Trường Bộ Kinh · bài 6/34
Kinh Mahāli
Mahāli Sutta
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này ngắn, và nó có hai nửa gần như không liên quan gì đến nhau. Nửa đầu là một câu chuyện về thần thông. Nửa sau là một cuộc đối thoại về hồn và thân. Chỗ nối là một câu hỏi rất đời: "Nếu ông thấy được cảnh trời, sao ông không nghe được tiếng trời?"
Chuyện xảy ra trước
Đức Thế Tôn đang ở Vesālī, trong Đại Lâm, tại giảng đường mái nhọn. Mấy sứ giả bà-la-môn từ Kosala và Magadha đang có việc ở Vesālī, nghe danh Ngài nên kéo đến xin gặp.
Thị giả lúc ấy là ngài Nāgita. Các sứ giả đến hỏi, và Nāgita đáp gọn: "Chưa phải lúc gặp Đức Thế Tôn; Ngài đang nhập thất." Họ ngồi xuống một bên chờ, tự nhủ: "Chỉ khi nào gặp được ngài Gotama thì chúng ta mới đi."
Rồi Oṭṭhaddha người Licchavi, dẫn theo một đoàn Licchavi đông đảo, cũng đến. Cùng một câu hỏi, cùng một câu đáp. Oṭṭhaddha cũng ngồi xuống chờ.
Cuối cùng sa-di Sīha đến thưa với Nāgita: những người này đã chờ lâu, họ từ xa đến, mong được gặp. Nāgita bảo: "Vậy thì Sīha, ông tự vào thưa với Đức Thế Tôn đi." Sīha vào thưa. Đức Thế Tôn bảo: "Vậy thì Sīha, trải chỗ ngồi dưới bóng giảng đường." Rồi Ngài ra, ngồi đó.
Câu hỏi của Mahāli
Oṭṭhaddha — tức Mahāli — đảnh lễ rồi ngồi xuống và kể một chuyện.
Ông ta có người quen tên Sunakkhatta. Sunakkhatta từng ở bên Đức Thế Tôn ba năm. Và Sunakkhatta nói: "Tôi thấy được những cảnh trời đẹp đẽ, khả ái, làm phát khởi lòng ham muốn — nhưng tôi không nghe được tiếng trời."
Mahāli hỏi: tiếng trời ấy có thật hay không?
Đức Thế Tôn đáp: có thật. Nhưng Sunakkhatta không nghe được. Và Ngài giải thích tại sao.
Định một phía
Đây là chỗ khó nhất của bài, và cũng là chỗ hay nhất.
Có người tu định với một mục đích duy nhất: để thấy. Người ấy thấy được cảnh trời, nhưng không nghe được tiếng trời. Có người tu định với một mục đích duy nhất: để nghe. Người ấy nghe được tiếng trời, nhưng không thấy được cảnh trời. Có người tu định để cả hai. Người ấy thấy và nghe cả hai.
Pali gọi đó là ekaṁsa — một phía. Cái định ấy không phải là định toàn vẹn; nó là định được vận hành theo một hướng. Và vì nó chỉ mở một cửa, nên chỉ có một luồng đi qua.
Nói cách khác: Sunakkhatta không phải kẻ nói dối, cũng không phải kẻ ngu. Ông ta thật sự thấy cảnh trời. Nhưng cái định mà ông ta có chỉ đủ để thấy, không đủ để nghe. Câu trả lời của Đức Thế Tôn không phủ nhận kinh nghiệm của ông ta — nó giải thích giới hạn của kinh nghiệm ấy.
Rồi Ngài lặp lại khuôn ấy cho cả bốn phương, rồi trên, dưới, ngang: đông, nam, tây, bắc, trên, dưới, ngang. Mỗi hướng, ba lần: một lần chỉ để thấy, một lần chỉ để nghe, rồi một lần cả hai. Cả khối ấy lặp đi lặp lại gần như y nguyên — và đó chính là chủ ý: cái gì đã đúng ở phương đông thì cũng đúng ở phương nam.
Cú lật
Mahāli nghe xong thì hỏi một câu mà ai cũng sẽ hỏi:
"Chắc chắn các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới thời Đức Thế Tôn là để chứng được cái định như thế?"
Và Đức Thế Tôn đáp: không phải.
"Này Mahāli, còn có những thứ cao hơn thế nữa. Chính vì những thứ ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới thời ta."
Rồi Ngài kể bốn thứ: quả Nhập lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai, quả A-la-hán.
Cái lật nằm ở đây. Mahāli hỏi về thần thông, và được trả lời rằng thần thông có thật — nhưng nó chỉ là phương tiện. Người ta không xuất gia để thấy cảnh trời. Người ta xuất gia để chấm dứt khổ. Và con đường để chấm dứt khổ thì không cần thần thông: đó là Bát chánh đạo, tám chi phần bình thường, ai cũng đi được.
Nửa sau: hồn và thân
Đến đây bài kinh nhảy sang một buổi khác, ở một nơi khác.
Tại Kosambī, trong tịnh xá của Ghosita. Hai du sĩ tên Muṇḍiya và Jāliya đến hỏi Đức Thế Tôn một câu mà cả Ấn Độ thời ấy đang tranh cãi: "Thân và hồn là một thứ, hay là hai thứ khác nhau?"
Đức Thế Tôn không trả lời trực tiếp. Ngài dẫn họ đi qua từng chặng, và sau mỗi chặng, Ngài hỏi lại:
"Khi một tỳ-kheo biết và thấy như thế, có thích hợp để nói về vị ấy rằng 'thân và hồn là một', hay rằng 'thân và hồn là hai thứ khác nhau' không?"
Hai du sĩ đáp: thích hợp — nghĩa là, đứng ở chỗ ấy thì nói thế cũng được.
Và cứ thế qua bốn tầng thiền-na, rồi qua từng thắng trí: ba lượt đầu họ đáp "thích hợp". Đến lượt cuối — khi vị ấy đã đoạn tận lậu hoặc, đã biết "không còn tái sinh nữa" — họ đáp: không thích hợp.
Đó là chỗ cái lập luận đóng lại.
Và Đức Thế Tôn nói: "Ta biết và thấy như thế. Nhưng ta không nói: 'thân và hồn là một', cũng không nói: 'thân và hồn là hai thứ khác nhau'."
Đó là toàn bộ câu trả lời. Không phải "không biết", không phải "cả hai đều đúng", mà là: cách hỏi ấy không còn áp dụng được cho người đã thấy.
Vì sao bài này đáng đọc
Vì nó là một bài học về giới hạn của kinh nghiệm.
Sunakkhatta thấy cảnh trời thật. Ông ta kết luận từ cái thấy ấy rằng tiếng trời không có — hoặc rằng Đức Thế Tôn nói điều không đúng. Nhưng cái ông ta thiếu không phải lòng tin, mà là một phương tiện khác.
Và hai du sĩ Muṇḍiya, Jāliya cũng vậy: họ hỏi một câu mà họ tưởng là câu hỏi về thực tại, nhưng nó chỉ là câu hỏi về cách họ đang nhìn. Đức Thế Tôn không đổi câu trả lời; Ngài đổi chỗ đứng của người hỏi.
Cấu trúc
| Mục | Nội dung | Số đoạn |
|---|---|---|
| 2 | Oṭṭhaddha người Licchavi; câu hỏi về Sunakkhatta | 21 |
| 2.1 | Định một phía: thấy mà không nghe, nghe mà không thấy, cả hai | 46 |
| 2.2 | Bốn quả vị thánh — "những thứ cao hơn thế" | 11 |
| 2.3 | Bát chánh đạo — con đường để chứng bốn quả ấy | 7 |
| 2.4 | Hai vị xuất gia: Muṇḍiya và Jāliya hỏi về hồn và thân | 50 |
Con số
| Nhân vật chính | Mahāli (Oṭṭhaddha), Nāgita, Sīha, Sunakkhatta, Muṇḍiya, Jāliya |
| Lần lặp công thức "thân và hồn là một / là hai thứ khác nhau" | hơn 20 |
| Trang PTS | i.150–158 |
Cách đọc
Nếu chỉ có mười phút: đọc mục 2.1 (định một phía) và mục 2.2–2.3 (cú lật). Đó là phần còn lại sau khi lớp vỏ thần thông bị bóc đi.
Nếu muốn hiểu trọn: đọc hết, kể cả mục 2.4. Mục 2.4 chính là toàn bộ Kinh Jāliya (bài 7) — nghĩa là bài 7 chép lại đúng khối văn này. Đọc ở đây rồi thì đến bài 7 sẽ thấy quen.
Mục 1 khá dài và có vẻ chỉ là thủ tục: người ta đến, bị từ chối, chờ, rồi được gặp. Nhưng nó dựng đúng cái khung mà bài kinh cần: một đám đông chờ đợi, một vị thầy đang nhập thất, và một câu hỏi chỉ được hỏi sau khi mọi thứ đã yên.
Mục lục bài kinh
1. Các sứ giả bà-la-môn
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-li), trong Đại Lâm, tại giảng đường mái nhọn.
[Chú thích: Vesālī nằm cách Pāṭaliputra (Patna) khoảng 60 km về phía bắc, và là thành phố lớn nhất trong liên bang Vajji — một liên minh cộng hoà ở vùng phía bắc sông Hằng.]
Lúc bấy giờ, nhiều sứ giả bà-la-môn xứ Kosala và Magadha đang cư ngụ tại Vesālī vì một công việc nào đó.
[Chú thích: Ở các kinh trước của chương này, ta đã thấy tin tức về Đức Thế Tôn lan đi thế nào, rõ ràng là sau khi Pokkharasāti quy phục; đây là một ví dụ về kiểu gặp gỡ mà tin ấy được đem ra bàn. Cụm "sứ giả bà-la-môn" (brāhmaṇadūtā) không thấy xuất hiện ở nơi khác và chú giải cũng không giải thích: có lẽ họ là sứ giả của các vua gặp nhau ở một nơi trung lập, hoặc là sứ giả của cộng đồng bà-la-môn nước mình.]
Các sứ giả bà-la-môn xứ Kosala và Magadha nghe rằng:
"Thưa quý vị, sa-môn Gotama, người con dòng Sakya (Thích-ca), đã xuất gia từ dòng Sakya, đang trú tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại giảng đường mái nhọn.
[Chú thích: Tu viện này là nơi trú xứ quen thuộc của Đức Thế Tôn gần Vesālī, và xuất hiện nhiều lần trong kinh điển.]
Danh tiếng tốt đẹp về ngài Gotama đã lan truyền như sau:
'Ngài là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.'
Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí thế giới này — thế giới của chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, của dân chúng cùng hàng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người — rồi công bố điều ấy cho người khác.
Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú; Ngài công bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và trong sạch.
Được gặp những bậc A-la-hán như vậy thật là tốt."
Rồi các sứ giả bà-la-môn xứ Kosala và Magadha đi đến giảng đường mái nhọn trong Đại Lâm.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgita đang là thị giả của Đức Thế Tôn.
Rồi các sứ giả bà-la-môn xứ Kosala và Magadha đi đến chỗ Tôn giả Nāgita. Đến nơi, họ thưa với Tôn giả Nāgita:
"Thưa ngài Nāgita, hiện giờ ngài Gotama đang trú ở đâu?
Vì chúng tôi muốn được gặp ngài Gotama."
"Này các hiền giả, chưa phải lúc được gặp Đức Thế Tôn; Ngài đang nhập thất."
[Chú thích: Có những lúc Đức Thế Tôn nhập thất và dặn không ai đến gặp ngoài người đem vật thực; Ngài cũng có thói quen vào sâu trong rừng để thiền định. Nhưng lần này Ngài chỉ đang ở trong một chòi gần đó, nên có vẻ Nāgita đã quá nhiệt tình.]
Rồi các sứ giả bà-la-môn xứ Kosala và Magadha ngồi ngay tại chỗ ấy, sang một bên, với ý nghĩ:
"Chúng tôi chỉ đi khi đã được gặp ngài Gotama."
2. Oṭṭhaddha người Licchavi
Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với đại chúng Licchavi đông đảo cũng đi đến chỗ Tôn giả Nāgita tại giảng đường mái nhọn trong Đại Lâm. Đến nơi, ông đảnh lễ Tôn giả Nāgita rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Oṭṭhaddha người Licchavi thưa với Tôn giả Nāgita:
[Chú thích: Oṭṭhaddha nghĩa là "môi thỏ", rõ ràng là một biệt danh. Trong suốt bài, Đức Thế Tôn gọi ông bằng tên riêng là Mahāli, và dưới tên ấy ta lại gặp ông trong SN 11.13, SN 22.60 và AN 10.47. Người Licchavi, tên gọi bắt nguồn từ chữ "gấu", là thế lực chi phối liên bang Vajji; bản Mahāsaṅgīti chép dạng giống đực số ít ở đây là licchavī, trong khi thông thường là licchavi.]
"Thưa ngài Nāgita, hiện giờ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, đang trú ở đâu?
Vì chúng tôi muốn được gặp Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác."
"Thưa ngài Mahāli, chưa phải lúc được gặp Đức Thế Tôn; Ngài đang nhập thất."
Oṭṭhaddha người Licchavi cũng ngồi ngay tại chỗ ấy, sang một bên, với ý nghĩ:
"Tôi chỉ đi khi đã được gặp Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác."
Rồi sa-di Sīha đi đến chỗ Tôn giả Nāgita. Đến nơi, vị ấy đảnh lễ Tôn giả Nāgita rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, sa-di Sīha thưa với Tôn giả Nāgita:
[Chú thích: Không thấy vị Sīha này ở chỗ nào khác.]
"Thưa ngài Kassapa, nhiều sứ giả bà-la-môn xứ Kosala và Magadha đã đến đây để gặp Đức Thế Tôn; Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với đại chúng Licchavi đông đảo cũng đã đến đây để gặp Đức Thế Tôn. Thưa ngài Kassapa, lành thay, mong cho những người này được gặp Đức Thế Tôn."
[Chú thích: Kassapa là tên dòng họ của Nāgita; có thể ông xuất thân từ giới bà-la-môn, hoặc thuộc giai cấp vua chúa mà vị tế sư của gia tộc là người họ Kassapa.]
"Vậy thì, này Sīha, chính con hãy thưa với Đức Thế Tôn."
[Chú thích: Khi cố bảo vệ Đức Thế Tôn, Nāgita đã cứng nhắc và thiếu lòng thương. Được Sīha góp ý phải lẽ, ông lại đáp một cách kém lịch thiệp, đẩy trách nhiệm sang một vị nhỏ tuổi hơn. Không lạ gì khi sau này Ānanda thay ông làm thị giả.]
Sa-di Sīha đáp "Dạ vâng, thưa ngài" rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, vị ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, sa-di Sīha thưa với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, nhiều sứ giả bà-la-môn xứ Kosala và Magadha đã đến đây để gặp Ngài; Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với đại chúng Licchavi đông đảo cũng đã đến đây để gặp Ngài.
Bạch Thế Tôn, lành thay, mong cho những người này được gặp Ngài."
"Vậy thì, này Sīha, con hãy trải chỗ ngồi dưới bóng giảng đường."
Sa-di Sīha đáp "Dạ vâng, bạch Thế Tôn" rồi trải chỗ ngồi dưới bóng giảng đường.
Rồi Đức Thế Tôn ra khỏi giảng đường, ngồi xuống chỗ ngồi đã trải dưới bóng giảng đường.
[Chú thích: Đến nay, các vị tỳ-kheo tu trong rừng vẫn thường tiếp khách ở một chỗ như vậy.]
Rồi các sứ giả bà-la-môn xứ Kosala và Magadha đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, họ chào hỏi Ngài.
[Chú thích: Đây là lần cuối cùng ta nghe về các sứ giả này.]
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và câu chuyện thân mật, họ ngồi sang một bên.
Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với đại chúng Licchavi đông đảo cũng đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi sang một bên. Ngồi sang một bên, Oṭṭhaddha người Licchavi thưa với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, mấy ngày trước đây, Sunakkhatta, người con dòng Licchavi, đã đến chỗ tôi và nói với tôi rằng:
[Chú thích: Sunakkhatta xuất hiện trong nhiều kinh, qua đó có thể theo dõi hành trình của ông: ở MN 105 ông gặp Đức Thế Tôn và phát sinh niềm tin; ở đây ông bắt đầu bất mãn; đến DN 24 ông từ bỏ Đức Thế Tôn; và trong MN 12, sau khi hoàn tục, ông công kích Ngài.]
'Thưa ngài Mahāli, từ khi tôi sống nương tựa Đức Thế Tôn đến nay chưa lâu, mới có ba năm, mà tôi đã thấy được những cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, còn những tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm thì tôi không nghe được.'
[Chú thích: Đây là "thiên nhãn" và "thiên nhĩ". Dù nằm trong phần tu tập tuần tự, chúng không phải mục đích của đời sống phạm hạnh; chúng không cần thiết nhưng có thể hữu ích, vì hé lộ những phương diện của hiện hữu mà ý thức thường không chạm tới. Nhưng Sunakkhatta rõ ràng chỉ muốn có những trải nghiệm siêu cảm thọ dễ chịu.]
Bạch Thế Tôn, phải chăng những tiếng trời ấy — dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm — vẫn hiện hữu mà Sunakkhatta, người con dòng Licchavi, không nghe được, hay chúng không hề hiện hữu?"
2.1. Định một phía
"Này Mahāli, những tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm ấy quả thật là có, chứ không phải là không có; nhưng Sunakkhatta, người con dòng Licchavi, đã không nghe được."
[Chú thích: Lời ấy hẳn đã làm Sunakkhatta bị tổn thương lòng tự trọng.]
"Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà Sunakkhatta, người con dòng Licchavi, đã không nghe được tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm ấy, dù chúng quả thật là có, chứ không phải là không có?"
"Ở đây, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở phương đông để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
[Chú thích: Cách mô tả việc tu định này là duy nhất trong kinh điển Pali. Đức Thế Tôn trả lời thẳng câu hỏi của Mahāli, dù tiền đề của câu hỏi cho thấy sự hiểu biết của Sunakkhatta còn hạn hẹp. Khi người hỏi thật lòng, trả lời thẳng là cách thể hiện sự tôn trọng và tạo dựng niềm tin.]
Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở phương đông để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm,
thì ở phương đông, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Vì sao vậy?
Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở phương đông để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở phương nam để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở phương nam để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương nam, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở phương nam để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở phương tây để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở phương tây để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương tây, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở phương tây để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở phương bắc để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở phương bắc để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương bắc, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở phương bắc để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở trên, dưới, ngang để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở trên, dưới, ngang để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm,
thì ở trên, dưới, ngang, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Vì sao vậy?
Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở trên, dưới, ngang để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Ở đây, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở phương đông để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở phương đông để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm,
thì ở phương đông, vị ấy nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Vì sao vậy?
Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở phương đông để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở phương nam để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở phương nam để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương nam, vị ấy nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở phương nam để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở phương tây để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở phương tây để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương tây, vị ấy nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở phương tây để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở phương bắc để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở phương bắc để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương bắc, vị ấy nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở phương bắc để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định một phía ở trên, dưới, ngang để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Khi vị ấy đã tu tập định một phía ở trên, dưới, ngang để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm,
thì ở trên, dưới, ngang, vị ấy nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, mà không thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Vì sao vậy?
Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định một phía ở trên, dưới, ngang để nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, chứ không phải để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Ở đây, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định cả hai phía ở phương đông để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Khi vị ấy đã tu tập định cả hai phía ở phương đông để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm,
thì ở phương đông, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Vì sao vậy?
Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định cả hai phía ở phương đông để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định cả hai phía ở phương nam để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định cả hai phía ở phương nam để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương nam, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định cả hai phía ở phương nam để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định cả hai phía ở phương tây để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định cả hai phía ở phương tây để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương tây, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định cả hai phía ở phương tây để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định cả hai phía ở phương bắc để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Khi vị ấy đã tu tập định cả hai phía ở phương bắc để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì ở phương bắc, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm. Vì sao vậy? Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định cả hai phía ở phương bắc để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Lại nữa, này Mahāli, một vị tỳ-kheo tu tập định cả hai phía ở trên, dưới, ngang để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Khi vị ấy đã tu tập định cả hai phía ở trên, dưới, ngang để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm,
thì ở trên, dưới, ngang, vị ấy thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm.
Vì sao vậy?
Vì này Mahāli, với một vị tỳ-kheo đã tu tập định cả hai phía ở trên, dưới, ngang để thấy cảnh trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, và nghe tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm, thì sự việc quả đúng là như vậy.
Này Mahāli, đây là nhân, đây là duyên khiến Sunakkhatta, người con dòng Licchavi, đã không nghe được tiếng trời dễ chịu, gợi dục, đáng say đắm ấy, dù chúng quả thật là có, chứ không phải là không có."
"Bạch Thế Tôn, các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ngài hẳn là vì chứng đạt các cách tu tập định ấy?"
"Không phải vậy, này Mahāli, các tỳ-kheo không sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của ta vì chứng đạt các cách tu tập định ấy.
[Chú thích: Sau khi trả lời thẳng câu hỏi ban đầu, Đức Thế Tôn đặt lại vấn đề theo lời thỉnh cầu.]
Còn có những pháp khác, này Mahāli, vi diệu hơn và cao quý hơn, mà vì chứng đạt chúng, các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của ta."
2.2. Bốn quả vị thánh
"Bạch Thế Tôn, những pháp vi diệu hơn và cao quý hơn ấy là những pháp nào, mà vì chứng đạt chúng, các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ngài?"
Này Mahāli, ở đây một tỳ-kheo, do đoạn tận ba kiết sử, trở thành bậc Nhập lưu, không còn phải sinh vào nẻo khổ, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ.
[Chú thích: Đây là lần đầu tiên kinh mô tả bốn tầng quả vị giác ngộ, một chủ đề lặp lại khắp Kinh Tạng Pali. Ba kiết sử bị đoạn trừ ở đây là thân kiến, hoài nghi, và bám chặt vào giới cấm cùng nghi lễ.]
Này Mahāli, đây cũng là một pháp vi diệu hơn và cao quý hơn, mà vì chứng đạt pháp ấy, các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của ta.
Lại nữa, này Mahāli, một tỳ-kheo, do đoạn tận ba kiết sử và vì tham, sân, si đã trở nên mỏng manh, trở thành bậc Nhất lai; chỉ còn trở lại thế gian này một lần nữa, rồi làm cho khổ chấm dứt.
Này Mahāli, đây cũng là một pháp vi diệu hơn và cao quý hơn, mà vì chứng đạt pháp ấy, các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của ta.
Lại nữa, này Mahāli, một tỳ-kheo, do đoạn tận năm kiết sử thấp, tái sinh bằng cách hóa sinh; ngay tại đó vị ấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại từ thế giới ấy.
[Chú thích: Năm kiết sử thấp là ba kiết sử vừa nêu, cộng thêm dục ái và sân; đây là bậc Bất lai, người sống đời cuối cùng trong một cõi Phạm Thiên cao, và Chāndogya Upaniṣad 8.15.1 cũng nói người sống đúng đắn thì "đạt cõi Phạm Thiên và không trở lại nữa". "Hóa sinh" là sinh ra không qua bào thai, như phần lớn chư thiên.]
Này Mahāli, đây cũng là một pháp vi diệu hơn và cao quý hơn, mà vì chứng đạt pháp ấy, các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của ta.
Lại nữa, này Mahāli, một tỳ-kheo, do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng ngộ bằng thắng trí ngay trong đời này, và an trú vào sự giải thoát của tâm cùng sự giải thoát bằng tuệ, không còn lậu hoặc.
[Chú thích: Đây là bậc A-la-hán, bậc xứng đáng được cúng dường và đã hoàn thiện. Ở chỗ khác, kinh nói vị ấy đoạn trừ năm kiết sử cao: tham muốn tái sinh vào cõi sắc giới, tham muốn tái sinh vào cõi vô sắc, mạn, trạo cử và vô minh.]
Này Mahāli, đây cũng là một pháp vi diệu hơn và cao quý hơn, mà vì chứng đạt pháp ấy, các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của ta.
Này Mahāli, đó là những pháp vi diệu hơn và cao quý hơn, mà vì chứng đạt chúng, các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của ta.
2.3. Bát chánh đạo
"Bạch Thế Tôn, có con đường nào, có cách thực hành nào để chứng đạt những pháp ấy không?"
Này Mahāli, có con đường, có cách thực hành để chứng đạt những pháp ấy.
"Bạch Thế Tôn, con đường ấy là gì, cách thực hành ấy là gì, để chứng đạt những pháp ấy?"
Đó chính là Bát chánh đạo.
[Chú thích: Đây là giáo lý nền tảng nhất của Đức Thế Tôn về con đường tu tập, được Ngài tuyên bố trong bài giảng đầu tiên (SN 56.11). Đoạn văn này còn xuất hiện ở các bài 8, 19 và 22 của Trường Bộ Kinh.]
Đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
[Chú thích: Tám chi phần này khớp với con đường tu tập tuần tự: nghe Pháp sinh chánh kiến; ý định lìa bỏ sinh chánh tư duy; giới gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng; sống nơi vắng vẻ và hộ trì các giác quan là chánh tinh tấn; phát triển thiền định là chánh niệm; chứng bốn tầng thiền-na là chánh định. Khi chứng ngộ Pháp, vòng tròn khép lại: chánh kiến khái niệm trở thành tuệ giác giải thoát. Có khi người ta thêm hai chi phần nữa — chánh tri và chánh giải thoát.]
Này Mahāli, đó là con đường, đó là cách thực hành để chứng đạt những pháp ấy.
2.4. Hai vị xuất gia
Này Mahāli, một lần nọ ta đang trú tại Kosambī, trong tịnh xá của Ghosita.
[Chú thích: Đây là đoạn Đức Thế Tôn kể lại những sự việc được ghi trong bài 7, Kinh Jāliya.]
Rồi có hai người xuất gia:
du sĩ Muṇḍiya và Jāliya, học trò của vị khổ hạnh dùng bát gỗ, đã đi đến chỗ ta. Đến rồi, họ chào hỏi ta.
[Chú thích: Muṇḍiya nghĩa là "người đầu trọc"; tên này được chép thành Mandissa trong một số bản thảo, và nhân vật chỉ xuất hiện ở đoạn này. Jāliya trở lại trong bài 24, nơi kể những chuyện rối ren sau khi Sunakkhatta hoàn tục. Ở đó, ông đứng về phía Đức Thế Tôn chống lại kẻ hoang tưởng Pāṭikaputta mà Sunakkhatta sùng mộ.]
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và câu chuyện thân mật, họ đứng sang một bên. Đứng sang một bên rồi, hai người xuất gia ấy nói với ta:
"Thưa ngài Gotama, thân và hồn là một, hay thân và hồn là hai thứ khác nhau?"
[Chú thích: "Hồn" (jīva) là cách nói được giới sa-môn ưa dùng, khác với "tự ngã" (attā) của giới bà-la-môn. Đức Thế Tôn bác bỏ cả hai như những quan niệm siêu hình về tự ngã, vì chúng đặt ra sự tồn tại tuyệt đối và thường còn của những thực thể không thể chứng nghiệm được. Cách lặp đại từ chỉ định trong câu hỏi nhấn mạnh một sự đồng nhất tuyệt đối.]
"Vậy thì, này các ông, hãy nghe và chú tâm cho kỹ, ta sẽ nói."
Hai người xuất gia ấy đáp lại ta: "Vâng, thưa ngài."
Ta nói như thế này:
Này các ông, ở đây có một Như Lai xuất hiện trong đời, là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn. Ngài tự mình chứng ngộ bằng thắng trí rồi loan báo cho thế gian này biết; Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ khéo léo, và chỉ ra đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh. Rồi một gia chủ, con trai của một gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó, khi nghe Pháp ấy, khởi lòng tin nơi Như Lai, bỏ lại tài sản và thân quyến lớn hay nhỏ, cạo bỏ râu tóc, mặc y màu vàng nghệ, rời bỏ đời sống tại gia mà xuất gia sống đời không nhà. Sau khi xuất gia, vị ấy sống tự chế ngự theo giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và chỗ đi lại thích hợp, thấy sự nguy hiểm ngay trong những lỗi nhỏ như hạt bụi, thọ nhận và học tập các học giới; thành tựu việc làm thiện nơi thân và lời nói; mưu sinh trong sạch, đầy đủ giới hạnh.
[Chú thích: (của người dịch) Bản Pali ở đây dùng peyyāla để chỉ trọn khối văn về con đường tu tập tuần tự, trùng nguyên với bài 2, Kinh Sa-môn Quả; bản dịch giữ đủ mọi chặng nhưng viết gọn lại. Muốn đọc bản đầy đủ xin xem bài 2, mục 4.3.]
Này các ông, đó là cách một tỳ-kheo thành tựu giới.
Thành tựu khối giới cao thượng ấy, vị ấy cảm nhận niềm vui không lỗi lầm ngay trong lòng mình; vị ấy hộ trì các giác quan, sống với chánh niệm và tỉnh giác, biết đủ, rồi tìm đến một chỗ vắng vẻ, từ bỏ năm triền cái — dục tham, sân hận, hôn trầm và thụy miên, trạo cử và hối quá, hoài nghi — và ly khai các dục lạc, ly khai các pháp bất thiện.
Vị ấy chứng và trú vào sơ thiền — tầng thiền thứ nhất — có tầm, có tứ, với niềm vui và sự dễ chịu sinh ra từ sự ly khai.
Này các ông, khi một tỳ-kheo biết và thấy như thế, có thích hợp để nói về vị ấy rằng:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau"?
Thưa ngài, với một tỳ-kheo biết và thấy như thế, thì thích hợp để nói về vị ấy rằng:
[Chú thích: Rõ ràng hai vị tin rằng kinh nghiệm thiền-na sẽ đem lại tuệ giác về vấn đề này. Nhưng câu hỏi đã hàm sẵn một giả định: rằng hồn là có thật, và điều cần xác định chỉ là quan hệ của nó với thân.]
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau".
Nhưng này các ông, ta biết và thấy như thế.
Thế nhưng ta không nói:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau".
Rồi vị ấy chứng và trú vào nhị thiền — tầng thiền thứ hai — có sự an tĩnh nội tâm, có nhất tâm, không tầm không tứ, với niềm vui và sự dễ chịu sinh ra từ định.
Rồi vị ấy chứng và trú vào tam thiền — tầng thiền thứ ba — sống với tâm xả, có chánh niệm và tỉnh giác, và tự mình cảm nhận nơi thân sự dễ chịu mà các bậc thánh vẫn nói đến: "Vị ấy sống với tâm xả, có chánh niệm, an trú trong sự dễ chịu."
Rồi vị ấy chứng và trú vào tứ thiền — tầng thiền thứ tư — không khổ cũng không vui, với tâm xả và chánh niệm hoàn toàn trong sạch.
[Chú thích: (của người dịch) Bốn tầng thiền-na ở đây được viết gọn, chỉ giữ công thức cốt lõi; các ví dụ minh họa và phần mô tả đầy đủ nằm ở bài 2, mục 4.3.2.5 đến 4.3.2.8.]
Này các ông, khi một tỳ-kheo biết và thấy như thế, có thích hợp để nói về vị ấy rằng:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau"?
Thưa ngài, với một tỳ-kheo biết và thấy như thế, thì thích hợp để nói về vị ấy rằng:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau".
Nhưng này các ông, ta biết và thấy như thế.
Thế nhưng ta không nói:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau".
Vị ấy hướng tâm và đưa tâm về phía tri kiến, rồi hiểu rõ: "Đây là thân của ta: có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sinh ra, được bồi đắp bằng cơm và cháo, mang bản chất vô thường, dễ bị bào mòn, chà xát, rạn nứt và tan hoại; và thức này của ta thì nương vào đây, gắn chặt vào đây."
Này các ông, khi một tỳ-kheo biết và thấy như thế, có thích hợp để nói về vị ấy rằng:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau"?
Rồi với mỗi thắng trí tiếp theo — các thần thông (kể cả thân do tâm tạo), thiên nhĩ, biết tâm người khác, nhớ lại các đời trước, thiên nhãn — vị ấy biết và thấy như thế; câu hỏi ấy lại được nêu lên như vậy, và mỗi lần hai người xuất gia lại đáp là thích hợp.
[Chú thích: (của người dịch) Các thắng trí còn lại — các thần thông, rồi thiên nhĩ, biết tâm người khác, nhớ đời trước, thiên nhãn — được kể tên ở đây; bản đầy đủ nằm ở bài 2, mục 4.3.3.]
Thưa ngài, với một tỳ-kheo biết và thấy như thế, thì thích hợp để nói về vị ấy rằng:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau".
Nhưng này các ông, ta biết và thấy như thế.
Thế nhưng ta không nói:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau".
Vị ấy biết rõ: "Không còn tái sinh nữa."
[Chú thích: (của người dịch) Đây là kết luận của tuệ giác đoạn tận các lậu hoặc, tuệ giác đưa đến quả A-la-hán; phần mô tả đầy đủ nằm ở bài 2, mục 4.3.3.8.]
Này các ông, khi một tỳ-kheo biết và thấy như thế, có thích hợp để nói về vị ấy rằng:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau"?
Thưa ngài, với một tỳ-kheo biết và thấy như thế, thì không thích hợp để nói về vị ấy rằng:
[Chú thích: Cho đến đây, chưa có kinh nghiệm nào trong những kinh nghiệm vừa kể là hoàn toàn không thể dung hợp với ý niệm về một tự ngã siêu hình thường còn; những người tu hành ngoài giáo pháp này, trước và sau thời Đức Thế Tôn, vẫn có thể chứng được những trạng thái ấy. Nhưng họ thường diễn giải chúng theo niềm tin sẵn có, và như vậy càng củng cố lý thuyết về tự ngã của mình. Khi đối diện với sự chấm dứt hoàn toàn của tái sinh, thì không lý thuyết nào về một tự ngã thường còn đứng vững được.]
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau".
Nhưng này các ông, ta biết và thấy như thế.
Thế nhưng ta không nói:
"thân và hồn là một" hay "thân và hồn là hai thứ khác nhau".
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Oṭṭhaddha người Licchavi hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Kinh Mahāli, bài thứ sáu, đến đây là hết.
Bảng thuật ngữ
Nhân vật và địa danh
| Pali | Tiếng Việt | Ghi chú |
|---|---|---|
| Oṭṭhaddha | Oṭṭhaddha | cùng một người với Mahāli; Pali dùng tên này khi nói về đoàn Licchavi |
| Licchavi | Licchavi | bộ tộc trị vì Vesālī |
| Vesālī | Vesālī | kinh đô của người Licchavi |
| Mahāvana | Đại Lâm | khu rừng lớn cạnh Vesālī |
| Kūṭāgārasālā | giảng đường mái nhọn | kūṭāgāra = nhà có nóc nhọn; sālā = giảng đường |
| Nāgita | Nāgita | thị giả của Đức Thế Tôn lúc ấy; Sīha gọi ông là "Kassapa" theo dòng họ |
| Sīha | Sīha | sa-di lúc ấy |
| Sunakkhatta | Sunakkhatta | người từng ở bên Đức Thế Tôn ba năm |
| Muṇḍiya | Muṇḍiya | du sĩ, đến hỏi về hồn và thân |
| Jāliya | Jāliya | học trò của vị khổ hạnh dùng bát gỗ (dārupattika) |
| Ghositārāma | tịnh xá của Ghosita | tại Kosambī |
| Kosambī | Kosambī | |
| Kosala, Magadha | Kosala, Magadha | hai nước lớn thời ấy |
Thiền định và thần thông
| Pali | Tiếng Việt | Ghi chú |
|---|---|---|
| samādhibhāvanā | tu tập định | |
| dibbāni rūpāni | cảnh trời | dibba = thuộc cõi trời |
| dibbāni saddāni | tiếng trời | |
| dassana | sự thấy | |
| savana | sự nghe | |
| jhāna | thiền-na | bốn tầng: sơ, nhị, tam, tứ |
| vitakka, vicāra | tầm, tứ | |
| pīti | hỷ | |
| sukha | lạc | |
| upekkhā | xả | |
| ākāsānañcāyatana | Không vô biên xứ | |
| viññāṇañcāyatana | Thức vô biên xứ | |
| ākiñcaññāyatana | Vô sở hữu xứ | |
| nevasaññānāsaññāyatana | Phi tưởng phi phi tưởng xứ |
Giáo lý
| Pali | Tiếng Việt | Ghi chú |
|---|---|---|
| ariyaphala | quả vị thánh | bốn quả |
| sotāpanna | bậc Nhập lưu | sotāpatti = quả Nhập lưu |
| sakadāgāmī | bậc Nhất lai | |
| anāgāmī | bậc Bất lai | |
| arahant | bậc A-la-hán | |
| saṁyojana | kiết sử | |
| orambhāgiya saṁyojana | năm kiết sử thấp | thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận |
| opapātika | hóa sinh | sinh ra tự nhiên, không qua thai bào |
| avinipātadhamma | không còn khả năng đọa lạc | |
| niyata | nhất định | chắc chắn hướng đến giác ngộ |
| sambodhiparāyaṇa | lấy giác ngộ làm đích | |
| ariyo aṭṭhaṅgiko maggo | Bát chánh đạo | |
| sammādiṭṭhi → sammāsamādhi | chánh kiến → chánh định | giữ đúng thứ tự tám chi |
| cetovimutti | tâm giải thoát | |
| paññāvimutti | tuệ giải thoát | |
| āsava | lậu hoặc | āsavānaṁ khayā = do lậu hoặc được đoạn tận |
| akuppā cetovimutti | tâm giải thoát bất động |
Tranh luận về hồn và thân
| Pali | Tiếng Việt | Ghi chú |
|---|---|---|
| sarīra | thân | |
jīvaṁ taṁ sarīraṁ | thân và hồn là một | công thức cố định, lặp hơn 20 lần |
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ | thân và hồn là hai thứ khác nhau | vế đối |
| pabbajita | người xuất gia | |
| paribbājaka | du sĩ | |
| dārupattika | vị khổ hạnh dùng bát gỗ | |
| antevāsī | học trò, đệ tử | |
| āvuso | này hiền giả | cách gọi giữa các vị xuất gia |
Xưng hô trong bài
| Ai → ai | Tiếng Việt |
|---|---|
| Sīha → Nāgita | "thưa ngài" |
| Sīha → Đức Thế Tôn | "bạch Thế Tôn" |
| Oṭṭhaddha → Đức Thế Tôn | "bạch Thế Tôn" |
| Đức Thế Tôn → Oṭṭhaddha | "này Mahāli"; đại từ "ông" |
| Muṇḍiya, Jāliya → Đức Thế Tôn | "thưa ngài Gotama"; tự gọi "chúng tôi" |
| Đức Thế Tôn → Muṇḍiya, Jāliya | "này các ông"; đại từ "các ông" |
| hai du sĩ → nhau, Đức Thế Tôn → hai du sĩ (trong trích) | "thưa hiền giả" |
Chỗ dễ dịch sai
| Chỗ | Dịch đúng | Dịch sai thường gặp |
|---|---|---|
uttariṁ (12.2) | vi diệu hơn và cao quý hơn | "thượng thừa", "siêu việt" — nghe như một tông phái |
jīvaṁ taṁ sarīraṁ | thân và hồn là một | "linh hồn chính là thân xác" — sai sắc thái khẳng định |
avinipātadhamma | không còn khả năng đọa lạc | "không còn rơi vào ác đạo" — được, nhưng dài |
opapātika | hóa sinh | "tái sinh tự nhiên" — chưa đủ |
dārupattikantevāsī | học trò của vị khổ hạnh dùng bát gỗ | "học trò bát gỗ" — mất nghĩa |
sandiṭṭhika / akālika (nếu gặp) | thấy ngay / không qua thời gian | đừng dịch "hiện tại" |
Nguồn tham khảo
Nguyên bản
| Ấn bản dùng để dịch | Bản Pali trên SuttaCentral: <https://suttacentral.net/dn6/pli/ms> |
| Bản dịch Anh tham chiếu | Bhikkhu Sujato, With Mahāli: <https://suttacentral.net/dn6/en/sujato> |
| Chú thích | Chú thích của Bhikkhu Sujato (CC0), dịch lại thành [Chú thích: …] |
Bản dịch tiếng Anh và chú thích của Bhikkhu Sujato đã được hiến tặng vào phạm vi công cộng (CC0). Xem <https://suttacentral.net/licensing>.
Các bản dịch khác đã đối chiếu
- Thích Minh Châu, Trường Bộ Kinh, bản dịch Việt ngữ (1991). Bài này trong bản ấy mang tên Kinh Ma-ha-li.
- Maurice Walshe, The Long Discourses of the Buddha: A Translation of the Dīgha Nikāya (Wisdom, 1987; tái bản 1995) — bản ấy đặt tên bài là Mahāli.
- T. W. Rhys Davids, Dialogues of the Buddha, tập 1 (Pali Text Society, 1899).
Bản Hán tương ứng
Bài này không có bản Hán tương ứng trọn vẹn trong 長阿含經 (Trường A-hàm). Đây là một trong số ít bài của Trường Bộ Kinh mà chỉ tồn tại đầy đủ trong truyền thống Pali.
Hai phần của bài lại có dấu vết riêng trong Hán tạng:
- Đoạn đối thoại về hồn và thân ở mục 2.4 là một mô-típ lan rộng; nó xuất hiện trong các bản Hán dưới dạng những kinh ngắn nằm trong các bộ A-hàm khác nhau, thường chỉ giữ lại phần hỏi đáp mà không giữ phần mở đầu về Vesālī.
- Phần mở đầu (sứ giả bà-la-môn, thị giả từ chối, sa-di thưa giúp) cũng chỉ còn dưới dạng những mẩu rời trong các tuyển tập.
Vì vậy các bản dịch tiếng Việt từ Hán tạng không có bài này như một bài riêng. Muốn đọc trọn vẹn, phải dùng bản Pali.
Về vị trí trong Trường Bộ Kinh
Bài này đứng thứ sáu như một mẩu ghép của hai phần vốn rời nhau. Mục 2.4 chính là toàn bộ Kinh Jāliya (bài 7) — nghĩa là bài 7 trong bộ này chép lại đúng khối văn ấy, không thêm bớt. Trong bản Pali, đó là dấu vết của một thời kỳ tập hợp kinh chưa ổn định: cùng một đoạn văn nằm ở hai chỗ, một chỗ có khung dẫn riêng, một chỗ bị ghép làm phần kết của bài khác.
Vì vậy đọc bài 6 rồi đọc bài 7 sẽ thấy lặp. Không phải lỗi: Pali cũng lặp.
Ghi chú dựng văn bản
- Bản dịch theo bản Miến Điện (BJT) trên SuttaCentral; các dị bản PTS được ghi trong chú thích khi có khác biệt đáng kể.
- Bài này có 156 đoạn (segment) theo cách chia của SuttaCentral, khớp 1:1 với bản dịch này.
- Mục 2.4 dùng lại khối văn mô tả con đường tu tập đã có ở Kinh Sa-môn Quả (bài 2) mục 4.3. Ở đây bản dịch tóm lược khối ấy và ghi chú chỉ dẫn, giữ đủ mọi chặng và mọi câu hỏi–đáp. Đó là ngoại lệ duy nhất với nguyên tắc "khai triển peyyāla" — xem
../HUONG-DAN-CHUNG.md§5. - Chú thích Sujato ở bài này có kèm liên kết HTML tới các kinh khác; khi đưa vào bản dịch đã bỏ liên kết, chỉ giữ nội dung.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.