buppou

Trung Bộ Kinh · bài 88/152

Kinh Bāhitika

Bāhitika Sutta — bài kinh về tấm vải ngoại nhập mà vua Pasenadi dâng cúng Tôn giả Ānanda

19 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Bāhitika (Bāhitika Sutta) là bài kinh thứ tám mươi tám trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh không có giáo lý cao siêu, không có thần thông, cũng không có cuộc tranh luận triết học nào. Nó chỉ kể một buổi trưa ở Sāvatthī: một vị tỳ-kheo đi khất thực về, ghé vào một khu vườn để nghỉ ngơi, và một ông vua trên đường ra khỏi thành trông thấy, bèn cho voi dừng lại, xuống đi bộ đến chào.

Vị tỳ-kheo ấy là Tôn giả Ānanda, thị giả của Đức Thế Tôn. Ông vua ấy là Pasenadi, vua xứ Kosala, người cai trị vùng đất quanh Sāvatthī. Nhà vua mời Tôn giả ra bờ sông Aciravatī, rồi hỏi một câu nghe rất lạ: Đức Thế Tôn có bao giờ làm điều gì — qua thân, qua lời nói hay qua ý — mà các sa-môn và bà-la-môn chê trách không? Câu hỏi ấy không phải tò mò vu vơ. Thời ấy có nhiều nhóm tu sĩ tranh nhau ảnh hưởng trong dân chúng, và uy tín của một bậc thầy tùy thuộc vào việc thiên hạ nói tốt hay nói xấu về ông ta. Nhà vua, người vừa nghe đủ thứ lời ra tiếng vào, muốn biết bậc thầy của mình đứng ở đâu.

Tôn giả Ānanda trả lời ngay: không. Nhưng câu trả lời ấy có một chữ quan trọng. Khi nhà vua hỏi về các sa-môn, bà-la-môn "chê trách", Tôn giả thêm vào hai chữ "có trí": bị các sa-môn, bà-la-môn có trí chê trách. Chính nhà vua về sau phải thốt lên rằng mình đã không nói trọn được câu hỏi, và Tôn giả đã nói trọn giúp. Đây là chỗ bài kinh bắt đầu có lập luận: không phải mọi lời khen chê đều đáng kể như nhau, và người nghe cần biết ai đang nói.

Nhà vua hỏi tiếp: vậy thế nào là hành vi bị chê trách? Tôn giả triển khai một chuỗi hỏi đáp, mỗi lần siết chặt thêm một nấc. Trước hết đó là hành vi bất thiện, rồi đáng chê trách, rồi gây tổn hại, rồi có quả báo là khổ, và cuối cùng là hành vi đưa đến làm khổ chính mình, làm khổ người khác, làm khổ cả hai, đồng thời làm cho các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện giảm sút. Năm góc độ ấy không thay thế nhau; chúng chồng lên nhau, như năm cách nhìn vào cùng một việc làm.

Rồi Tôn giả làm đúng việc ngược lại: ông đảo từng nấc để nói thế nào là hành vi tốt — thiện, không đáng chê trách, không gây tổn hại, có quả báo là hạnh phúc, không làm khổ mình hay người, và làm cho pháp thiện tăng trưởng. Cùng một khuôn ấy được áp dụng cho ba cửa: thân, lời nói và ý. Nhờ vậy, một câu hỏi tưởng như chỉ về thanh danh của Đức Thế Tôn trở thành một bảng tiêu chuẩn để tự xét mình.

Phần cuối bài là một câu chuyện nhỏ nhưng ấm. Nhà vua cảm phục, dâng Tôn giả một tấm vải quý tên là bāhitikā, do vua Ajātasattu xứ Magadha gửi tặng, dài mười sáu gang, rộng tám gang. Tôn giả từ chối vì ba y đã đủ. Nhà vua thuyết phục bằng hình ảnh con sông Aciravatī mùa mưa tràn cả hai bờ: nếu Tôn giả may y mới từ tấm vải ấy và chia y cũ cho các vị đồng phạm hạnh, thì món cúng dường của nhà vua cũng tràn ra như thế. Tôn giả nhận, đem dâng lên Đức Thế Tôn, và Đức Thế Tôn kết bài bằng một lời khen nhà vua: được thấy và thân cận một người như Tôn giả Ānanda là điều may mắn lớn.

[Chú thích của người dịch: Bāhitikā là từ hiếm, chỉ gặp ở bài kinh này, được chú giải giải thích là loại vải "ngoại nhập"; bản Hán tương ứng (MA 214) cho biết đó là tấm vải quý do vua Ajātasattu gửi tặng.]


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi Tôn giả Ānanda (A-nan) vào buổi sáng, đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.

Sau khi khất thực trong Sāvatthī, ăn xong và trở về từ vòng khất thực, ngài đi đến Pubbārāma (Đông Viên), tòa lầu của bà mẹ Migāra (Lộc Mẫu), để an trú ban ngày.

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala (Ba-tư-nặc, nước Kiều-tát-la) cưỡi voi Ekapuṇḍarīka (voi Một Đóa Sen) ra khỏi Sāvatthī giữa ban ngày.

[Chú thích: "Một đóa sen" (ekapuṇḍarīka) là một danh hiệu cát tường, từng xuất hiện trong một lời cầu tài lộc ở Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 6.3.6.]

Vua Pasenadi xứ Kosala thấy Tôn giả Ānanda đang từ xa đi lại.

Thấy vậy, vua gọi vị đại thần Sirivaḍḍha:

[Chú thích: Có những người cùng tên Sirivaḍḍha xuất hiện ở Tương Ưng Bộ Kinh 47.29 và Trưởng lão kệ 1.41.]

"Này Sirivaḍḍha thân mến, người kia có phải là Tôn giả Ānanda không?"

"Thưa đại vương, đúng vậy, đó là Tôn giả Ānanda."

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala gọi một người nọ:

"Này anh kia, lại đây, hãy đến chỗ Tôn giả Ānanda; đến rồi, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda và thưa:

'Thưa Ngài, vua Pasenadi xứ Kosala cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda.'

Và hãy nói thêm:

'Thưa Ngài, nếu Tôn giả Ānanda không có việc gì gấp, xin Tôn giả Ānanda vì lòng thương xót mà đợi một lát.'"

Người ấy đáp "Thưa vâng, tâu đại vương" với vua Pasenadi xứ Kosala, rồi đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; đến rồi, đảnh lễ Tôn giả Ānanda, đứng sang một bên. Đứng sang một bên, người ấy thưa với Tôn giả Ānanda:

"Thưa Ngài, vua Pasenadi xứ Kosala cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda;

và thưa rằng:

'Thưa Ngài, nếu Tôn giả Ānanda không có việc gì gấp, xin Tôn giả Ānanda vì lòng thương xót mà đợi một lát.'"

Tôn giả Ānanda nhận lời bằng cách im lặng.

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala cho voi đi đến chỗ nào voi còn đi được, rồi xuống voi, đi bộ đến chỗ Tôn giả Ānanda; đến rồi, đảnh lễ Tôn giả Ānanda, đứng sang một bên. Đứng sang một bên, vua Pasenadi xứ Kosala thưa với Tôn giả Ānanda:

"Thưa Ngài, nếu Tôn giả Ānanda không có việc gì gấp, thì tốt quá, xin Tôn giả Ānanda vì lòng thương xót mà đi đến bờ sông Aciravatī."

Tôn giả Ānanda nhận lời bằng cách im lặng.

Rồi Tôn giả Ānanda đi đến bờ sông Aciravatī; đến rồi, ngồi xuống chỗ ngồi đã được trải sẵn dưới gốc một cây nọ.

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala cho voi đi đến chỗ nào voi còn đi được, rồi xuống voi, đi bộ đến chỗ Tôn giả Ānanda; đến rồi, đảnh lễ Tôn giả Ānanda, đứng sang một bên. Đứng sang một bên, vua Pasenadi xứ Kosala thưa với Tôn giả Ānanda:

"Thưa Ngài, xin Tôn giả Ānanda ngồi đây, trên tấm thảm trải trên lưng voi này."

"Thôi, thưa đại vương.

Đại vương ngồi đi;

tôi đã ngồi ở chỗ ngồi của tôi rồi."

Vua Pasenadi xứ Kosala ngồi xuống chỗ ngồi đã trải sẵn.

Ngồi xong, vua Pasenadi xứ Kosala thưa với Tôn giả Ānanda:

"Thưa Tôn giả Ānanda, Đức Thế Tôn có thể làm một hành vi của thân như thế chăng, mà hành vi của thân ấy bị các sa-môn và bà-la-môn chê trách?"

[Chú thích: Chú giải kể rằng câu hỏi này khởi lên từ vụ du sĩ Sundarī bị giết: những du sĩ vô lương tâm xúi bà đến rừng Jeta rồi giết bà để đổ tiếng xấu lên Đức Thế Tôn và Tăng đoàn. Nhưng bản kinh này và bản Hán tương ứng (MA 214) đều không nói gì về mối liên hệ ấy.]

"Thưa đại vương, Đức Thế Tôn không thể làm một hành vi của thân như thế, mà hành vi của thân ấy bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách."

"Còn hành vi của lời nói thì sao, thưa Tôn giả Ānanda: Đức Thế Tôn có thể làm một hành vi của lời nói như thế chăng, mà hành vi của lời nói ấy bị các sa-môn và bà-la-môn chê trách?"

"Thưa đại vương, Đức Thế Tôn không thể làm một hành vi của lời nói như thế, mà hành vi của lời nói ấy bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách."

"Còn hành vi của ý thì sao: Đức Thế Tôn có thể làm một hành vi của ý như thế chăng, mà hành vi của ý ấy bị các sa-môn và bà-la-môn chê trách?"

"Thưa đại vương, Đức Thế Tôn không thể làm một hành vi của ý như thế, mà hành vi của ý ấy bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách."

"Thật kỳ diệu, thưa Ngài, thật phi thường, thưa Ngài!

Câu hỏi mà con không thể nói trọn, thưa Ngài, đã được Tôn giả Ānanda làm cho trọn vẹn bằng câu trả lời của ngài.

[Chú thích: Tôn giả Ānanda đã nói trọn câu hỏi của nhà vua bằng cách thêm chữ "có trí" (viññū), vì hành vi của Đức Thế Tôn thật ra có bị những sa-môn, bà-la-môn ngu dốt chê trách.]

Những kẻ ngu si, kém hiểu biết, chưa xem xét, chưa suy xét mà nói lời khen hay chê người khác, thì con không xem lời ấy là điều quan trọng;

còn những người có trí, hiểu biết rộng, thông minh, sau khi xem xét, suy xét mà nói lời khen hay chê người khác, thì con xem lời ấy là điều quan trọng."

"Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, hành vi của thân như thế nào là bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách?"

[Chú thích: Đoạn này mô tả việc ác từ năm góc độ, cho thấy cách Đức Thế Tôn phân tích đạo đức không dựa vào một yếu tố duy nhất.]

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào là bất thiện."

[Chú thích: "Bất thiện" (akusala) là một phẩm chất bất thiện của tâm, nên đây là khía cạnh tâm lý của việc ác. Việc bất thiện là việc dẫn đến kết quả ngược với điều mình muốn: ta muốn hạnh phúc, nhưng nó lại đưa đến khổ đau.]

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của thân nào là bất thiện?"

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào là đáng chê trách."

[Chú thích: Hành vi "đáng chê trách" (sāvajja) là hành vi khiến người khác có cớ chê bai mình. Đây là khía cạnh xã hội của việc ác.]

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của thân nào là đáng chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào là gây tổn hại."

[Chú thích: "Gây tổn hại" (sabyābajjha) nói rằng việc làm ác mang tính tổn hại cả trong hành động lẫn trong kết quả của nó.]

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của thân nào là gây tổn hại?"

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào là có quả báo là khổ."

[Chú thích: "Có quả báo là khổ" (dukkhavipāka) là nói đến những quả báo đau đớn của nghiệp, trong đời này hoặc đời sau.]

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của thân nào là có quả báo là khổ?"

Thưa đại vương, hành vi của thân nào đưa đến tự làm khổ mình, đưa đến làm khổ người khác, đưa đến làm khổ cả hai.

[Chú thích: Việc làm ác không chỉ ảnh hưởng đến mình, mà còn lan ra trong không gian bằng cách làm hại người khác, và lan trong thời gian bằng cách làm cho các pháp bất thiện ngày càng tăng trưởng.]

Các pháp bất thiện của người ấy tăng trưởng, các pháp thiện của người ấy giảm sút;


thưa đại vương, hành vi của thân như thế là bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách.

"Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, hành vi của lời nói như thế nào là bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào là bất thiện."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của lời nói nào là bất thiện?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào là đáng chê trách."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của lời nói nào là đáng chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào là gây tổn hại."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của lời nói nào là gây tổn hại?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào là có quả báo là khổ."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của lời nói nào là có quả báo là khổ?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào đưa đến tự làm khổ mình, đưa đến làm khổ người khác, đưa đến làm khổ cả hai; các pháp bất thiện của người ấy tăng trưởng, các pháp thiện của người ấy giảm sút; thưa đại vương, hành vi của lời nói như thế là bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách."

"Còn hành vi của ý như thế nào là bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào là bất thiện."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của ý nào là bất thiện?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào là đáng chê trách."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của ý nào là đáng chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào là gây tổn hại."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của ý nào là gây tổn hại?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào là có quả báo là khổ."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của ý nào là có quả báo là khổ?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào đưa đến tự làm khổ mình, đưa đến làm khổ người khác, đưa đến làm khổ cả hai.

Các pháp bất thiện của người ấy tăng trưởng, các pháp thiện của người ấy giảm sút;

thưa đại vương, hành vi của ý như thế là bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách."

"Thưa Tôn giả Ānanda, Đức Thế Tôn có tán thán việc đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện không?"

"Thưa đại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện và thành tựu các pháp thiện."

"Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, hành vi của thân như thế nào là không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách?"

[Chú thích: Ở phần này, phép phân tích được đảo ngược để nói về hạnh kiểm tốt.]

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào là thiện."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của thân nào là thiện?"

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào là không đáng chê trách."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của thân nào là không đáng chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào là không gây tổn hại."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của thân nào là không gây tổn hại?"

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào là có quả báo là hạnh phúc."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của thân nào là có quả báo là hạnh phúc?"

"Thưa đại vương, hành vi của thân nào không đưa đến tự làm khổ mình, không đưa đến làm khổ người khác, không đưa đến làm khổ cả hai.

Các pháp bất thiện của người ấy giảm sút, các pháp thiện của người ấy tăng trưởng.

Thưa đại vương, hành vi của thân như thế là không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách."

"Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, hành vi của lời nói như thế nào là không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào là thiện."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của lời nói nào là thiện?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào là không đáng chê trách."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của lời nói nào là không đáng chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào là không gây tổn hại."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của lời nói nào là không gây tổn hại?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào là có quả báo là hạnh phúc."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của lời nói nào là có quả báo là hạnh phúc?"

"Thưa đại vương, hành vi của lời nói nào không đưa đến tự làm khổ mình, không đưa đến làm khổ người khác, không đưa đến làm khổ cả hai; các pháp bất thiện của người ấy giảm sút, các pháp thiện của người ấy tăng trưởng; thưa đại vương, hành vi của lời nói như thế là không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách."

"Còn hành vi của ý như thế nào là không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào là thiện."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của ý nào là thiện?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào là không đáng chê trách."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của ý nào là không đáng chê trách?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào là không gây tổn hại."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của ý nào là không gây tổn hại?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào là có quả báo là hạnh phúc."

"Nhưng thưa Ngài, hành vi của ý nào là có quả báo là hạnh phúc?"

"Thưa đại vương, hành vi của ý nào không đưa đến tự làm khổ mình, không đưa đến làm khổ người khác, không đưa đến làm khổ cả hai.

Các pháp bất thiện của người ấy giảm sút, các pháp thiện của người ấy tăng trưởng.

Thưa đại vương, hành vi của ý như thế là không bị các sa-môn và bà-la-môn có trí chê trách."

"Thưa Tôn giả Ānanda, Đức Thế Tôn có tán thán việc thọ trì tất cả các pháp thiện không?"

"Thưa đại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện và thành tựu các pháp thiện."

[Chú thích: Tôn giả Ānanda nhấn mạnh rằng Đức Thế Tôn không chỉ tán thán những pháp ấy mà còn thể hiện chúng một cách trọn vẹn.]

"Thật kỳ diệu, thưa Ngài, thật phi thường, thưa Ngài!

Tôn giả Ānanda đã nói thật khéo biết bao!

Thưa Ngài, con hoan hỷ và mãn nguyện với lời nói khéo ấy của Tôn giả Ānanda.

Thưa Ngài, con hoan hỷ và mãn nguyện với lời nói khéo ấy của Tôn giả Ānanda đến mức này:

nếu bảo vật voi là thứ thích hợp cho Tôn giả Ānanda, thì chúng con cũng sẽ dâng bảo vật voi cho Tôn giả Ānanda.

nếu bảo vật ngựa là thứ thích hợp cho Tôn giả Ānanda, thì chúng con cũng sẽ dâng bảo vật ngựa cho Tôn giả Ānanda.

nếu một ngôi làng trọng yếu là thứ thích hợp cho Tôn giả Ānanda, thì chúng con cũng sẽ dâng ngôi làng trọng yếu ấy cho Tôn giả Ānanda."


"Nhưng thưa Ngài, chúng con cũng biết điều này:

'Những thứ ấy không thích hợp cho Tôn giả Ānanda.'

[Chú thích: Xem thêm MN 94:16.19.]

Tấm vải bāhitikā này, thưa Ngài, là do vua Ajātasattu xứ Magadha (A-xà-thế, nước Ma-kiệt-đà), con của bà Videhī, gói trong một ống vải rồi sai người mang đến cho con; vải dài đúng mười sáu gang, rộng tám gang.

[Chú thích: Bản Hán tương ứng (MA 214) có chữ 繖, ủng hộ cách đọc chatta, nghĩa là "cái lọng".]

Thưa Ngài, xin Tôn giả Ānanda vì lòng thương xót mà nhận lấy tấm vải ấy."

"Thôi, thưa đại vương, ba y của tôi đã đầy đủ."

"Thưa Ngài, sông Aciravatī này đã được cả Tôn giả Ānanda lẫn chúng con trông thấy.

Khi đám mây lớn trút mưa xuống trên núi, thì sông Aciravatī này tràn qua cả hai bờ mà chảy;

cũng vậy, thưa Ngài, Tôn giả Ānanda sẽ may ba y cho mình bằng tấm vải bāhitikā này.

[Chú thích: Bāhitikā chỉ xuất hiện ở đây, được chú giải giải thích là loại vải "ngoại nhập". Tiếng Phạn bāhya mang nghĩa này được thấy ở Arthaśastra 2.22.1.]

Còn bộ ba y cũ của Tôn giả Ānanda thì Tôn giả Ānanda sẽ chia sẻ với các vị đồng phạm hạnh.

Như vậy, theo ý con, món cúng dường của chúng con sẽ tràn ra.

Thưa Ngài, xin Tôn giả Ānanda nhận lấy tấm vải bāhitikā."

Tôn giả Ānanda nhận lấy tấm vải bāhitikā.

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala thưa với Tôn giả Ānanda:

"Vậy thì, thưa Tôn giả Ānanda, giờ chúng con đi đây;

chúng con có nhiều việc, nhiều việc phải làm."

"Thưa đại vương, đại vương hãy đi khi thấy tiện."

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Ānanda nói, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Tôn giả Ānanda, đi vòng quanh phía bên phải rồi ra về.

Rồi Tôn giả Ānanda, không lâu sau khi vua Pasenadi xứ Kosala ra về, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngồi xuống sang một bên.

Ngồi sang một bên, Tôn giả Ānanda thuật lại cho Đức Thế Tôn tất cả những gì đã đàm luận với vua Pasenadi xứ Kosala.

Rồi ngài dâng tấm vải bāhitikā ấy lên Đức Thế Tôn.

Rồi Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo, vua Pasenadi xứ Kosala thật là được lợi, này các tỳ-kheo, vua Pasenadi xứ Kosala thật là được lợi lớn lao;

vì vua Pasenadi xứ Kosala được thấy Tôn giả Ānanda, được thân cận hầu hạ Tôn giả Ānanda."

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Bāhitika, bài thứ tám, đã hoàn tất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →