạn tương ứng ở bài kinh trước, nơi vị ấy sinh tâm kiêu mạn và buông lung vì lợi dưỡng.]
Này bà-la-môn, ví như người ấy — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã bỏ qua lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành và lá đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, vị ấy sẽ không đạt được kết quả ấy.
Này bà-la-môn, Ta nói hạng người này giống như vậy.
Này bà-la-môn, ở đây lại có một hạng người vì lòng tin mà rời nhà ra sống đời không nhà, nghĩ rằng:
'Ta bị chìm đắm trong sinh, già, chết, trong sầu, bi, khổ, ưu, não; ta bị chìm đắm trong khổ, bị khổ vây hãm,
mong sao sự chấm dứt hoàn toàn khối khổ này được hiển lộ.'
Sau khi đã xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra được lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng.
Vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, cũng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được giới.
Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu giới ấy, và thấy như đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Rồi vị ấy nhờ sự thành tựu giới ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác:
'Ta đây có giới, có thiện pháp; còn những tỳ-kheo khác kia thì phá giới, có ác pháp.'
Và đối với sự thành tựu giới ấy, vị ấy không khởi lên ước muốn, không nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy sống buông xuôi và lười nhác.
Này bà-la-môn, ví như người ấy — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã bỏ qua lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, vị ấy sẽ không đạt được kết quả ấy.
Này bà-la-môn, Ta nói hạng người này giống như vậy.
Này bà-la-môn, ở đây lại có một hạng người vì lòng tin mà rời nhà ra sống đời không nhà, nghĩ rằng:
'Ta bị chìm đắm trong sinh, già, chết, trong sầu, bi, khổ, ưu, não; ta bị chìm đắm trong khổ, bị khổ vây hãm,
mong sao sự chấm dứt hoàn toàn khối khổ này được hiển lộ.'
Sau khi đã xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra được lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng.
Vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, cũng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được giới.
Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu giới ấy, nhưng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ sự thành tựu giới ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với sự thành tựu giới ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được định.
Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu định ấy, và thấy như đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Rồi vị ấy nhờ sự thành tựu định ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác:
'Ta đây có định, tâm chuyên nhất; còn những tỳ-kheo khác kia thì không có định, tâm tán loạn.'
Và đối với sự thành tựu định ấy, vị ấy không khởi lên ước muốn, không nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy sống buông xuôi và lười nhác.
Này bà-la-môn, ví như người ấy — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã bỏ qua lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, bỏ qua gỗ giác, rồi chặt vỏ trong đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, vị ấy sẽ không đạt được kết quả ấy.
Này bà-la-môn, Ta nói hạng người này giống như vậy.
Này bà-la-môn, ở đây lại có một hạng người vì lòng tin mà rời nhà ra sống đời không nhà, nghĩ rằng:
'Ta bị chìm đắm trong sinh, già, chết, trong sầu, bi, khổ, ưu, não; ta bị chìm đắm trong khổ, bị khổ vây hãm,
mong sao sự chấm dứt hoàn toàn khối khổ này được hiển lộ.'
Sau khi đã xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra được lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng.
Vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, cũng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được giới.
Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu giới ấy, nhưng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ sự thành tựu giới ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với sự thành tựu giới ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được định.
Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu định ấy, nhưng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ sự thành tựu định ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với sự thành tựu định ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được tri kiến.
Vị ấy hoan hỷ với tri kiến ấy, và thấy như đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Rồi vị ấy nhờ tri kiến ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác:
'Ta đây sống biết và thấy; còn những tỳ-kheo khác kia thì sống không biết, không thấy.'
Và đối với tri kiến ấy, vị ấy không khởi lên ước muốn, không nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy sống buông xuôi và lười nhác.
Này bà-la-môn, ví như người ấy — người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây — đã bỏ qua lõi cây của một cây lớn đang đứng, có lõi cây, rồi chặt gỗ giác đem đi, tưởng đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, vị ấy sẽ không đạt được kết quả ấy.
Này bà-la-môn, Ta nói hạng người này giống như vậy.
Này bà-la-môn, ở đây lại có một hạng người vì lòng tin mà rời nhà ra sống đời không nhà, nghĩ rằng:
'Ta bị chìm đắm trong sinh, già, chết, trong sầu, bi, khổ, ưu, não; ta bị chìm đắm trong khổ, bị khổ vây hãm,
mong sao sự chấm dứt hoàn toàn khối khổ này được hiển lộ.'
Sau khi đã xuất gia như vậy, vị ấy tạo ra được lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng.
Vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, cũng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được giới.
Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu giới ấy, nhưng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ sự thành tựu giới ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với sự thành tựu giới ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được định.
Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu định ấy, nhưng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ sự thành tựu định ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với sự thành tựu định ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Vị ấy thành tựu được tri kiến.
Vị ấy hoan hỷ với tri kiến ấy, nhưng không thấy đã trọn vẹn điều mình mong muốn.
Vị ấy không nhờ tri kiến ấy mà tự đề cao mình, chê bai người khác.
Và đối với tri kiến ấy, vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực để chứng đạt những pháp khác cao hơn và tốt đẹp hơn; vị ấy không sống buông xuôi, không lười nhác.
Này bà-la-môn, những pháp nào cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến?
Ở đây, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo ly khỏi các dục, ly khỏi các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ nhất, có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi.
[Chú thích: Bài kinh trước đi thẳng từ tri kiến đến giải thoát cuối cùng, còn bài này chèn thêm một khối văn dài về chín tầng định. Nhiều dấu hiệu cho thấy khối văn ấy được thêm vào sau: các tầng thiền-na đã nằm trong phần thành tựu định ở trên, và ở đó định dẫn tới tri kiến theo trình tự thông thường chứ không thấp hơn tri kiến như ở đây. Bài này mang tên Tiểu so với bài Đại trước đó nhưng lại dài hơn vì khối văn thêm ấy, và bản Hán tương ứng duy nhất cũng không có đoạn này.]
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Lại nữa, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo do tầm và tứ được lắng xuống, nội tâm được trong sáng, tâm đạt đến chuyên nhất, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ hai, không tầm, không tứ, với hỷ và lạc do định sinh khởi.
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Lại nữa, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo do ly hỷ, sống với xả, có chánh niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận được lạc thọ, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh gọi là 'sống với xả, có chánh niệm, an trú trong lạc'.
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Lại nữa, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo do từ bỏ lạc, do từ bỏ khổ, do hỷ và ưu trước đây đã lắng xuống, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Lại nữa, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo hoàn toàn vượt qua các tưởng về sắc, do các tưởng về sự chống đối đã lắng xuống, do không tác ý đến các tưởng về sự sai biệt, biết rằng 'hư không là vô biên', chứng đạt và an trú vào Không vô biên xứ.
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Lại nữa, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo hoàn toàn vượt qua Không vô biên xứ, biết rằng 'thức là vô biên', chứng đạt và an trú vào Thức vô biên xứ.
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Lại nữa, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo hoàn toàn vượt qua Thức vô biên xứ, biết rằng 'không có gì cả', chứng đạt và an trú vào Vô sở hữu xứ.
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Lại nữa, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo hoàn toàn vượt qua Vô sở hữu xứ, chứng đạt và an trú vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Lại nữa, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo hoàn toàn vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú vào sự diệt tận thọ và tưởng; và với tuệ, sau khi đã thấy, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận.
Này bà-la-môn, pháp này cũng cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Này bà-la-môn, những pháp này cao hơn và tốt đẹp hơn tri kiến.
Này bà-la-môn, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; người ấy gặp một cây lớn đang đứng, có lõi cây, và chỉ chặt đúng lõi cây đem đi, biết rõ đó là lõi cây.
Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, người ấy sẽ đạt được kết quả ấy.
Này bà-la-môn, Ta nói hạng người này giống như vậy.
Này bà-la-môn, như vậy, phạm hạnh này không được sống vì lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng, không vì sự thành tựu giới, không vì sự thành tựu định, không vì tri kiến.
Mà này bà-la-môn, chính tâm giải thoát bất động này —
phạm hạnh này là vì mục đích ấy, ấy là lõi cây, ấy là cứu cánh."
Khi Ngài nói như vậy, bà-la-môn Piṅgalakoccha bạch Đức Thế Tôn:
"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời! Ví như người ta dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, ngài Gotama đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn tỳ-kheo.
Mong ngài Gotama nhớ đến con như một người cư sĩ đã quy y, từ hôm nay cho đến trọn đời."
Bài kinh Cūḷasāropama, bài thứ mười, đã hoàn thành.
[Chú thích của người dịch: Bài thứ mười là vị trí của bài kinh này trong phẩm Opammavagga, không phải số 30 của Trung Bộ Kinh.]
Phẩm Opamma (Phẩm Ví Dụ), phẩm thứ ba, đã hoàn thành.
Kệ tóm tắt phẩm
Moḷiyaphagguna cùng Ariṭṭha, ấy là tên,
Andhavana, Kathipuṇṇa, rồi Nivāpa;
Rāsi, Kaṇeru, Mahāgaja, ấy là tên,
Sārūpama, và lại Piṅgalakoccha.
[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt phẩm Opammavagga, phẩm thứ ba của Trung Bộ Kinh, gồm mười bài kinh từ MN 21 đến MN 30; mỗi cụm từ là một từ khóa để nhớ một bài. Các tên trong kệ được giữ nguyên dạng Pali.]
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.