buppou

Trung Bộ Kinh · bài 34/152

Tiểu Kinh Người Chăn Bò

Cūḷagopālaka Sutta

10 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Tiểu Kinh Người Chăn Bò (Cūḷagopālaka Sutta) là bài kinh thứ 34 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài rất ngắn, chỉ chừng hai trang, và gần như toàn bộ nội dung là một hình ảnh so sánh. Đức Thế Tôn đang ở bên bờ sông Gaṅgā, trong đất nước Vajjī, và Ngài kể cho các tỳ-kheo nghe chuyện một người chăn bò.

Chuyện ấy thế này. Hai người chăn bò cùng lùa bò qua sông vào tháng cuối mùa mưa, khi trời đã sang tiết thu. Người thứ nhất không buồn nhìn bờ bên này, cũng không nhìn bờ bên kia, cứ thế quất bò xuống chỗ không có bến. Đàn bò ra tới giữa dòng thì hoảng, xoay tròn thành một khối, rồi gặp tai họa ngay tại đó. Người thứ hai thì quan sát cả hai bờ trước, chọn đúng chỗ có bến, rồi lần lượt lùa qua từng nhóm: bò đực đầu đàn đi trước, rồi bò khỏe, rồi bò tơ, rồi bê và bò gầy. Con nào cũng sang được bờ bên kia, kể cả một con bê vừa mới sinh, chỉ vì nghe tiếng mẹ gọi mà bơi theo.

Đức Thế Tôn dùng chuyện ấy để nói về một việc không liên quan gì đến bò. Người ta thường tìm thầy để học cách sống, và không phải ai tự nhận là thầy cũng biết đường. Vị thầy không hiểu rõ đời này và đời sau, không hiểu rõ cái gì nằm trong tay Ma vương và cái gì nằm ngoài tay Ma vương, thì dù có lòng tốt, vẫn dẫn người theo mình đi vào chỗ nước xoáy. Còn vị thầy hiểu rõ thì dẫn được người qua, và ai nghe lời vị ấy sẽ được lợi ích lâu dài.

Sau đó Ngài mới nói rõ đàn bò ấy là ai. Bò đực đầu đàn là những vị A-la-hán, tức những người đã tu xong và không còn gì phải làm; bò khỏe là những vị Bất hoàn, không còn trở lại cõi này; bò tơ là bậc Nhất lai, chỉ trở lại một lần nữa; bê và bò gầy là bậc Dự lưu, đã bước vào dòng và chắc chắn sẽ tới nơi. Con bê vừa sinh là hai hạng người mới bắt đầu: người theo Pháp nhờ suy xét bằng tuệ, và người theo bằng lòng tin. Tất cả đều qua được, chỉ khác nhau ở chỗ đã đi xa đến đâu. Rồi Ngài nói về chính mình: Ngài là người biết rõ cả hai bờ, và ai tin Ngài mà nghe theo thì sẽ được lợi ích lâu dài.

Bài kinh khép lại bằng mấy câu kệ. Trong đó có một hình ảnh đáng nhớ: cánh cửa bất tử đã mở ra, và dòng nước của kẻ Ác đã bị cắt đứt. Với người đọc hôm nay, bài kinh nhỏ này vẫn còn nguyên giá trị như một lời nhắc: trước khi rủ ai đi theo mình qua một vùng nước, hãy nhìn kỹ hai bờ; và trước khi tin ai, cũng nên xem người ấy có thật sự biết đường hay không.

[Chú thích của người dịch: cūḷa là "nhỏ, ngắn"; gopālaka là "người chăn bò". Bài kinh mang tên ấy vì ví dụ chính trong bài là một người chăn bò lùa đàn bò qua sông.]

Cūḷagopālakasutta — bài kinh ngắn về người chăn bò


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú ở xứ Vajjī (Bạt-kỳ), tại Ukkacelā, bên bờ sông Gaṅgā (sông Hằng).

[Chú thích: Đức Thế Tôn cũng đã thuyết một bài kinh tại đây ít lâu sau khi Sāriputta và Moggallāna qua đời (SN 47.14).]

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, thuở xưa có một người chăn bò xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) bẩm sinh thiếu trí. Vào tháng cuối mùa mưa, khi đã sang tiết thu, ông ta không nhìn xem bờ bên này của sông Gaṅgā, không nhìn xem bờ bên kia, mà cứ thế lùa đàn bò băng qua chỗ không có bến, sang bờ phía bắc, nơi đất của người Suvideha.

[Chú thích: Truyện này minh hoạ cho điều bài kinh trước (MN 33:2.3) đã nói: phải biết chỗ có bến trước khi lội qua. Tên Suvideha không xuất hiện ở chỗ nào khác, và chú giải chỉ coi họ là người Videha; nhưng Videha nằm ở đông bắc Vajjī nên khó có thể giáp sông Gaṅgā đối diện Magadha. Có lẽ truyện này bắt nguồn từ thuở Videha còn vươn tới sông, hoặc từ những người tự xưng là "Videha tốt" sau khi vương quốc ấy đã mất.]

Rồi này các tỳ-kheo, đàn bò xoay vòng giữa dòng sông Gaṅgā, và ngay tại đó chúng gặp tai họa, khốn cùng.

Vì sao vậy?

Bởi vì này các tỳ-kheo, người chăn bò xứ Magadha ấy bẩm sinh thiếu trí, vào tháng cuối mùa mưa, khi đã sang tiết thu, đã không nhìn xem bờ bên này của sông Gaṅgā, không nhìn xem bờ bên kia, mà cứ thế lùa đàn bò băng qua chỗ không có bến, sang bờ phía bắc, nơi đất của người Suvideha.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào không thiện xảo về đời này, không thiện xảo về đời sau, không thiện xảo về cõi Ma vương, không thiện xảo về cõi thoát khỏi Ma vương, không thiện xảo về cõi Thần chết, không thiện xảo về cõi thoát khỏi Thần chết — với những vị ấy, nếu có ai nghĩ rằng họ đáng nghe và đáng tin, thì điều ấy sẽ đưa đến bất lợi và khổ đau lâu dài cho người ấy.

Này các tỳ-kheo, thuở xưa có một người chăn bò xứ Magadha bẩm sinh có trí. Vào tháng cuối mùa mưa, khi đã sang tiết thu, ông ta nhìn xem bờ bên này của sông Gaṅgā, nhìn xem bờ bên kia, rồi lùa đàn bò băng qua chỗ có bến, sang bờ phía bắc, nơi đất của người Suvideha.

Trước tiên, ông ta lùa qua những con bò đực — những con bò làm cha và dẫn đầu đàn.

Chúng vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia.

Rồi ông ta lùa qua những con bò khỏe và những con bò thuần.

Chúng cũng vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia.

Rồi ông ta lùa qua những con bò tơ đực và bò tơ cái.

Chúng cũng vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia.

Rồi ông ta lùa qua những con bê và những con bò gầy yếu.

Chúng cũng vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia.

Này các tỳ-kheo, thuở xưa có một con bê non vừa mới sinh ra; nghe tiếng bò mẹ gọi, nó bơi theo, và cũng đã vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā, an toàn sang tới bờ bên kia.

[Chú thích: Thường thì bhūtapubbaṁ là lối mở đầu truyện cổ tích, nghĩa là "thuở xưa", nhưng xem thêm MN 36:4.3.]

Vì sao vậy?

Bởi vì này các tỳ-kheo, người chăn bò xứ Magadha ấy bẩm sinh có trí, vào tháng cuối mùa mưa, khi đã sang tiết thu, đã nhìn xem bờ bên này của sông Gaṅgā, nhìn xem bờ bên kia, rồi lùa đàn bò băng qua chỗ có bến, sang bờ phía bắc, nơi đất của người Suvideha.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào thiện xảo về đời này, thiện xảo về đời sau, thiện xảo về cõi Ma vương, thiện xảo về cõi thoát khỏi Ma vương, thiện xảo về cõi Thần chết, thiện xảo về cõi thoát khỏi Thần chết — với những vị ấy, nếu có ai nghĩ rằng họ đáng nghe và đáng tin, thì điều ấy sẽ đưa đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho người ấy.

Ví như, này các tỳ-kheo, những con bò đực ấy — những con bò làm cha và dẫn đầu đàn — đã vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống xong đời sống thánh thiện, đã làm xong điều cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn tận mọi ràng buộc đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí — những vị ấy đã vượt ngang dòng nước của Ma vương và an toàn sang tới bờ bên kia.

Ví như, này các tỳ-kheo, những con bò khỏe và những con bò thuần đã vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo nhờ đoạn tận năm hạ phần kiết sử nên được hóa sinh, nhập Niết-bàn ngay tại đó, không còn trở lại từ thế giới ấy — những vị ấy cũng sẽ vượt ngang dòng nước của Ma vương và an toàn sang tới bờ bên kia.

Ví như, này các tỳ-kheo, những con bò tơ đực và bò tơ cái đã vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo do đoạn tận ba kiết sử và làm cho tham, sân, si trở nên mỏng nhẹ nên là bậc Nhất lai, chỉ còn trở lại thế gian này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau — những vị ấy cũng sẽ vượt ngang dòng nước của Ma vương và an toàn sang tới bờ bên kia.

Ví như, này các tỳ-kheo, những con bê và những con bò gầy yếu đã vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo do đoạn tận ba kiết sử nên là bậc Dự lưu, không còn phải sa vào đường ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ — những vị ấy cũng sẽ vượt ngang dòng nước của Ma vương và an toàn sang tới bờ bên kia.

Ví như, này các tỳ-kheo, con bê non vừa mới sinh ra ấy, nghe tiếng bò mẹ gọi mà bơi theo, đã vượt ngang dòng nước sông Gaṅgā và an toàn sang tới bờ bên kia;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo tùy pháp hành và tùy tín hành — những vị ấy cũng sẽ vượt ngang dòng nước của Ma vương và an toàn sang tới bờ bên kia.

Còn Ta, này các tỳ-kheo, là người thiện xảo về đời này, thiện xảo về đời sau, thiện xảo về cõi Ma vương, thiện xảo về cõi thoát khỏi Ma vương, thiện xảo về cõi Thần chết, thiện xảo về cõi thoát khỏi Thần chết. Này các tỳ-kheo, nếu có ai nghĩ rằng Ta đáng nghe và đáng tin, thì điều ấy sẽ đưa đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho người ấy.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Sau khi nói như vậy, bậc Thiện thệ, bậc Đạo sư, lại nói thêm:

[Chú thích: Câu chuyển tiếp này rất thường gặp ở các bộ kinh khác, nhưng trong Trung Bộ Kinh chỉ dùng ba lần: ở đây, MN 130:30.2 và MN 142:14.2.]

"Đời này và đời sau,

[Chú thích: Câu này nhắc lại Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 3.7.1, nơi có câu ayaṁ ca lokaḥ paraśca lokaḥ.]

đã được bậc hiểu biết khéo giảng rõ;

cùng những gì Ma vương với tới được,

và những gì Thần chết không với tới.

Biết rõ toàn thế giới,

bởi bậc Chánh giác, người thấu hiểu,

cánh cửa bất tử đã được mở ra,

[Chú thích: So sánh MN 26:20.12.]

sự an ổn để đạt tới Niết-bàn.

Dòng nước của Ác ma đã bị cắt đứt,

đã bị đập tan, đã bị dẹp sạch;

Hãy tràn đầy hoan hỷ,

này các tỳ-kheo, hãy hướng lòng tới sự an ổn."

[Chú thích: Ở đây nên đọc là patthetha, nghĩa là "hướng lòng tới".]

Tiểu Kinh Người Chăn Bò, bài thứ tư, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →