buppou

Trung Bộ Kinh · bài 87/152

Kinh Sinh Từ Người Thương

Piyajātika Sutta — bài kinh về những gì sinh ra từ người mình thương yêu

21 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Sinh Từ Người Thương (Piyajātika Sutta) là bài kinh thứ tám mươi bảy trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Tên bài, dịch sát, là "những gì sinh ra từ người mình thương". Trung tâm của bài chỉ là một câu nói rất ngắn do Đức Thế Tôn đưa ra, và một người đang đau khổ phản đối câu nói ấy ngay tại chỗ. Phần còn lại của bài kinh là chuyện đi tìm xem ai đúng.

Bài mở đầu ở Sāvatthī. Một gia chủ nọ mất đứa con trai duy nhất, đứa con ông thương yêu quý mến. Từ đó ông không còn thiết làm việc, cũng không còn thiết ăn uống; ngày ngày ông ra chỗ hoả táng, gọi: "Con ở đâu rồi, đứa con duy nhất của cha?" Ông đến chỗ Đức Thế Tôn, và vừa nhìn thấy ông, Ngài nói rằng các căn của ông đã biến đổi khác đi, không còn là của người tâm trí vững vàng. Ông thừa nhận, kể lại nỗi mất mát, rồi được Ngài dạy: sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn. Phản ứng của ông là phản ứng rất người: ông không tin. Ai lại có thể nghĩ rằng người mình thương yêu là nguồn gốc của khổ đau, khi chính họ là nguồn vui của mình? Ông bác bỏ lời ấy, đứng dậy ra về, và kể lại câu chuyện cho mấy con bạc đang chơi xúc xắc gần đó. Họ đồng tình với ông, nên ông ra về với ý nghĩ rằng mình đã đúng.

Rồi câu chuyện vào đến hoàng cung. Vua Pasenadi xứ Kosala đem chuyện ấy hỏi hoàng hậu Mallikā. Bà trả lời: nếu Đức Thế Tôn đã nói như vậy thì đúng là như vậy. Nhà vua nổi giận, cho rằng bà nói gì cũng gật, chẳng khác nào học trò gật theo thầy, và đuổi bà đi. Mallikā không cãi. Bà sai bà-la-môn Nāḷijaṅgha đến tận chỗ Đức Thế Tôn để hỏi lại cho rõ, dặn ông ghi nhớ thật kỹ câu trả lời và thuật lại nguyên vẹn.

Đức Thế Tôn xác nhận lời ấy, rồi đưa ra một loạt ví dụ ngay tại Sāvatthī: người đàn bà mất mẹ, mất cha, mất anh, mất chị, mất con trai, mất con gái, mất chồng; người đàn ông cũng vậy; và một người vợ bị bà con ép gả cho người khác, người chồng bèn chém vợ làm đôi rồi tự mổ bụng mình, với ý nghĩ hai người sẽ ở bên nhau sau khi chết. Những người ấy phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, gọi tên người đã mất. Không ví dụ nào là chuyện xa xôi; tất cả đều là chuyện người ta đã thấy ngay trong thành.

Mallikā trở về và không giảng giải gì cả. Bà chỉ hỏi nhà vua, từng người một: ngài có thương công chúa Vajirī không, có thương nàng Vāsabhā không, có thương tướng quân Viṭaṭūbha không, có thương thiếp không, có thương hai xứ Kāsi và Kosala không. Mỗi lần, khi nhà vua thú nhận rằng nếu mất người ấy thì chính mạng sống của ông cũng đảo lộn, bà lại nói: chính vì điều này mà Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Đến cuối, nhà vua tự mình thấy, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và ba lần thốt lên lời cảm khái.

Bài kinh không bảo người ta đừng thương yêu. Nó chỉ ra rằng thương yêu và mất mát nằm trong cùng một gói, và người đã thấy rõ điều ấy thì không còn ngạc nhiên khi đau khổ ập đến. Điều đáng chú ý là cách hoàng hậu Mallikā đưa nhà vua đến chỗ hiểu: bà không trích dẫn kinh điển, không tranh cãi, chỉ hỏi những câu mà tự nhà vua phải trả lời.

[Chú thích của người dịch: Piya nghĩa là thương yêu, quý mến; jātika nghĩa là sinh ra từ, phát sinh từ. Tên bài kinh thường được dịch là "Kinh Ái Sinh", nhưng ở đây dịch sát nghĩa và giữ cách gọi đang dùng trong bộ kinh này.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Vua Pasenadi hình như lần đầu gặp Đức Thế Tôn và quy phục Ngài trong Tương Ưng Bộ Kinh 3.1, nhưng khi ấy đức tin của ông còn non, nên ông dễ bực bội trước lòng sùng mộ của chánh hậu Mallikā, tên có nghĩa là hoa nhài. Về sau chính những lời khéo léo của bà mới đưa ông về với Pháp; các cuộc đối thoại tương tự giữa hai người còn được kể ở những bài khác trong Tương Ưng Bộ Kinh và Tiểu Bộ Kinh.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Lúc bấy giờ, đứa con trai duy nhất của một gia chủ nọ, người con ông thương yêu quý mến, đã qua đời.

Vì cái chết ấy, ông không còn thiết đến công việc, cũng không còn thiết đến cơm ăn.

[Chú thích: Chữ paṭibhāti ở đây dùng theo nghĩa ít gặp là "thấy thích, thấy muốn"; chú giải giải thích bằng chữ ruccati, cũng nghĩa là ưa thích.]

Ông đi đến chỗ hoả táng và khóc than:

"Con ở đâu rồi, đứa con duy nhất của cha? Con ở đâu rồi, đứa con duy nhất của cha?"

Rồi gia chủ ấy đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Khi gia chủ ấy đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói với ông ta rằng:

"Này gia chủ, các căn của ông không phải của người tâm trí vững vàng; các căn của ông đã biến đổi khác đi."

[Chú thích của người dịch: Các căn là sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.]

"Làm sao các căn của tôi lại không biến đổi cho được, thưa Ngài?

Thưa Ngài, đứa con trai duy nhất của tôi, đứa con tôi thương yêu quý mến, đã qua đời.

Từ khi nó qua đời, tôi không còn thiết đến công việc, cũng không còn thiết đến cơm ăn.

Tôi đi đến chỗ hoả táng và khóc than:

'Con ở đâu rồi, đứa con duy nhất của cha? Con ở đâu rồi, đứa con duy nhất của cha?'"

"Đúng là vậy, này gia chủ, đúng là vậy, này gia chủ.

Vì sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn."

"Thưa Ngài, ai lại có thể nghĩ như vầy:

'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn'?

Vì hoan hỷ và vui sướng, thưa Ngài, cũng sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn."

Rồi gia chủ ấy không tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, bác bỏ lời ấy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về.

Lúc bấy giờ, nhiều con bạc đang đánh bạc bằng xúc xắc không xa Đức Thế Tôn.

Rồi gia chủ ấy đi đến chỗ những con bạc ấy; đến rồi, nói với họ rằng:

"Thưa các ông, tôi đã đi đến chỗ sa-môn Gotama (Cồ-đàm); đến rồi, đảnh lễ sa-môn Gotama và ngồi xuống một bên. Thưa các ông, khi tôi đã ngồi xuống một bên, sa-môn Gotama nói với tôi rằng:

'Này gia chủ, các căn của ông không phải của người tâm trí vững vàng; các căn của ông đã biến đổi khác đi.'

Khi nghe vậy, thưa các ông, tôi nói với sa-môn Gotama rằng:

'Làm sao các căn của tôi lại không biến đổi cho được, thưa Ngài?

Thưa Ngài, đứa con trai duy nhất của tôi, đứa con tôi thương yêu quý mến, đã qua đời.

Từ khi nó qua đời, tôi không còn thiết đến công việc, cũng không còn thiết đến cơm ăn.

Tôi đi đến chỗ hoả táng và khóc than:

Con ở đâu rồi, đứa con duy nhất của cha? Con ở đâu rồi, đứa con duy nhất của cha?'

'Đúng là vậy, này gia chủ, đúng là vậy, này gia chủ.

Vì sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.'

'Thưa Ngài, ai lại có thể nghĩ như vầy:

Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn?

Hoan hỷ và vui sướng, thưa Ngài, cũng sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.'

Rồi, thưa các ông, tôi không tán thán lời sa-môn Gotama dạy, bác bỏ lời ấy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về."

"Đúng là vậy, này gia chủ, đúng là vậy, này gia chủ.

Vì hoan hỷ và vui sướng, này gia chủ, cũng sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn."

Rồi gia chủ ấy nghĩ: 'Các con bạc và mình đã đồng quan điểm' và ra về.

Rồi câu chuyện ấy dần dần đi vào hoàng cung.

[Chú thích: Chuyện này cũng là đề tài bàn tán trong Tăng Chi Bộ Kinh 3.60 và 10.45.]

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala (Ba-tư-nặc, Câu-tát-la) gọi hoàng hậu Mallikā (Mạt-lợi):

[Chú thích: Mallikā là chánh hậu của vua Pasenadi, được ghi trong danh sách nữ đệ tử tại gia nổi bật, và là người lập một tu viện dành cho các cuộc tranh luận học thuyết. Kinh điển sơ kỳ chỉ kể về bà chừng ấy; về sau các bản Jātaka và nhiều kinh khác thêu dệt thêm bao chuyện ly kỳ về bà và cuộc hôn nhân của bà. Kinh điển Kỳ-na giáo cũng có truyền thuyết về một nữ đạo sư tên Malli, có lẽ chịu ảnh hưởng từ những câu chuyện của Phật giáo về bà.]

"Này Mallikā, sa-môn Gotama đã nói như vầy:

'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.'"

"Thưa đại vương, nếu Đức Thế Tôn đã nói như vậy thì đúng là như vậy."

"Nhưng này Mallikā, sa-môn Gotama nói gì thì nàng cũng tán thành đúng như thế:

'Thưa đại vương, nếu Đức Thế Tôn đã nói như vậy thì đúng là như vậy.'

Ví như ông thầy nói gì với học trò thì học trò ấy cũng tán thành đúng như thế:

'Đúng vậy, thưa thầy, đúng vậy, thưa thầy.'

Cũng vậy, này Mallikā, sa-môn Gotama nói gì thì nàng cũng tán thành đúng như thế:

'Thưa đại vương, nếu Đức Thế Tôn đã nói như vậy thì đúng là như vậy.'

Đi khỏi đây, này Mallikā, biến đi!"


Rồi hoàng hậu Mallikā gọi bà-la-môn Nāḷijaṅgha:

"Này bà-la-môn, ông hãy đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, nhân lời ta, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có được ít bệnh, ít tật, nhẹ nhàng, sung sức và sống an lạc không:

'Bạch Ngài, hoàng hậu Mallikā cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có được ít bệnh, ít tật, nhẹ nhàng, sung sức và sống an lạc không';

và hãy nói như vầy:

'Bạch Ngài, có phải Đức Thế Tôn đã nói lời này không:

Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn?'

Đức Thế Tôn trả lời ông thế nào, ông hãy ghi nhớ thật kỹ rồi thuật lại cho ta.

Vì các Như Lai không nói điều sai sự thật."

"Thưa vâng, phu nhân" — bà-la-môn Nāḷijaṅgha vâng lời hoàng hậu Mallikā, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, chào hỏi Đức Thế Tôn.

Sau khi trao đổi với nhau những lời chào hỏi thân tình và những câu chuyện xã giao, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, bà-la-môn Nāḷijaṅgha nói với Đức Thế Tôn rằng:

"Thưa ngài Gotama, hoàng hậu Mallikā cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài Gotama và hỏi thăm ngài có được ít bệnh, ít tật, nhẹ nhàng, sung sức và sống an lạc không;

và bà ấy nói như vầy:

'Bạch Ngài, có phải Đức Thế Tôn đã nói lời này không:

Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn?'"

"Đúng là vậy, này bà-la-môn, đúng là vậy, này bà-la-môn.

Vì sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn."

Và cũng có thể hiểu điều này bằng một cách nữa, này bà-la-môn, rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, mẹ của một người đàn bà nọ qua đời.

Bà ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng:

"Có ai thấy mẹ tôi không? Có ai thấy mẹ tôi không?"

Cũng bằng cách này, này bà-la-môn, có thể hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, cha của một người đàn bà nọ qua đời. Bà ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy cha tôi không? Có ai thấy cha tôi không?"

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, anh trai của một người đàn bà nọ qua đời. Bà ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy anh tôi không? Có ai thấy anh tôi không?"

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, chị gái của một người đàn bà nọ qua đời. Bà ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy chị tôi không? Có ai thấy chị tôi không?"

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, con trai của một người đàn bà nọ qua đời. Bà ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy con trai tôi không? Có ai thấy con trai tôi không?"

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, con gái của một người đàn bà nọ qua đời. Bà ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy con gái tôi không? Có ai thấy con gái tôi không?"

Chồng của bà qua đời.

Bà ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng:

"Có ai thấy chồng tôi không? Có ai thấy chồng tôi không?"

Cũng bằng cách này, này bà-la-môn, có thể hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, mẹ của một người đàn ông nọ qua đời.

Ông ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng:

"Có ai thấy mẹ tôi không? Có ai thấy mẹ tôi không?"

Cũng bằng cách này, này bà-la-môn, có thể hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, cha của một người đàn ông nọ qua đời. Ông ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy cha tôi không? Có ai thấy cha tôi không?"

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, anh trai của một người đàn ông nọ qua đời. Ông ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy anh tôi không? Có ai thấy anh tôi không?"

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, chị gái của một người đàn ông nọ qua đời. Ông ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy chị tôi không? Có ai thấy chị tôi không?"

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, con trai của một người đàn ông nọ qua đời. Ông ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy con trai tôi không? Có ai thấy con trai tôi không?"

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, con gái của một người đàn ông nọ qua đời. Ông ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng: "Có ai thấy con gái tôi không? Có ai thấy con gái tôi không?"

Vợ của ông qua đời.

Ông ta vì cái chết ấy mà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nói rằng:

"Có ai thấy vợ tôi không? Có ai thấy vợ tôi không?"

Cũng bằng cách này, này bà-la-môn, có thể hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.

Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại Sāvatthī này, có một người đàn bà đi về nhà bà con của mình.

Những người bà con ấy muốn chia lìa bà khỏi chồng, để gả bà cho một người khác.

Nhưng bà không muốn như vậy.

Rồi người đàn bà ấy nói với chồng rằng:

"Thưa ông, những người bà con ở đây muốn chia lìa tôi với ông, để gả tôi cho một người khác.

Còn tôi thì không muốn như vậy."

Rồi người đàn ông ấy chém bà ta làm đôi, rồi tự mổ bụng mình:


"Sau khi chết, hai ta sẽ ở bên nhau."

Cũng bằng cách này, này bà-la-môn, có thể hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.

Rồi bà-la-môn Nāḷijaṅgha, sau khi hoan hỷ và tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi đến chỗ hoàng hậu Mallikā; đến rồi, thuật lại cho hoàng hậu Mallikā tất cả những gì đã đàm luận với Đức Thế Tôn. Rồi hoàng hậu Mallikā đi đến chỗ vua Pasenadi xứ Kosala; đến rồi, nói với vua Pasenadi xứ Kosala rằng:

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao,

đại vương có thương công chúa Vajirī không?"

[Chú thích: Công chúa Vajirī có lẽ là người con gái mà Mallikā sinh cho vua Pasenadi, như được kể trong Tương Ưng Bộ Kinh 3.16.]

"Đúng vậy, Mallikā, ta thương công chúa Vajirī."

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao,

nếu công chúa Vajirī biến đổi khác đi thì sầu, bi, khổ, ưu, não có sinh khởi nơi đại vương không?"

"Nếu công chúa Vajirī biến đổi khác đi thì chính mạng sống của ta cũng biến đổi khác đi, huống chi sầu, bi, khổ, ưu, não lại không sinh khởi nơi ta?"

"Thưa đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, đã nói:

'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.'"

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao,

đại vương có thương nàng Vāsabhā dòng vua chúa không?"

"Đúng vậy, Mallikā, ta thương nàng Vāsabhā dòng vua chúa."

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao, nếu nàng Vāsabhā dòng vua chúa biến đổi khác đi thì sầu, bi, khổ, ưu, não có sinh khởi nơi đại vương không?"

"Nếu nàng Vāsabhā dòng vua chúa biến đổi khác đi thì chính mạng sống của ta cũng biến đổi khác đi, huống chi sầu, bi, khổ, ưu, não lại không sinh khởi nơi ta?"

"Thưa đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, đã nói:

'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.'"

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao, đại vương có thương tướng quân Viṭaṭūbha (Tỳ-lưu-ly) không?"

"Đúng vậy, Mallikā, ta thương tướng quân Viṭaṭūbha."

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao, nếu tướng quân Viṭaṭūbha biến đổi khác đi thì sầu, bi, khổ, ưu, não có sinh khởi nơi đại vương không?"

"Nếu tướng quân Viṭaṭūbha biến đổi khác đi thì chính mạng sống của ta cũng biến đổi khác đi, huống chi sầu, bi, khổ, ưu, não lại không sinh khởi nơi ta?"

"Thưa đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, đã nói:

'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.'"

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao, đại vương có thương thiếp không?"

"Đúng vậy, Mallikā, ta thương nàng."

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao,

nếu thiếp biến đổi khác đi thì sầu, bi, khổ, ưu, não có sinh khởi nơi đại vương không?"

"Nếu nàng biến đổi khác đi thì chính mạng sống của ta cũng biến đổi khác đi, huống chi sầu, bi, khổ, ưu, não lại không sinh khởi nơi ta?"

"Thưa đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, đã nói:

'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.'"

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao,

đại vương có thương hai xứ Kāsi (Ca-thi) và Kosala không?"

[Chú thích: Kosala là quê hương của vua Pasenadi. Kāsi từng là một vương quốc độc lập nhưng đã bị cha của Pasenadi là Mahākosala thôn tính; về cuối đời Đức Thế Tôn, hai xứ này bị tranh chấp giữa Kosala và Magadha, và cuối cùng nhập vào đế quốc Magadha rộng lớn.]

"Đúng vậy, Mallikā, ta thương hai xứ Kāsi và Kosala.

Nhờ uy lực của Kāsi và Kosala, này Mallikā, mà ta được hưởng gỗ đàn hương xứ Kāsi, được đeo vòng hoa, hương thơm và phấn sáp."

"Thưa đại vương, đại vương nghĩ sao,

nếu hai xứ Kāsi và Kosala biến đổi khác đi thì sầu, bi, khổ, ưu, não có sinh khởi nơi đại vương không?"

"Nếu hai xứ Kāsi và Kosala biến đổi khác đi thì chính mạng sống của ta cũng biến đổi khác đi, huống chi sầu, bi, khổ, ưu, não lại không sinh khởi nơi ta?"

"Thưa đại vương, chính vì điều này mà Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, đã nói:

'Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh ra từ người mình thương yêu, lấy người mình thương yêu làm cội nguồn.'"

"Thật kỳ diệu thay, Mallikā, thật hi hữu thay, Mallikā.

Theo ta nghĩ, Đức Thế Tôn đã nhờ tuệ mà thấu suốt và nhìn thấy xa đến nhường ấy.

Lại đây, Mallikā, rửa tay cho ta."

[Chú thích: Có lẽ nhà vua đang chìa hai tay trên một cái bát, và Mallikā rót nước lên tay ông.]

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp y qua một bên vai, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và ba lần thốt lên lời cảm khái:

"Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác!

Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác!

Kính lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác!"

Kinh Piyajātika, bài thứ bảy, đã hoàn thành.

[Chú thích của người dịch: Bài thứ bảy là vị trí của bài kinh này trong phẩm Rājavagga (Phẩm Vua), không phải số 87 của Trung Bộ Kinh.]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →