Trung Bộ Kinh · bài 31/152
Tiểu Kinh Rừng Gosiṅga
Cūḷagosiṅga Sutta — bài kinh ngắn về khu rừng cây sa-la tại Gosiṅga
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Tiểu Kinh Rừng Gosiṅga (Cūḷagosiṅga Sutta) là bài kinh thứ 31 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh thứ hai của Kinh tạng Pali gồm 152 bài cỡ vừa. Bài kinh kể chuyện ba người bạn cùng tu: đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila, đang sống với nhau trong một khu rừng cây sa-la tại Gosiṅga, gần thị trấn Ñātika. Đức Thế Tôn đến thăm các vị vào một buổi chiều, và gần như toàn bộ bài kinh là cuộc trò chuyện giữa Ngài với ba người bạn ấy. Không có phép lạ, không có tranh luận gay gắt, chỉ có một câu hỏi rất giản dị: các ông sống với nhau thế nào?
Mở đầu bài kinh là một cảnh nhỏ nhưng đáng nhớ. Người giữ công viên thấy một sa-môn đi tới, không biết đó là ai, bèn ngăn lại và bảo đừng vào, vì trong ấy đang có ba người con trai nhà lành tu tập. Chính đại đức Anuruddha nghe được, ra nói với ông ta rằng bậc Đạo sư của họ đã đến. Chi tiết ấy cho thấy Đức Thế Tôn hoàn toàn bình dị trong mắt người đời, và cũng cho thấy ba vị ấy được người giữ công viên quý trọng đến mức nào.
Câu hỏi đầu tiên của Đức Thế Tôn là các ông có sống hòa hợp, vui vẻ, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương hay không. Tôn giả Anuruddha trả lời bằng một cách rất cụ thể: với các vị bạn đồng tu, con luôn giữ thân, lời và ý đầy lòng từ ái, cả khi có người thấy lẫn khi chỉ có một mình; con gác lại ý riêng của mình mà sống theo sự dẫn dắt của các vị ấy; thân tuy khác nhau nhưng tâm thì là một. Đây là một trong những định nghĩa đẹp nhất về tình bạn trong tu tập có trong kinh điển.
Phần tiếp theo cho thấy sự hòa hợp ấy không phải là chuyện cảm xúc mà là chuyện được tập thành nếp. Vị nào đi khất thực về trước thì trải chỗ ngồi, chuẩn bị nước uống và nước dùng; vị về sau ăn phần cơm còn lại nếu muốn, không thì đổ ở chỗ thích hợp; ai thấy ghè nước đã cạn thì châm đầy; việc gì quá sức một người thì ra hiệu gọi thêm một vị, cùng chung tay làm, mà không vì thế mà lên tiếng phá sự im lặng. Năm ngày một lần, các vị ngồi lại suốt đêm để nói chuyện Pháp. Những chi tiết rất đời ấy chính là chỗ đứng của cả bài kinh.
Khi được hỏi về thành quả tu tập, đại đức Anuruddha lần lượt kể ra bốn tầng thiền-na, bốn tầng định vô sắc và cuối cùng là sự diệt tận của tưởng và thọ, cùng với việc các lậu hoặc đã được đoạn tận nhờ tuệ. Các vị nói rằng mỗi khi muốn thì các vị đều có thể an trú trong những trạng thái ấy, và ngoài ra không thấy có cách an trú nào cao hơn. Đức Thế Tôn xác nhận từng bước, rồi kết luận rằng quả thật không có gì cao hơn.
Bài kinh khép lại bằng một cảnh khác ở tầng trời. Một vị dạ-xoa tên Dīgha Parajana nghe chuyện bèn tán thán dân Vajjī là có phước, vì ở đó có Đức Thế Tôn và ba vị ấy đang an trú; tiếng tán thán ấy được chư thiên các cõi truyền lên đến cõi Phạm Thiên. Đức Thế Tôn nhân đó nói rằng ai tưởng nhớ ba vị ấy với tâm tịnh tín thì sẽ được lợi ích và an lạc lâu dài, từ gia đình, dòng họ, làng, thị trấn, thành phố, miền đất cho đến cả thế giới. Với người đọc hôm nay, bài kinh là một chỉ dẫn khiêm tốn mà bền: muốn sống chung với nhau, trước hết hãy bớt cái tôi, và hãy lo những việc nhỏ cho nhau mỗi ngày.
[Chú thích của người dịch: Cūḷa nghĩa là nhỏ. Tên gọi này dùng để phân biệt bài kinh với Đại Kinh Rừng Gosiṅga (MN 32), bài tiếp theo, cũng lấy bối cảnh khu rừng cây sa-la tại Gosiṅga nhưng có đông tỳ-kheo hơn.]
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh này được giới xuất gia ưa thích vì vẽ nên một đời sống lý tưởng: giản dị và có tình bạn. Phần mở đầu xuất hiện lại trong Luật tạng (Kd 10:4.2.1) và ở MN 128:8.1; trong cả hai trường hợp, bối cảnh đều là sau khi Đức Thế Tôn rời nhóm tỳ-kheo đang tranh cãi ở Kosambī. Bài kinh này và MN 128 dường như chịu ảnh hưởng của Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.3, một đoạn đối thoại nổi tiếng về bản tính con người.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang an trú tại Ñātika, trong ngôi nhà bằng gạch.
[Chú thích: Ñātika là thị trấn chính của một bộ tộc cùng tên, bộ tộc của Mahāvīra, vị lãnh đạo Kỳ-na giáo, và thuộc liên bang Vajjī. Thời ấy hầu hết nhà cửa đều làm bằng gỗ, nên ngôi nhà bằng gạch là công trình hiếm hoi, có lẽ là công trình bằng gạch duy nhất được kinh điển nhắc đến.]
Lúc bấy giờ, đại đức Anuruddha (A-na-luật-đà), đại đức Nandiya và đại đức Kimbila đang an trú trong khu rừng cây sa-la tại Gosiṅga.
[Chú thích: Anuruddha là anh em với Ānanda và Mahānāma, theo chú giải thì Ngài là em họ của Đức Thế Tôn; Ngài nổi tiếng về thiền quán niệm và về thần thông. Kimbila là một trong bảy vị dòng Sakya cùng xuất gia với nhau. Có nhiều vị tên Nandiya trong kinh điển, và vị ở đây nhiều khả năng cũng thuộc dòng Sakya.]
Rồi vào buổi chiều, Đức Thế Tôn ra khỏi nơi độc cư và đi đến khu rừng cây sa-la tại Gosiṅga.
Người giữ công viên thấy Đức Thế Tôn từ xa đi tới.
[Chú thích: Đây là một trong nhiều chỗ cho thấy Đức Thế Tôn trông giống một du sĩ bình thường, nên người giữ công viên đã không nhận ra Ngài.]
Thấy vậy, ông ta nói với Đức Thế Tôn:
"Này sa-môn, đừng vào khu rừng này.
Ở đây có ba người con trai nhà lành đang sống, bản tính của họ là tìm cầu tự ngã, tức chính mình.
[Chú thích: Attakāmarūpa được chú giải là "người có bản tính mong cầu sự lợi ích của chính mình", nhưng ở đây hậu tố -rūpa mang nghĩa "bản tính thật" chứ không mang nghĩa "dường như". Lời này do người giữ công viên nói, một người không nhận ra Đức Thế Tôn và dùng lời lẽ nghiêng về truyền thống bà-la-môn.]
Chớ làm cho họ khó chịu."
Tôn giả Anuruddha nghe được người giữ công viên đang nói chuyện với Đức Thế Tôn.
Nghe vậy, Ngài nói với người giữ công viên:
"Này ông bạn giữ công viên, chớ ngăn Đức Thế Tôn lại.
Đức Thế Tôn, bậc Đạo sư của chúng tôi, đã đến rồi."
Rồi đại đức Anuruddha đi đến chỗ đại đức Nandiya và đại đức Kimbila; đến nơi, Ngài nói với đại đức Nandiya và đại đức Kimbila:
"Các đại đức hãy lại đây, các đại đức hãy lại đây! Đức Thế Tôn, bậc Đạo sư của chúng tôi, đã đến rồi."
Rồi đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila ra đón Đức Thế Tôn:
một vị nhận bát và y của Ngài, một vị trải chỗ ngồi, một vị chuẩn bị nước rửa chân.
Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ ngồi đã được trải sẵn.
Ngồi xong, Ngài rửa chân.
Các đại đức ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Đức Thế Tôn nói với đại đức Anuruddha đang ngồi một bên:
"Này Anuruddha, các ông có khỏe không, có sống được yên ổn không, có gặp khó khăn gì về đồ ăn khất thực không?"
[Chú thích: Ở đây Pali gọi cả nhóm là "các Anuruddha", tức gọi chung theo tên của vị lớn tuổi nhất trong nhóm.]
"Bạch Thế Tôn, chúng con khỏe, chúng con sống được yên ổn; và bạch Thế Tôn, chúng con không gặp khó khăn gì về đồ ăn khất thực."
"Này Anuruddha, các ông có đang sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương không?"
[Chú thích: Sự nhấn mạnh vào đời sống hòa hợp gắn với bối cảnh Đức Thế Tôn vừa rời Tăng đoàn đang tranh cãi ở Kosambī. Có lẽ phần mở đầu này vốn thuộc về MN 128, nơi ba vị đang cùng tu tập ở khu rừng tre phía đông gần Kosambī, còn ở bài này các vị đã chứng quả A-la-hán. Người giữ công viên ở đây không nhận ra Đức Thế Tôn, cho thấy đây là một công viên chứ không phải tu viện của Tăng đoàn.]
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy, chúng con sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương."
"Này Anuruddha, các ông sống hòa hợp như vậy bằng cách nào?"
"Bạch Thế Tôn, ở đây con nghĩ rằng:
'Thật là lợi ích cho con, thật là lợi ích lành cho con,
khi con được sống cùng với những vị đồng phạm hạnh như thế này.'
Bạch Thế Tôn, đối với các đại đức này, con luôn hiện bày thân nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo;
[Chú thích: Ba điều này là ba trong sáu pháp làm cho tâm ấm áp, tức sáu cách sống hòa hợp với các vị đồng phạm hạnh, được nêu ở MN 48:6.2 và AN 6.11:1.1.]
khẩu nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo;
ý nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo.
Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng:
'Vậy thì con hãy gác lại tâm của mình mà sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.'
Bạch Thế Tôn, con gác lại tâm của mình và sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.
Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng tâm thì con nghĩ là một."
Tôn giả Nandiya cũng nói với Đức Thế Tôn như vầy: "Bạch Thế Tôn, ở đây con nghĩ rằng: 'Thật là lợi ích cho con, thật là lợi ích lành cho con, khi con được sống cùng với những vị đồng phạm hạnh như thế này.' Bạch Thế Tôn, đối với các đại đức này, con luôn hiện bày thân nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo; khẩu nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo; ý nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo. Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng: 'Vậy thì con hãy gác lại tâm của mình mà sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.' Bạch Thế Tôn, con gác lại tâm của mình và sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này. Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng tâm thì con nghĩ là một."
Tôn giả Kimbila cũng nói với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, con cũng nghĩ rằng:
'Thật là lợi ích cho con, thật là lợi ích lành cho con,
khi con được sống cùng với những vị đồng phạm hạnh như thế này.'
Bạch Thế Tôn, đối với các đại đức này, con luôn hiện bày thân nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo,
khẩu nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo,
ý nghiệp từ ái, cả khi công khai lẫn khi kín đáo.
Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng:
'Vậy thì con hãy gác lại tâm của mình mà sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.'
Bạch Thế Tôn, con gác lại tâm của mình và sống theo sự dẫn dắt của tâm các đại đức này.
Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng tâm thì con nghĩ là một."
"Bạch Thế Tôn, chúng con sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương, chính là như vậy."
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!"
"Này Anuruddha, các ông có đang sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng không?"
[Chú thích: Thường thì các bản dịch hiểu "an trú" ở đây là "hành thiền", nhưng câu trả lời của Anuruddha lại cố ý tránh nói về thiền, có lẽ vì Ngài muốn kín đáo về thành tựu của mình. Sự dè dặt ấy cũng giống sự dè dặt của Yājñavalkya khi vua Janaka hỏi về ánh sáng của con người.]
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng."
"Này Anuruddha, các ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, ở đây, vị nào trong chúng con từ làng đi khất thực về trước thì trải chỗ ngồi, chuẩn bị nước uống và nước dùng, đặt sẵn chậu đựng rác.
Vị nào về sau, nếu còn đồ ăn thừa và nếu muốn thì ăn; nếu không muốn thì đổ ở chỗ ít cỏ mọc, hoặc dìm xuống nước không có chúng sinh.
Vị ấy dọn chỗ ngồi, dọn nước uống và nước dùng, dọn chậu đựng rác, và quét nhà ăn.
Vị nào thấy ghè nước uống, ghè nước dùng hay ghè nước vệ sinh đã cạn trống thì chuẩn bị lại cho đầy.
Nếu việc ấy quá sức mình, chúng con ra hiệu bằng tay để gọi thêm một vị, rồi cùng chung tay nâng lên mà làm cho xong. Nhưng bạch Thế Tôn, chúng con không vì thế mà mở lời nói.
[Chú thích: Hatthavilaṅghaka là cách nâng vật bằng cách chìa tay cho người kia nắm lấy, như ở MN 125:9.2. Các bản Hán tương ứng còn thêm rằng sau đó các vị trở về chỗ ngồi thiền.]
Bạch Thế Tôn, cứ năm ngày một lần, chúng con ngồi lại suốt cả đêm để nói chuyện Pháp.
[Chú thích: Tức ba lần trong mỗi nửa tháng bố-tát. Các bản Hán còn thêm rằng các vị cũng có thể ngồi im lặng trong bậc thánh tịnh chỉ, như ở MN 26:4.13.]
Bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng chính là như vậy."
[Chú thích: Đoạn tương ứng trong Luật tạng kết thúc ở đây, vì câu chuyện ở đó chỉ nhằm dàn xếp vụ tranh cãi giữa các tỳ-kheo ở Kosambī.]
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!"
"Này Anuruddha, khi các ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng như vậy, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, không?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, chúng con ly khỏi các dục, ly khỏi các pháp bất thiện, chứng và an trú thiền-na thứ nhất (tầng thiền định thứ nhất), có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi.
[Chú thích: Thiền-na thứ nhất được định nghĩa là mức thấp nhất của sự thù thắng vượt trên pháp của người thường, nên Anuruddha trả lời thẳng câu hỏi mà vẫn giữ được sự khiêm tốn, chỉ tiết lộ vừa đủ.]
Bạch Thế Tôn, đây là an trú an lạc, tức sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc khi sống không phóng dật, nhiệt tâm, dốc lòng."
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!"
"Này Anuruddha, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy không?"
[Chú thích: "Để vượt qua" ở đây dùng theo nghĩa như ở MN 10:47.1, tức là vượt khỏi và vượt lên trên tầng định vừa đạt được.]
"Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, khi tầm và tứ lắng xuống, chúng con chứng và an trú thiền-na thứ hai, một trạng thái nội tâm lắng trong, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh khởi.
Bạch Thế Tôn, đây là một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy."
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!"
"Này Anuruddha, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy không?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, khi hỷ đã lìa, chúng con an trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận được lạc; chúng con chứng và an trú thiền-na thứ ba, cảnh giới mà các bậc thánh tuyên bố: 'Người an trú xả, có chánh niệm thì sống an lạc.'
Bạch Thế Tôn, đây là một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy."
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!"
"Này Anuruddha, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy không?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, khi lạc đã được từ bỏ và khổ đã được từ bỏ, và khi hỷ và ưu từ trước đã chấm dứt, chúng con chứng và an trú thiền-na thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.
Bạch Thế Tôn, đây là một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy."
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!"
"Này Anuruddha, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy không?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, chúng con vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc, khi các tưởng về chướng ngại đã chấm dứt và không còn tác ý đến các tưởng sai biệt, chúng con chứng và an trú Không vô biên xứ, biết rằng 'không gian là vô biên'.
Bạch Thế Tôn, đây là một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy."
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!"
"Này Anuruddha, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy không?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, chúng con vượt qua hoàn toàn Không vô biên xứ, chứng và an trú Thức vô biên xứ, biết rằng 'thức là vô biên'. Bạch Thế Tôn, đây là một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy." Đức Thế Tôn nói: "Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Này Anuruddha, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy không?" Tôn giả Anuruddha thưa: "Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, chúng con vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng và an trú Vô sở hữu xứ, biết rằng 'không có gì cả'. Bạch Thế Tôn, đây là một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy." Đức Thế Tôn nói: "Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Này Anuruddha, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy không?" Tôn giả Anuruddha thưa: "Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, chúng con vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Bạch Thế Tôn, đây là một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy."
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!"
"Này Anuruddha, các ông có chứng đắc được một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy không?"
"Bạch Thế Tôn, làm sao lại không có được!
Bạch Thế Tôn, ở đây, mỗi khi chúng con muốn, chúng con vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú sự diệt tận của tưởng và thọ; và nhờ tuệ thấy rõ, các lậu hoặc của chúng con đã đi đến chỗ tận diệt.
Bạch Thế Tôn, đây là một an trú an lạc khác, tức một sự thù thắng của tri kiến xứng với bậc thánh, vượt trên pháp của người thường, mà chúng con đã chứng đắc để vượt qua và để lắng dịu an trú ấy.
Và bạch Thế Tôn, ngoài an trú an lạc này, chúng con không thấy có an trú an lạc nào khác cao hơn hay tốt đẹp hơn."
"Lành thay, lành thay, này Anuruddha!
Ngoài an trú an lạc này, không có an trú an lạc nào cao hơn hay tốt đẹp hơn."
Rồi Đức Thế Tôn dùng lời Pháp để chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ các đại đức Anuruddha, Nandiya và Kimbila; sau đó Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.
Rồi các đại đức Anuruddha, Nandiya và Kimbila tiễn Đức Thế Tôn một đoạn, rồi từ đó quay trở lại; đại đức Nandiya và đại đức Kimbila nói với đại đức Anuruddha:
"Chúng tôi có từng nói với đại đức Anuruddha như vầy không:
'Chúng tôi đã chứng đắc những an trú và những chứng đắc như thế này, như thế này', mà nay đại đức Anuruddha lại trình bày trước mặt Đức Thế Tôn cho đến tận sự tận diệt các lậu hoặc?"
[Chú thích: Đến những vị xuất gia thân thiết như vậy mà cũng không nói cho nhau biết những gì mình chứng đắc, cho thấy tư cách của các vị. Đây là lời nhắc về sự kín đáo khi nói đến những chuyện vi tế như vậy, vì đó không phải chuyện để đem ra bàn tán hằng ngày.]
"Các đại đức đã không nói với tôi như vầy:
'Chúng tôi đã chứng đắc những an trú và những chứng đắc như thế này, như thế này'; nhưng tôi đã biết được bằng cách dùng tâm mình đọc tâm của các đại đức:
'Các đại đức này đã chứng đắc những an trú và những chứng đắc như thế này, như thế này.'
Và chư thiên cũng đã nói cho tôi biết việc ấy:
'Các đại đức này đã chứng đắc những an trú và những chứng đắc như thế này, như thế này.'
Khi Đức Thế Tôn hỏi thẳng về việc ấy, tôi đã trả lời."
Rồi dạ-xoa Dīgha Parajana đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Ngài rồi đứng sang một bên. Đứng một bên, dạ-xoa Dīgha Parajana nói với Đức Thế Tôn:
[Chú thích: Parajana nghĩa là "người lạ" hay "vị thần lạ". Bản chú giải đồng nhất vị này với Dīgha trong DN 32, và cho rằng đây là vị thần trú ngụ ở một miếu thờ địa phương. Đoạn này cho thấy lời tán thán của một vị thần nhỏ bé như vậy cũng có thể vang khắp các cõi trời.]
"Bạch Thế Tôn, thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī,
[Chú thích: Lời tán thán sau đây đặc biệt nồng nhiệt, có thể so với cách kể về những cư sĩ đã giác ngộ ở Ñātika trong DN 16. Cả hai đoạn đều nhằm tôn cao Phật pháp ngay tại quê hương của Mahāvīra, vị đối thủ lớn tuổi hơn của Đức Thế Tôn.]
vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này:
đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Nghe tiếng của dạ-xoa Dīgha Parajana, chư thiên cõi đất cũng loan truyền tiếng ấy:
"Thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī,
vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này:
đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Nghe tiếng của chư thiên cõi đất, chư thiên cõi Tứ đại thiên vương cũng loan truyền tiếng ấy: "Thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī, vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này: đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Nghe tiếng của chư thiên cõi Tứ đại thiên vương, chư thiên cõi Ba mươi ba (Tāvatiṁsa) cũng loan truyền tiếng ấy: "Thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī, vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này: đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Nghe tiếng của chư thiên cõi Ba mươi ba, chư thiên cõi Dạ-ma (Yāma) cũng loan truyền tiếng ấy: "Thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī, vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này: đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Nghe tiếng của chư thiên cõi Dạ-ma, chư thiên cõi Đâu-suất-đà (Tusita) cũng loan truyền tiếng ấy: "Thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī, vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này: đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Nghe tiếng của chư thiên cõi Đâu-suất-đà, chư thiên cõi Hóa lạc (Nimmānaratī) cũng loan truyền tiếng ấy: "Thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī, vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này: đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Nghe tiếng của chư thiên cõi Hóa lạc, chư thiên cõi Tha hóa tự tại (Paranimmitavasavattī) cũng loan truyền tiếng ấy: "Thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī, vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này: đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Nghe tiếng của chư thiên cõi Tha hóa tự tại, chư thiên cõi Phạm chúng cũng loan truyền tiếng ấy:
"Thật là lợi ích cho dân Vajjī, thật là lợi ích lành cho dân chúng Vajjī,
vì ở đó có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang an trú, và có cả ba người con trai nhà lành này:
đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya và đại đức Kimbila."
Như vậy, ngay trong khoảnh khắc ấy, trong giây lát ấy, trong chốc lát ấy, các đại đức đã được biết đến cho đến tận cõi Phạm Thiên.
"Đúng vậy, này Dīgha, đúng vậy, này Dīgha!
Này Dīgha, gia đình nào là nơi ba người con trai nhà lành này đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; nếu gia đình ấy với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho gia đình ấy.
Này Dīgha, dòng họ nào là nơi ba người con trai nhà lành này đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; nếu dòng họ ấy với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho dòng họ ấy.
Này Dīgha, làng nào là nơi ba người con trai nhà lành này đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; nếu làng ấy với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho làng ấy.
Này Dīgha, thị trấn nào là nơi ba người con trai nhà lành này đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; nếu thị trấn ấy với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho thị trấn ấy.
Này Dīgha, thành phố nào là nơi ba người con trai nhà lành này đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; nếu thành phố ấy với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho thành phố ấy.
Này Dīgha, miền đất nào là nơi ba người con trai nhà lành này đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; nếu miền đất ấy với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho miền đất ấy.
Này Dīgha, nếu tất cả những người thuộc giai cấp vua chúa với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho tất cả những người thuộc giai cấp vua chúa.
Này Dīgha, nếu tất cả các bà-la-môn với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho tất cả các bà-la-môn.
Này Dīgha, nếu tất cả các thương nhân với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho tất cả các thương nhân.
Này Dīgha, nếu tất cả những người thuộc giai cấp hạ tiện với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho tất cả những người thuộc giai cấp hạ tiện.
Này Dīgha, nếu cả thế giới này — cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, cùng với dân chúng gồm sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người — với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ba người con trai nhà lành này, thì sự tưởng nhớ ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho cả thế giới ấy, cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, cùng với dân chúng gồm sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người.
Này Dīgha, ông hãy xem: ba người con trai nhà lành này đang thực hành vì lợi ích cho nhiều người, vì an lạc cho nhiều người, vì lòng thương xót đối với đời, vì lợi ích, vì sự tốt lành và an lạc của chư thiên và loài người."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Dạ-xoa Dīgha Parajana hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Tiểu Kinh Rừng Gosiṅga, bài thứ nhất, đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.