buppou

Trung Bộ Kinh · bài 110/152

Tiểu Kinh Trăng Tròn

Cūḷapuṇṇama Sutta — bài kinh ngắn về đêm trăng tròn

12 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài kinh này có tên Pali là Cūḷapuṇṇama Sutta, nghĩa là "bài kinh ngắn về đêm trăng tròn", và là bài thứ 110 trong Trung Bộ Kinh. Bối cảnh của nó rất giản dị: một đêm trăng tròn, Đức Thế Tôn ngồi ngoài trời giữa Tăng đoàn tỳ-kheo, tại Đông Viên gần Sāvatthī. Không có vua chúa đến thăm, không có cuộc tranh luận với giáo phái khác, không có phép lạ nào được kể. Chỉ có Ngài, các đệ tử và ánh trăng, trong một buổi tối mà mọi người đều im lặng.

Câu hỏi mở đầu nghe hơi lạ. Một người xấu có thể nhận ra một người xấu không? Các tỳ-kheo đáp không. Rồi Ngài hỏi tiếp: một người xấu có nhận ra được một người tốt không? Cũng không. Thoạt nghe, hai câu trả lời này có vẻ bất công với người xấu, nhưng ý của bài kinh rất rõ khi đọc tiếp: để nhận ra một phẩm chất, người ta phải có ít nhiều phẩm chất ấy. Một người chưa từng biết thế nào là giữ giới, là biết hổ thẹn, là có lòng tin thì không có cái thước nào để đo những điều đó nơi người khác, và cũng không nhìn ra chính mình.

Phần chính của bài kinh là hai bản kiểm kê đặt cạnh nhau. Người xấu được định nghĩa qua tám mặt: phẩm chất, người mình gắn bó, ý nghĩ, lời bàn, lời nói, hành động, quan điểm và cách bố thí. Người tốt cũng được định nghĩa đúng tám mặt ấy, như tấm gương soi ngược lại. Điều đáng chú ý là không mặt nào trong đó là chuyện siêu hình cao xa: tất cả đều là chuyện ăn ở hằng ngày, từ cách nói năng, cách kết bạn, cho đến cách cho đi một món quà.

Trong tám mặt ấy, phần quan điểm đáng đọc chậm nhất. Người xấu được mô tả là người phủ nhận tất cả: không có gì cho đi, không có quả báo của việc tốt việc xấu, không có đời sau, không có mẹ cha, không có ai tu hành thật sự. Người tốt thì khẳng định đúng những điều ấy. Bài kinh không biện luận cho bên nào; nó chỉ đặt hai bản kiểm kê cạnh nhau rồi nói ra chỗ mỗi hạng người đi tới: địa ngục hoặc cõi súc sinh, và sự cao quý giữa chư thiên hoặc giữa loài người.

Cuối bài không có ai quy y, không có ai chứng quả, không có lời tuyên bố long trọng nào. Các tỳ-kheo hoan hỷ tán thán lời dạy, và bài kinh khép lại bằng một bài kệ ngắn nhắc tên mười bài trong phẩm. Với người mới đọc kinh, đây là một bài dễ vào, vì nó không đòi hỏi thuật ngữ gì; nó chỉ đòi người đọc tự hỏi mình đang đứng ở bên nào trong hai bản kiểm kê ấy. Bài này còn có một người anh em cùng khung cảnh là Đại Kinh Trăng Tròn (MN 109), cũng mở đầu bằng đêm trăng tròn ở Sāvatthī, nhưng bàn về năm thủ uẩn; đọc hai bài cạnh nhau sẽ thấy cùng một đêm, hai câu chuyện khác nhau.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú gần Sāvatthī (Xá-vệ), tại Pubbārāma (Đông Viên), trong tòa lầu của bà mẹ Migāra (Lộc Tử Mẫu).

Lúc bấy giờ, vào ngày bố-tát thứ mười lăm, trong đêm trăng tròn đầy, Đức Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, được Tăng đoàn tỳ-kheo vây quanh.

Rồi Đức Thế Tôn nhìn quanh Tăng đoàn tỳ-kheo đang im phăng phắc, bèn nói với các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo, một người xấu có thể biết được một người xấu rằng:

'Vị này là người xấu' chăng?"

[Chú thích: Đại thần Vassakāra cũng hỏi Đức Thế Tôn đúng những câu này ở Tăng Chi Bộ Kinh 4.187:2.1, kèm một ví dụ lấy từ chuyện phiếm nơi triều đình.]

"Bạch Thế Tôn, không."

"Tốt lắm, này các tỳ-kheo.

Điều ấy không thể có, không có trường hợp nào, là chuyện một người xấu lại biết được một người xấu rằng:

'Vị này là người xấu.'

Nhưng này các tỳ-kheo, một người xấu có thể biết được một người tốt rằng:

'Vị này là người tốt' chăng?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Tốt lắm, này các tỳ-kheo.

Điều ấy cũng không thể có, không có trường hợp nào, là chuyện một người xấu lại biết được một người tốt rằng:

'Vị này là người tốt.'"

Này các tỳ-kheo, người xấu thì có những phẩm chất xấu, yêu mến người xấu, có ý nghĩ của người xấu, có lời bàn của người xấu, có lời nói của người xấu, có hành động của người xấu, có quan điểm của người xấu; và người ấy bố thí theo kiểu người xấu.

[Chú thích: Từ bhatti được Vi Diệu Pháp giải thích là đồng nghĩa với sevanā, tức sự thân cận; nhưng trong văn Pali sớm, từ này ấm áp hơn, gắn với lòng tin và sự yêu mến, và là bước trước của chữ bhakti về sau. Gắn bó với người xấu được nêu là một đặc điểm của phái Kỳ Na giáo.]

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người xấu có những phẩm chất xấu?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người xấu không có lòng tin, không biết hổ thẹn, không biết sợ điều ác, ít học, biếng nhác, mất chánh niệm, kém tuệ.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người xấu có những phẩm chất xấu.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người xấu yêu mến người xấu?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người xấu kết bạn và thân cận với những sa-môn, bà-la-môn không có lòng tin, không biết hổ thẹn, không biết sợ điều ác, ít học, biếng nhác, mất chánh niệm, kém tuệ; những vị ấy là bạn, là người đồng hành của người ấy.

[Chú thích: Ở Tăng Chi Bộ Kinh 10.62:3.1, assaddhamma có nghĩa là nghe những lời dạy không đúng; còn ở đây, từ này chỉ những phẩm chất xấu.]

Như vậy, này các tỳ-kheo, người xấu yêu mến người xấu.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người xấu có ý nghĩ của người xấu?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người xấu có ý làm hại chính mình, có ý làm hại người khác, có ý làm hại cả hai.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người xấu có ý nghĩ của người xấu.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người xấu có lời bàn của người xấu?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người xấu bàn tính chuyện làm hại chính mình, bàn tính chuyện làm hại người khác, bàn tính chuyện làm hại cả hai.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người xấu có lời bàn của người xấu.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người xấu có lời nói của người xấu?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người xấu nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người xấu có lời nói của người xấu.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người xấu có hành động của người xấu?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người xấu giết hại sinh mạng, trộm cắp, tà hạnh trong dục lạc.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người xấu có hành động của người xấu.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người xấu có quan điểm của người xấu?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người xấu có quan điểm như vầy:

'Không có gì được cho, không có gì được tế, không có gì được cúng; không có quả báo của nghiệp tốt hay xấu; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có những chúng sinh hóa sinh; trong đời không có những sa-môn hay bà-la-môn đã đi đúng đường, đã thực hành đúng, tự mình chứng biết bằng thắng trí về đời này và đời sau rồi tuyên bố.'

Như vậy, này các tỳ-kheo, người xấu có quan điểm của người xấu.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người xấu bố thí theo kiểu người xấu?

[Chú thích: Phần này cũng có ở Tăng Chi Bộ Kinh 5.147; xem thêm Tăng Chi Bộ Kinh 9.20.]

Ở đây, này các tỳ-kheo, người xấu bố thí một cách qua loa, không tự tay dâng, không chú tâm, cho đồ thừa, và không tin rằng việc bố thí sẽ đem lại quả báo.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người xấu bố thí theo kiểu người xấu.

Này các tỳ-kheo, người xấu ấy với những phẩm chất xấu như vậy, với sự yêu mến người xấu như vậy, với ý nghĩ của người xấu như vậy, với lời bàn của người xấu như vậy, với lời nói của người xấu như vậy, với hành động của người xấu như vậy, với quan điểm của người xấu như vậy.

Sau khi bố thí theo kiểu người xấu như vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy sinh vào chỗ mà người xấu phải sinh vào.

Và này các tỳ-kheo, chỗ mà người xấu phải sinh vào là đâu?

Đó là địa ngục hoặc cõi súc sinh.

[Chú thích: Ở Tăng Chi Bộ Kinh 2.26 đến 2.29, hai chỗ ấy được nói là dành cho người che giấu lỗi, người có quan điểm sai và người không giữ giới. Ở Trung Bộ Kinh 97:30.3 lại nói rằng trong hai chỗ ấy, cõi súc sinh còn khá hơn.]

"Này các tỳ-kheo, một người tốt có thể biết được một người tốt rằng:

'Vị này là người tốt' chăng?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

"Tốt lắm, này các tỳ-kheo.

Điều ấy có thể có, có trường hợp như vậy, là chuyện một người tốt biết được một người tốt rằng:

'Vị này là người tốt.'

Nhưng này các tỳ-kheo, một người tốt có thể biết được một người xấu rằng:

'Vị này là người xấu' chăng?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

"Tốt lắm, này các tỳ-kheo.

Điều ấy cũng có thể có, có trường hợp như vậy, là chuyện một người tốt biết được một người xấu rằng:

'Vị này là người xấu.'"

Này các tỳ-kheo, người tốt thì có những phẩm chất tốt, yêu mến người tốt, có ý nghĩ của người tốt, có lời bàn của người tốt, có lời nói của người tốt, có hành động của người tốt, có quan điểm của người tốt.

Và người ấy bố thí theo kiểu người tốt.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người tốt có những phẩm chất tốt?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người tốt có lòng tin, biết hổ thẹn, biết sợ điều ác, học rộng, tinh tấn, giữ vững chánh niệm, có tuệ.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người tốt có những phẩm chất tốt.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người tốt yêu mến người tốt?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người tốt kết bạn và thân cận với những sa-môn, bà-la-môn có lòng tin, biết hổ thẹn, biết sợ điều ác, học rộng, tinh tấn, giữ vững chánh niệm, có tuệ; những vị ấy là bạn, là người đồng hành của người ấy.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người tốt yêu mến người tốt.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người tốt có ý nghĩ của người tốt?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người tốt không có ý làm hại chính mình, không có ý làm hại người khác, không có ý làm hại cả hai.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người tốt có ý nghĩ của người tốt.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người tốt có lời bàn của người tốt?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người tốt không bàn tính chuyện làm hại chính mình, không bàn tính chuyện làm hại người khác, không bàn tính chuyện làm hại cả hai.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người tốt có lời bàn của người tốt.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người tốt có lời nói của người tốt?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người tốt từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời chia rẽ, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói chuyện vô ích.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người tốt có lời nói của người tốt.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người tốt có hành động của người tốt?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người tốt từ bỏ giết hại sinh mạng, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong dục lạc.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người tốt có hành động của người tốt.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người tốt có quan điểm của người tốt?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người tốt có quan điểm như vầy:

'Có gì được cho, có gì được tế, có gì được cúng; có quả báo của nghiệp tốt hay xấu; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có những chúng sinh hóa sinh; trong đời có những sa-môn hay bà-la-môn đã đi đúng đường, đã thực hành đúng, tự mình chứng biết bằng thắng trí về đời này và đời sau rồi tuyên bố.'

Như vậy, này các tỳ-kheo, người tốt có quan điểm của người tốt.

Và thế nào, này các tỳ-kheo, là người tốt bố thí theo kiểu người tốt?

Ở đây, này các tỳ-kheo, người tốt bố thí một cách cung kính, tự tay dâng, có chú tâm, cho những thứ không phải đồ thừa, và tin rằng việc bố thí sẽ đem lại quả báo.

Như vậy, này các tỳ-kheo, người tốt bố thí theo kiểu người tốt.

Này các tỳ-kheo, người tốt ấy với những phẩm chất tốt như vậy, với sự yêu mến người tốt như vậy, với ý nghĩ của người tốt như vậy, với lời bàn của người tốt như vậy, với lời nói của người tốt như vậy, với hành động của người tốt như vậy, với quan điểm của người tốt như vậy.

Sau khi bố thí theo kiểu người tốt như vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy sinh vào chỗ mà người tốt phải sinh vào.

Và này các tỳ-kheo, chỗ mà người tốt phải sinh vào là đâu?

Đó là sự cao quý giữa chư thiên hoặc giữa loài người.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Tiểu Kinh Trăng Tròn, bài thứ mười, đã kết thúc.

Phẩm Devadaha, phẩm thứ nhất, đã kết thúc.


26. Kệ tóm tắt phẩm

[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt phẩm Devadaha, phẩm gồm mười bài từ bài 101 đến bài 110. Mỗi cụm từ là một từ khóa để nhớ tên bài, nên các tên riêng được giữ nguyên dạng Pali.]

Devadaha, Pañcattaya,

Kinti, Sāma, Sunakkhatta;

Sappāya, Gaṇa, Gopaka —

Mahāpuṇṇa và Cūḷapuṇṇa.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →