buppou

Trung Bộ Kinh · bài 71/152

Kinh Vacchagotta về Tam Minh

Tevijjavacchagotta Sutta — bài kinh về du sĩ Vacchagotta và ba minh

13 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Vacchagotta về Tam Minh (Tevijjavacchagotta Sutta) là bài kinh thứ bảy mươi mốt trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài rất ngắn và chỉ có hai nhân vật: Đức Thế Tôn và du sĩ Vacchagotta, một người xuất gia lang thang không thuộc Tăng đoàn nào. Chuyện xảy ra tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), một thành phố lớn thời bấy giờ, vào một buổi sáng khi Đức Thế Tôn vào thành khất thực. Thấy còn sớm, Ngài rẽ vào tịnh xá của các du sĩ để thăm Vacchagotta. Không có phép lạ, không có vua chúa, không có cuộc tranh luận gay gắt: chỉ có một câu hỏi được đặt ra, một câu trả lời, rồi vài câu hỏi nối tiếp.

Câu hỏi ấy liên quan đến uy tín của chính Đức Thế Tôn. Vacchagotta nghe người ta nói rằng sa-môn Gotama tự nhận mình biết tất cả, thấy tất cả, và lúc nào tri kiến cũng hiện ra trước mặt Ngài, dù Ngài đang đi, đang đứng, đang ngủ hay đang thức. Ông hỏi thẳng: những người nói như vậy có nói đúng lời Ngài dạy không? Đức Thế Tôn trả lời dứt khoát rằng không, và nói thêm rằng họ đã xuyên tạc Ngài. Chi tiết này đáng chú ý, vì về sau trong truyền thống, hình ảnh một bậc biết hết mọi thứ đã trở nên quen thuộc, trong khi ở đây chính Ngài phủ nhận cách nói ấy.

Vậy Ngài nhận mình có gì? Câu trả lời là ba minh. Minh ở đây không phải là tin, mà là một loại hiểu biết có được nhờ tu tập lâu dài. Minh thứ nhất là nhớ lại các đời sống trước của chính mình, với tên, dòng họ, màu da, thức ăn, cảm thọ vui khổ và tuổi thọ của từng đời. Minh thứ hai là thiên nhãn: thấy các chúng sinh chết đi và sinh lại, kẻ hèn kém hay cao quý, kẻ xấu xí hay xinh đẹp, và hiểu rằng ai đi đến đâu là do nghiệp của chính người ấy. Minh thứ ba là sự đoạn tận các lậu hoặc, tức những thứ làm tâm rỉ rả và giữ người ta trong vòng sinh tử; đoạn tận được chúng thì tâm được giải thoát ngay trong đời này.

Điều đáng chú ý là biết ba minh không đồng nghĩa với biết mọi thứ cùng một lúc. Đức Thế Tôn nói Ngài nhớ lại đời trước mỗi khi muốn, thấy chúng sinh mỗi khi muốn: muốn thì biết, chứ không phải lúc nào cũng sẵn có trước mặt. Như vậy cái Ngài nhận là một loại tri kiến có mục đích, đủ để dẫn tới giải thoát, và Ngài không nhận thêm những gì nằm ngoài mục đích ấy. Cách trả lời này vừa khiêm tốn vừa chính xác, và nó đặt ra một tiêu chuẩn cho bất cứ ai nói về mình: đừng nhận hơn những gì mình thật sự có.

Nửa sau bài kinh chuyển sang một chủ đề khác, và đây là phần dễ làm người đọc bất ngờ. Vacchagotta hỏi có người tại gia nào, chưa từ bỏ dây trói của đời sống tại gia, mà chấm dứt được khổ khi thân hoại mạng chung không; câu trả lời là không có. Nhưng nếu hỏi có người tại gia nào được sinh lên cõi trời không, thì không phải một trăm hay hai trăm người, mà nhiều hơn thế rất nhiều. Rồi ông hỏi về phái Ājīvaka, một nhóm du sĩ khổ hạnh nổi tiếng thời ấy: không một ai trong họ chấm dứt được khổ. Trong chín mươi mốt kiếp mà Đức Thế Tôn nhớ lại, chỉ có đúng một người Ājīvaka được sinh lên cõi trời, và người ấy lại là người chủ trương có nghiệp, có hành động, nghĩa là không theo giáo lý phủ nhận nhân quả của phái mình. Vacchagotta kết luận rằng phái ấy trống không, và Đức Thế Tôn xác nhận.

Đọc bài kinh này hôm nay, điều đọng lại có lẽ không phải mấy con số về cõi trời, mà là cách Đức Thế Tôn trả lời một lời đồn về chính mình. Ngài không nhận cho oai, cũng không giả vờ khiêm nhường: Ngài nói đúng cái Ngài có và chỉ rõ chỗ người ta đã nói sai. Với Vacchagotta, cuộc gặp ấy là một bước trên con đường của ông, từ tò mò đến kính trọng rồi đến niềm tin. Bài kinh khép lại bằng một câu ngắn: ông hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy. Đó cũng là lý do bài kinh này còn đáng đọc: nó cho thấy một bậc thầy lớn có thể nói về mình một cách chính xác đến mức nào.

[Chú thích của người dịch: Tevijja là "ba minh", chỉ ba loại tri kiến mà bài kinh nêu ra: nhớ lại các đời sống trước, thiên nhãn thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, và sự đoạn tận các lậu hoặc.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này mở đầu một chuỗi ba bài kể lại quá trình tu tập của Vacchagotta, và còn có cả một Tương Ưng gồm toàn những câu hỏi của ông (SN 33). Ở đây ông tỏ thái độ tò mò và kính trọng, và có được một phần niềm tin nơi Đức Thế Tôn. Ông không phải là bà-la-môn tại gia Vacchagotta ở Venāgapura trong AN 3.63.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), trong Mahāvana (Đại Lâm), tại giảng đường có mái nhọn.

Lúc bấy giờ, du sĩ Vacchagotta trú tại Ekapuṇḍarīka, tịnh xá của các du sĩ.

[Chú thích: Vacchagotta là tên dòng họ, tên riêng của ông không được ghi lại. Dòng họ ấy bắt nguồn từ vị hiền triết Vatsa thời Vệ-đà, và một người cùng dòng họ là Śayyambha Vatsagotra được nói là đệ tử trực tiếp của Mahāvīra. Điều này hợp với sự quan tâm rõ rệt của Vacchagotta đối với các truyền thống tu khổ hạnh.]

Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát và y, đi vào Vesālī để khất thực.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nghĩ rằng:

"Còn quá sớm để đi khất thực ở Vesālī.

Hay là ta đến chỗ du sĩ Vacchagotta, tại tịnh xá Ekapuṇḍarīka của các du sĩ."

Thế là Đức Thế Tôn đi đến tịnh xá Ekapuṇḍarīka của các du sĩ, chỗ du sĩ Vacchagotta đang trú.

Du sĩ Vacchagotta thấy Đức Thế Tôn từ xa đi tới.

Thấy vậy, ông nói với Đức Thế Tôn:

"Thưa Ngài, xin Đức Thế Tôn lại đây.

Đức Thế Tôn đến đây thật là tốt lành, thưa Ngài.

Đã lâu lắm rồi, thưa Ngài, Đức Thế Tôn mới có dịp đến đây.

Xin Đức Thế Tôn ngồi xuống, thưa Ngài, chỗ ngồi này đã được sắp sẵn."

Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ ngồi đã sắp sẵn.

Du sĩ Vacchagotta lấy một chỗ ngồi thấp, rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Đức Thế Tôn:

"Thưa Ngài, con nghe nói rằng:

[Chú thích: Ở AN 3.57, ông cũng hỏi Đức Thế Tôn theo cách tương tự để xác nhận lời dạy về bố thí. Còn ở SN 44.9, ông hỏi một câu có phần liên quan về sáu vị đạo sư và cách họ đoán số phận đời sau của người đã chết.]

'Sa-môn Gotama là bậc biết tất cả, thấy tất cả, tự nhận mình có tri kiến không thiếu sót,

[Chú thích: Lời tự nhận như vậy không phải điều chưa từng có: trong kinh tạng Pali, cả Mahāvīra lẫn Pūraṇa Kassapa đều được nói là tự nhận biết tất cả, và kinh sách đạo Kỳ-na còn giữ nhiều lời tương tự. Về Pūraṇa Kassapa thì tài liệu rất ít, nhưng ông được xem là vị thầy lớn của phái Ājīvaka, mà người sáng lập là du sĩ Gosāla cũng được nói là biết tất cả.]

tri kiến ấy luôn hiện ra trước ta, thường xuyên và không gián đoạn, khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ và khi ta thức.'

Thưa Ngài, những người nói như vậy: 'Sa-môn Gotama là bậc biết tất cả, thấy tất cả, tự nhận mình có tri kiến không thiếu sót; tri kiến ấy luôn hiện ra trước ta, thường xuyên và không gián đoạn, khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ và khi ta thức' — có phải họ nói đúng lời Đức Thế Tôn dạy, không xuyên tạc Đức Thế Tôn bằng điều không thật, giải thích đúng theo Pháp, và không ai có thể căn cứ vào Pháp mà chê trách được chăng?"

"Này Vaccha, những người nói như vậy: 'Sa-môn Gotama là bậc biết tất cả, thấy tất cả, tự nhận mình có tri kiến không thiếu sót; tri kiến ấy luôn hiện ra trước ta, thường xuyên và không gián đoạn, khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ và khi ta thức' — họ không nói đúng lời ta dạy. Họ xuyên tạc ta bằng điều không có thật, không đúng sự thật."

[Chú thích: Ở AN 4.24, Đức Thế Tôn nói Ngài biết mọi thứ đã được thấy, được nghe, được nghĩ, được biết, được đạt tới, được tìm cầu và được tâm thăm dò, tức là biết trọn vẹn kinh nghiệm chủ quan. Ở MN 90, Ngài phủ nhận rằng có ai biết mọi thứ cùng một lúc. Về sau, sách Milindapañha đảo lại thành khẳng định rằng Đức Thế Tôn có thể biết mọi thứ, chỉ là không biết cùng một lúc, và đến các tầng văn liệu muộn hơn thì thuyết toàn tri đã thành quan điểm chuẩn.]

"Vậy thì thưa Ngài, phải trả lời thế nào để nói đúng lời Đức Thế Tôn dạy, không xuyên tạc Đức Thế Tôn bằng điều không thật, giải thích đúng theo Pháp, và để không ai có thể căn cứ vào Pháp mà chê trách được?"

"Này Vaccha, nếu trả lời rằng: 'Sa-môn Gotama có ba minh', thì đó là nói đúng lời ta dạy, không xuyên tạc ta bằng điều không thật, giải thích đúng theo Pháp, và không ai có thể căn cứ vào Pháp mà chê trách được.

[Chú thích: Tri kiến của Đức Thế Tôn có đối tượng rõ ràng và có công dụng: nó phục vụ mục đích giải thoát.]

Bởi vì, này Vaccha, mỗi khi ta muốn, ta nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau,

nghĩa là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới vừa co lại vừa giãn ra. 'Ở nơi ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ và lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ nơi ấy chết đi, ta sinh ra ở nơi kia. Ở nơi kia, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ và lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ nơi kia chết đi, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, ta nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, với đầy đủ nét và chi tiết.

Bởi vì, này Vaccha, mỗi khi ta muốn, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá tầm mắt của người, ta thấy các chúng sinh đang lìa đời và đang tái sinh, kẻ hèn kém, bậc cao quý, người xinh đẹp, kẻ xấu xí, người đi đến cõi vui, kẻ đi đến cõi khổ. Ta hiểu rõ các chúng sinh ấy tùy theo nghiệp mà đi: 'Những chúng sinh này đã làm ác nơi thân, nơi lời, nơi ý, đã phỉ báng các bậc thánh, đã mang tà kiến và hành theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, chúng đã sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh kia đã làm thiện nơi thân, nơi lời, nơi ý, không phỉ báng các bậc thánh, đã mang chánh kiến và hành theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, chúng đã sinh vào cõi lành, cõi trời.' Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá tầm mắt của người, ta thấy các chúng sinh đang lìa đời và đang tái sinh, và ta hiểu rõ các chúng sinh ấy tùy theo nghiệp mà đi.

Bởi vì, này Vaccha, do các lậu hoặc đã đoạn tận, ta tự mình thắng tri và chứng ngộ ngay trong đời này, rồi chứng đạt và an trú sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng tuệ, cả hai đều không còn lậu hoặc.

Này Vaccha, nếu trả lời rằng: 'Sa-môn Gotama có ba minh', thì đó là nói đúng lời ta dạy, không xuyên tạc ta bằng điều không thật, giải thích đúng theo Pháp, và không ai có thể căn cứ vào Pháp mà chê trách được."

Khi nghe vậy, du sĩ Vacchagotta nói với Đức Thế Tôn:

"Thưa ngài Gotama, có người tại gia nào, chưa từ bỏ dây trói của đời sống tại gia, mà chấm dứt được khổ khi thân hoại mạng chung không?"

[Chú thích: Vacchagotta dùng chữ dây trói của đời sống tại gia để chỉ sự dính mắc bên trong vào đời sống tại gia, thứ không mất đi chỉ vì đã xuất gia. Nên hiểu đây là sự trói buộc trong tâm, không phải dấu hiệu bên ngoài của người sống tại gia.]

"Này Vaccha, không có người tại gia nào chưa từ bỏ dây trói của đời sống tại gia mà chấm dứt được khổ khi thân hoại mạng chung."

"Nhưng thưa ngài Gotama, có người tại gia nào chưa từ bỏ dây trói của đời sống tại gia mà được sinh lên cõi trời khi thân hoại mạng chung không?"

"Này Vaccha, không phải chỉ một trăm người, không phải hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà số người tại gia chưa từ bỏ dây trói của đời sống tại gia mà được sinh lên cõi trời khi thân hoại mạng chung còn nhiều hơn thế nữa."

"Thưa ngài Gotama, có du sĩ Ājīvaka nào chấm dứt được khổ khi thân hoại mạng chung không?"

"Này Vaccha, không có du sĩ Ājīvaka nào chấm dứt được khổ khi thân hoại mạng chung."

"Nhưng thưa ngài Gotama, có du sĩ Ājīvaka nào được sinh lên cõi trời khi thân hoại mạng chung không?"

"Này Vaccha, trong chín mươi mốt kiếp tính từ nay mà ta nhớ lại được, ta không thấy một du sĩ Ājīvaka nào được sinh lên cõi trời, trừ một người;

[Chú thích: Con số chín mươi mốt kiếp ấy ứng với thời của Đức Thế Tôn Vipassī, theo DN 14.]

và chính vị ấy là người chủ trương có nghiệp, chủ trương có hành động."

[Chú thích: Như vậy là bác bỏ giáo lý căn bản của cả Gosāla lẫn Pūraṇa Kassapa, hai vị thầy của phái Ājīvaka được nói trong DN 2.]

"Nếu vậy thì thưa ngài Gotama, cõi của giáo phái ấy trống không, ngay cả một người được sinh lên cõi trời cũng không có?"

[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn nói về phái Ājīvaka, những người phủ nhận nhân quả đạo đức, chứ không nói chung về mọi giáo phái khác.]

"Đúng vậy, này Vaccha, cõi của giáo phái ấy trống không, ngay cả một người được sinh lên cõi trời cũng không có."

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Du sĩ Vacchagotta hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Vacchagotta về Tam Minh, bài thứ nhất, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →