buppou

Trung Bộ Kinh · bài 111/152

Kinh Tùy Quán

Anupada Sutta — bài kinh về sự quán sát các pháp từng cái một

19 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài kinh này có tên Pali là Anupada Sutta, và là bài thứ 111 trong Trung Bộ Kinh. Bối cảnh rất giản dị: Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jeta (Kỳ-đà), và Ngài gọi các tỳ-kheo đến để nói về một người trong số đệ tử của mình. Không có vua chúa đến thăm, không có cuộc tranh luận với giáo phái khác, không có phép lạ nào được kể. Cả bài kinh, trừ mấy câu mở đầu và kết thúc, là lời Đức Thế Tôn nói liền một mạch.

Người được nói đến là Sāriputta (Xá-lợi-phất), một trong hai đệ tử lớn nhất của Đức Thế Tôn, nổi tiếng về trí tuệ. Trong nhiều bài kinh khác, ông xuất hiện với tư cách người trả lời những câu hỏi hóc búa, hoặc người được Ngài giao giảng thay. Ở đây ông không nói một lời nào: Ngài kể lại việc ông đã làm. Tên bài kinh, anupada, nghĩa là "theo từng bước", ở đây chỉ cách quán sát lần lượt từng pháp một khi chúng đang sinh khởi. Tên Hán-Việt "Tùy Quán" cũng theo nghĩa ấy: quán sát tùy theo từng pháp, lần lượt không bỏ sót.

Phần chính của bài kinh là một chuỗi chín tầng chứng đắc. Bốn tầng đầu là bốn tầng thiền-na, trạng thái tâm lắng đọng sâu, trong đó những yếu tố thô như tầm, tứ, hỷ lần lượt lắng xuống, nhường chỗ cho những trạng thái tinh tế hơn. Bốn tầng tiếp là bốn tầng định vô sắc, nơi đối tượng của tâm không còn là hình sắc hay cảm giác nào của thân, mà là không gian vô biên, thức vô biên, sự không có gì cả, và một trạng thái mà tưởng đã mờ đến mức không thể nói là còn hay không còn. Tầng cuối cùng là sự diệt thọ tưởng, khi mọi cảm thọ và tri giác tạm thời ngưng nghỉ.

Ở mỗi tầng, bài kinh lặp lại đúng một khuôn. Sāriputta nhập vào tầng ấy, rồi phân định từng pháp có mặt trong đó: trước hết là những yếu tố làm nên tầng thiền ấy, sau đó là một danh sách dài những gì đang cùng có mặt — xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, ước muốn, quyết định, tinh tấn, chánh niệm, xả, tác ý. Ông biết rõ mỗi pháp ấy lúc sinh khởi, lúc tồn tại và lúc biến mất. Rồi ông suy xét: các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến. Và ông an trú giữa chúng mà không bám vào, không lảng tránh, biết rằng vẫn còn một sự thoát ra cao hơn.

Điều đáng chú ý là bài kinh không chỉ nói về sự nhập định. Nếu chỉ nhập định thì không cần kể dài như vậy. Cái được kể là con mắt quan sát đi kèm với từng tầng định: một tâm vừa an trú trong trạng thái ấy, vừa thấy rõ nó gồm những gì và nó sẽ tan đi. Ở tầng cao nhất, khi không còn phân biệt được từng yếu tố tâm nữa, ông chỉ còn suy xét rằng tất cả đã qua rồi đi. Cuối cùng, khi ra khỏi sự diệt thọ tưởng, các lậu hoặc — những khuynh hướng ô nhiễm sâu kín nhất trong tâm — được đoạn tận, và ông biết rằng không còn sự thoát ra nào cao hơn nữa.

Bài kinh khép lại bằng ba lời tán thán của Đức Thế Tôn. Ngài nói Sāriputta đã đạt sự tự chủ và sự viên mãn trong giới, định, tuệ và giải thoát; Ngài gọi ông là con đích thực của mình, sinh ra từ miệng Ngài, thừa kế Pháp chứ không thừa kế tài vật; và Ngài nói ông tiếp tục vận chuyển đúng đắn bánh xe Pháp mà Như Lai đã vận chuyển. Với người mới đọc kinh, đây là một bài khó, vì gần như toàn bộ là danh sách thuật ngữ và công thức lặp đi lặp lại. Cách đọc dễ chịu nhất là đọc chậm vòng đầu để nắm cái khuôn, rồi những vòng sau chỉ cần để ý chỗ khác nhau giữa các tầng; cái lặp lại chính là điều bài kinh muốn nói. Giới nghiên cứu cũng nhận thấy bài kinh này không có bản tương đương trong các truyền thống khác và mang dấu vết của một giai đoạn muộn, nhưng điều đó không làm giảm giá trị của nó như một bức chân dung hiếm hoi về cách tuệ và định đi cùng nhau.


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh thuật lại cách ngài Sāriputta thực hành tuệ quán cho đến khi chứng quả A-la-hán, lấp vào khoảng trống giữa lúc chứng quả Dự lưu và quả A-la-hán. Đoạn văn nhắc rằng khi một câu chuyện kể ai đó chứng ngộ trong lúc nghe pháp, phía sau thường có một quá trình thực hành dài. Nhiều dấu hiệu cho thấy đây là một trong những bài kinh xuất hiện muộn: không có bản tương đương, phần trình bày chi tiết lạ thường, có chỗ biên tập vụng về, và có những thuật ngữ chỉ gặp trong các văn bản về sau.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là người có trí.

Này các tỳ-kheo, Sāriputta có tuệ lớn.

[Chú thích: Đây cũng là những phẩm chất được nói về Đức Thế Tôn trong DN 30 và về chính ngài Sāriputta trong SN 8.7.]

Này các tỳ-kheo, Sāriputta có tuệ rộng.

[Chú thích: Tuệ rộng, theo AN 3.30, là tuệ của người thường xuyên nghe giáo pháp, chú tâm trong lúc nghe và tiếp tục suy xét sau đó.]

Này các tỳ-kheo, Sāriputta có tuệ hoan hỷ.

Này các tỳ-kheo, Sāriputta có tuệ nhanh nhẹn.

Này các tỳ-kheo, Sāriputta có tuệ sắc bén.

Này các tỳ-kheo, Sāriputta có tuệ xuyên thấu.

Này các tỳ-kheo, Sāriputta quán sát các pháp từng cái một trong nửa tháng.

[Chú thích: Nửa tháng ấy là khoảng thời gian từ khi ngài chứng quả Dự lưu, lúc còn là học trò của Sañjaya, đến khi chứng quả A-la-hán, nhờ nghe được bài giảng của Đức Thế Tôn cho du sĩ Dīghanakha. Ở các chỗ khác, anupada nghĩa là lời nói tiếp theo sau; ở đây nó chỉ sự quán sát từng pháp một khi mỗi pháp đang sinh khởi. Lối quán sát có thứ tự này phản ánh phong cách giảng dạy chi tiết, kỹ lưỡng của ngài Sāriputta.]

Này các tỳ-kheo, sự quán sát các pháp từng cái một của Sāriputta là như vầy.

Này các tỳ-kheo, Sāriputta ở đây ly khỏi các dục, ly khỏi các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ nhất, có tầm và tứ, với hỷ lạc do sự viễn ly sinh ra.

Và các pháp trong tầng thiền-na thứ nhất — tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, ước muốn, quyết định, tinh tấn, chánh niệm, xả và tác ý — các pháp ấy được ngài phân định từng cái một.

[Chú thích: Vavatthita ("phân định") chỉ xuất hiện ở một bài kệ muộn trong DN 20, và trong Vinaya nó là từ trái nghĩa với sambhinna, "lẫn lộn". Năm mục đầu là năm yếu tố thiền-na quen thuộc, còn phần sau danh sách thì không xuất hiện thành một bộ như vậy ở nơi khác. Giữa hai phần có một chỗ gãy cú pháp rõ rệt, lại thêm phần sau trùng lặp với phần đầu, cho thấy các mục từ "xúc" trở đi được thêm vào sau này.]

Các pháp ấy sinh khởi, ngài đều biết rõ; hiện hữu, ngài đều biết rõ; và đi đến chỗ biến mất, ngài cũng đều biết rõ.

[Chú thích: Ngài tỉnh giác theo dõi tầng chứng đắc mang những phẩm chất ấy, từ lúc nó sinh khởi, tồn tại đến lúc hoại diệt. Theo Anālayo, điều này không thể là quán sát sự diệt của các pháp ngay bên trong tầng thiền, vì chính tầng thiền được định nghĩa bằng sự tồn tại của chúng; ngài biết được tính vô thường của tầng thiền, chứ không phải tính vô thường trong tầng thiền. Có thể so với phép tu định ở AN 4.41, nơi hành giả quán thọ, tưởng và các suy nghĩ theo cùng cách ấy.]

Vị ấy hiểu như vầy:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

[Chú thích: Ở đoạn trên ngài trực tiếp quan sát các pháp, còn ở đây ngài suy xét về những gì đã thấy. Cách thực hành này đi trước quan niệm của Niddesa về ba mức hiểu biết trọn vẹn: hiểu biết cái đã biết, suy xét cái đã biết theo ba đặc tính vô thường, khổ, vô ngã, và từ bỏ mọi chấp thủ. Từ paṭiventi, "tan biến", là từ chỉ xuất hiện ở đây.]

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

[Chú thích: Chú giải giải thích "không bám vào, không lảng tránh" là không bị sức mạnh của tham hay sân lôi kéo, tức là thái độ điềm tĩnh, không phản ứng. Cụm từ hiếm gặp này cũng xuất hiện, trong cùng ngữ cảnh, ở bài kinh kế tiếp là MN 112.]

Ngài biết rằng: "Còn có sự thoát ra cao hơn."

[Chú thích: "Sự thoát ra cao hơn" thường chỉ sự giác ngộ hoàn toàn, như trong MN 7, MN 49, AN 3.66, AN 7.56 và AN 10.93. Nhưng theo chú giải, ở đây nó chỉ tầng chứng đắc kế tiếp.]

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy trở nên chắc thật.

[Chú thích: Cụm atthitvevassa gồm atthi iti ("rằng điều ấy là có"), eva ("quả thật") và assa ("nơi ngài"). Chú giải nói: "Rằng điều ấy là có, được củng cố nơi vị tỳ-kheo ấy."]

Lại nữa, này các tỳ-kheo, khi tầm và tứ lắng yên, Sāriputta chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ hai, với sự thanh tịnh nội tâm, với tâm chuyên nhất, không tầm, không tứ, với hỷ lạc do định sinh ra.

Và các pháp trong tầng thiền-na thứ hai — sự thanh tịnh nội tâm, hỷ, lạc và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, ước muốn, quyết định, tinh tấn, chánh niệm, xả và tác ý — các pháp ấy được ngài phân định từng cái một.

[Chú thích: Danh sách đầu, tức các yếu tố của tầng thiền, được điều chỉnh theo từng tầng; phần còn lại của danh sách giữ nguyên.]

Các pháp ấy sinh khởi, ngài đều biết rõ; hiện hữu, ngài đều biết rõ; và đi đến chỗ biến mất, ngài cũng đều biết rõ.

Vị ấy hiểu như vầy:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

Ngài biết rằng: "Còn có sự thoát ra cao hơn."

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy trở nên chắc thật.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, khi hỷ đã lìa, Sāriputta an trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, và thân cảm nhận được lạc. Ngài chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ ba, tầng mà các bậc thánh tuyên bố: "Người an trú xả, chánh niệm, sống trong lạc."

Và các pháp trong tầng thiền-na thứ ba — lạc, chánh niệm, tỉnh giác và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, ước muốn, quyết định, tinh tấn, chánh niệm, xả và tác ý —

các pháp ấy được ngài phân định từng cái một; các pháp ấy sinh khởi, ngài đều biết rõ; hiện hữu, ngài đều biết rõ; và đi đến chỗ biến mất, ngài cũng đều biết rõ.

Vị ấy hiểu như vầy:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

Ngài biết rằng: "Còn có sự thoát ra cao hơn."

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy trở nên chắc thật.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, khi đã từ bỏ lạc, đã từ bỏ khổ, và từ trước đã chấm dứt hỷ và ưu, Sāriputta chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.

Và các pháp trong tầng thiền-na thứ tư — xả, thọ không khổ không lạc, sự không bận tâm nhờ tâm an tĩnh, chánh niệm thanh tịnh và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, ước muốn, quyết định, tinh tấn, chánh niệm, xả và tác ý — các pháp ấy được ngài phân định từng cái một.

[Chú thích: "Không bận tâm" (anābhoga) là thuật ngữ chỉ gặp ở đây trong các bài kinh. Theo sách Phân Biệt (Vibhaṅga) của Abhidhamma, đây là đặc tính của năm loại thức nơi giác quan, thứ mà hệ thống ấy cho là không cảm nhận lạc hay khổ.]

Các pháp ấy sinh khởi, ngài đều biết rõ; hiện hữu, ngài đều biết rõ; và đi đến chỗ biến mất, ngài cũng đều biết rõ.

Vị ấy hiểu như vầy:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

Ngài biết rằng: "Còn có sự thoát ra cao hơn."

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy trở nên chắc thật.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc, chấm dứt các tưởng về chướng ngại, không tác ý đến các tưởng về sai biệt, với ý niệm "không gian là vô biên", chứng đạt và an trú tầng định không gian vô biên (Không vô biên xứ).

Và các pháp trong tầng định không gian vô biên — tưởng về không gian vô biên và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, ước muốn, quyết định, tinh tấn, chánh niệm, xả và tác ý — các pháp ấy được ngài phân định từng cái một.

Các pháp ấy sinh khởi, ngài đều biết rõ; hiện hữu, ngài đều biết rõ; và đi đến chỗ biến mất, ngài cũng đều biết rõ.

<!-- hết phần 1 -->

Vị ấy hiểu như vầy:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

Ngài biết rằng: "Còn có sự thoát ra cao hơn."

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy trở nên chắc thật.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta vượt qua hoàn toàn tầng định không gian vô biên, với ý niệm "thức là vô biên", chứng đạt và an trú tầng định thức vô biên (Thức vô biên xứ).

Và các pháp trong tầng định thức vô biên — tưởng về thức vô biên và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, ước muốn, quyết định, tinh tấn, chánh niệm, xả và tác ý — các pháp ấy được ngài phân định từng cái một.

Các pháp ấy sinh khởi, ngài đều biết rõ; hiện hữu, ngài đều biết rõ; và đi đến chỗ biến mất, ngài cũng đều biết rõ.

Vị ấy hiểu như vầy:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

Ngài biết rằng: "Còn có sự thoát ra cao hơn."

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy trở nên chắc thật.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta vượt qua hoàn toàn tầng định thức vô biên, với ý niệm "không có gì cả", chứng đạt và an trú tầng định không có gì cả (Vô sở hữu xứ).

Và các pháp trong tầng định không có gì cả — tưởng về không có gì cả và nhất tâm; xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, ước muốn, quyết định, tinh tấn, chánh niệm, xả và tác ý — các pháp ấy được ngài phân định từng cái một.

Các pháp ấy sinh khởi, ngài đều biết rõ; hiện hữu, ngài đều biết rõ; và đi đến chỗ biến mất, ngài cũng đều biết rõ.

Vị ấy hiểu như vầy:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

Ngài biết rằng: "Còn có sự thoát ra cao hơn."

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy trở nên chắc thật.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta vượt qua hoàn toàn tầng định không có gì cả, chứng đạt và an trú tầng định không còn tưởng mà cũng không phải không còn tưởng (Phi tưởng phi phi tưởng xứ).

Ngài xuất khỏi tầng chứng đắc ấy trong chánh niệm.

Sau khi xuất khỏi tầng chứng đắc ấy trong chánh niệm, ngài quán sát các pháp của tầng chứng đắc ấy — những pháp đã qua, đã chấm dứt, đã biến đổi:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

[Chú thích: Ở tầng cao nhất trong tám tầng chứng đắc này, không có sự phân định từng yếu tố tâm, vì chức năng của tưởng ở đây rất mờ nhạt. Thay vì theo dõi sự sinh khởi, tồn tại và diệt đi của các pháp như trước, ngài chỉ suy xét rằng chúng đã đến rồi đi. Như Anālayo nói, không có sự liên tục của nhận thức từ trước khi nhập tầng định ấy đến lúc xuất ra, nên hành giả chỉ biết rằng đã có lúc mình nhập vào và nay đã xuất ra.]

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

Ngài biết rằng: "Còn có sự thoát ra cao hơn."

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy trở nên chắc thật.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta vượt qua hoàn toàn tầng định không còn tưởng mà cũng không phải không còn tưởng, chứng đạt và an trú sự diệt thọ tưởng. Và sau khi thấy bằng tuệ, các lậu hoặc của ngài đã đoạn tận.

Ngài xuất khỏi tầng chứng đắc ấy trong chánh niệm.

Sau khi xuất khỏi tầng chứng đắc ấy trong chánh niệm, ngài quán sát các pháp của tầng chứng đắc ấy — những pháp đã qua, đã chấm dứt, đã biến đổi:

"Thật vậy, các pháp này, khi chưa có thì sinh khởi, khi đã có thì lại tan biến."

[Chú thích: Không rõ câu này nói về cái gì, vì trong sự diệt thọ tưởng không có tâm pháp nào sinh khởi hay chấm dứt. Chú giải cho rằng đó là các sắc pháp đang hiện hữu, tức thân do nghiệp tạo ra, hoặc là các pháp của tầng chứng đắc trước. Có lẽ đây chỉ là một sơ suất khi biên tập.]

Đối với các pháp ấy, ngài an trú không bám vào, không lảng tránh, không nương tựa, không bị trói buộc, được giải thoát, không còn ràng buộc, với tâm không còn giới hạn.

Ngài biết rằng: "Không còn sự thoát ra nào cao hơn."

[Chú thích: Ngài đã chứng ngộ trọn vẹn Niết-bàn, không còn gì cao hơn nữa.]

Nhờ thực hành nhiều lần, nơi ngài điều ấy quả thật là không có.

Này các tỳ-kheo, nếu nói đúng, người ta sẽ nói về một người như vầy:

"Người ấy đã đạt sự tự chủ và sự viên mãn trong giới cao thượng, trong định cao thượng, trong tuệ cao thượng và trong giải thoát cao thượng" — nói đúng về một người, thì đó chính là Sāriputta; và nói đúng, thì phải nói như vầy:

[Chú thích: Có thể so với MN 77 và MN 100.]

"Người ấy đã đạt sự tự chủ và sự viên mãn trong giới cao thượng, trong định cao thượng, trong tuệ cao thượng và trong giải thoát cao thượng."

Này các tỳ-kheo, nếu nói đúng, người ta sẽ nói về một người như vầy:

"Người là con đích thực của Đức Thế Tôn, sinh ra từ miệng Ngài, sinh ra từ Pháp, do Pháp tạo thành, là người thừa kế Pháp chứ không thừa kế tài vật" — nói đúng về một người, thì đó chính là Sāriputta; và nói đúng, thì phải nói như vầy:

[Chú thích: Câu này cũng được nói về ngài Sāriputta trong SN 8.7 và về ngài Mahākassapa trong SN 16.11. Cách nói này vay từ lời tự nhận của các bà-la-môn rằng họ sinh ra từ miệng Phạm Thiên.]

"Người là con đích thực của Đức Thế Tôn, sinh ra từ miệng Ngài, sinh ra từ Pháp, do Pháp tạo thành, là người thừa kế Pháp chứ không thừa kế tài vật."

Này các tỳ-kheo, Sāriputta tiếp tục vận chuyển đúng đắn bánh xe Pháp vô thượng mà Như Lai đã vận chuyển.

[Chú thích: Câu này cũng có trong AN 1.187, AN 5.132 và SN 8.7. Đây là lời nhắc đến bài giảng đầu tiên của Đức Thế Tôn.]

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Tùy Quán đã kết thúc, bài thứ nhất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →