Trung Bộ Kinh · bài 23/152
Kinh Tổ Kiến
Vammika Sutta — bài kinh về tổ kiến
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Tổ Kiến (Vammika Sutta) là bài kinh thứ 23 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh thứ hai của Kinh tạng Pali. Bài kinh rất ngắn, chỉ hơn một trăm đoạn, và gần như trọn vẹn là một câu đố. Bối cảnh là Sāvatthī (Xá-vệ), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Đêm ấy, Tôn giả Kumārakassapa trú trong rừng Andhavana, một khu rừng rậm ở phía nam thành. Khi đêm đã về khuya, một vị trời hiện ra, chiếu sáng cả khu rừng, và nói với Tôn giả một chuỗi hình ảnh lạ lùng.
Vị trời nói: này tỳ-kheo, tổ kiến này ban đêm bốc khói, ban ngày bùng cháy. Rồi vị ấy kể lại lời của một vị bà-la-môn: hãy đào đi, này người khôn ngoan, sau khi đã cầm lấy thanh gươm. Người ấy đào xuống và lần lượt gặp tám thứ: một chướng ngại, một con ễnh ương, một con đường rẽ đôi, một cái lọc tro, một con rùa, một con dao với một cái thớt, một miếng thịt, và cuối cùng là một con rắn hổ mang chúa. Bảy thứ đầu đều bị bảo phải dẹp đi, riêng con rắn thì được bảo để yên, chớ chạm đến, và hãy đảnh lễ nó. Vị trời nói thêm rằng không ai trên đời này có thể giải được câu đố ấy, trừ Như Lai, đệ tử của Như Lai, hoặc người đã nghe lại từ hai bên ấy. Nói xong, vị ấy biến mất.
Sáng hôm sau, Tôn giả Kumārakassapa đến chỗ Đức Thế Tôn, thuật lại đầu đuôi và hỏi từng hình ảnh một nghĩa là gì. Đức Thế Tôn lần lượt giải thích. Tổ kiến là tấm thân này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sinh ra, được cơm cháo nuôi lớn và luôn chịu hao mòn, tan vỡ. Sự bốc khói ban đêm là chuyện ban ngày đã làm mà đêm về còn nghĩ tới nghĩ lui; sự bùng cháy ban ngày là sau một đêm suy nghĩ, ban ngày lại dấn thân làm việc bằng thân, lời nói và ý. Vị bà-la-môn là Như Lai; người khôn ngoan là một tỳ-kheo hữu học, tức người còn đang tu tập; thanh gươm là tuệ của bậc Thánh; sự đào bới là sự khởi lên tinh tấn.
Phần còn lại của bản giải thích đi theo đúng thứ tự những gì đào được. Chướng ngại là vô minh. Con ễnh ương là sân hận và khổ não. Con đường rẽ đôi là hoài nghi. Cái lọc tro là năm triền cái: tham muốn dục lạc, sân hận, hôn trầm và thụy miên, trạo cử và hối hận, hoài nghi. Con rùa là năm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Dao và thớt là năm dục công đức, tức năm loại khoái lạc đến từ mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Miếng thịt là niềm vui thích và tham muốn. Rắn hổ mang chúa là một tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tức bậc A-la-hán.
Đọc như một câu đố thì bài kinh rối rắm; đọc như một tấm bản đồ thì nó rất rõ. Cái tổ kiến phải đào lên chính là bản thân người đọc: một khối thân do thức ăn nuôi lớn, ban ngày bận rộn, ban đêm âm ỉ. Thanh gươm để đào là tuệ, sức để đào là tinh tấn, và mỗi lớp đất bóc đi lại lộ ra một lớp trói buộc của tâm: trước hết là không hiểu biết, rồi giận dữ, rồi do dự, rồi năm thứ che lấp, rồi chấp thủ vào thân tâm, rồi say mê giác quan, rồi lòng tham. Đào đến tận đáy thì gặp con rắn: hình ảnh con vật linh thiêng, mạnh mẽ, không ai được chạm vào. Người đã đi hết con đường tự mình trở thành một thứ người như thế: không còn gì để dẹp bỏ, chỉ còn để tôn kính.
Bài kinh này không dạy một nghi lễ nào, cũng không hứa hẹn gì ở đời sau. Nó nói rằng sự hiểu biết về chính mình là một việc phải đào, từng lớp một, bằng nỗ lực của chính mình. Bản dịch dưới đây làm theo từng đoạn của bản Pali, giữ nguyên những chỗ trùng lặp có chủ ý, và chú thích những hình ảnh cổ mà người đọc hôm nay khó thấy nghĩa.
[Chú thích của người dịch: Vammika là tổ kiến, gò đất do loài mối đùn lên; sutta là bài kinh. Tên bài kinh lấy từ hình ảnh mở đầu: một tổ kiến ban đêm bốc khói, ban ngày bùng cháy, bên trong có những thứ phải đào lên mới thấy.]
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumārakassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp) trú trong rừng Andhavana.
[Chú thích: "Kumārakassapa" nghĩa là Kassapa trẻ, vị xuất gia năm hai mươi tuổi và được Đức Thế Tôn khen là đệ nhất về biện tài. "Andhavana" là khu rừng rậm phía nam Sāvatthī, nơi các tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni thường vào thiền định; tên ấy nghĩa là Rừng Tối. Đây là bài kinh duy nhất nói có người trú tại đó.]
Rồi một vị trời kia, khi đêm đã về khuya, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng khắp cả rừng Andhavana, đi đến chỗ Tôn giả Kumārakassapa; đến rồi đứng một bên. Vị trời ấy đứng một bên, nói với Tôn giả Kumārakassapa như vầy:
[Chú thích: Vị trời đặt ra một chuỗi câu đố tối nghĩa, gần như một giấc mơ. Lối nói ẩn ý là nét quen thuộc của văn học bà-la-môn, vì chư thiên ưa thích những gì kín đáo. Chuỗi câu đố này được dựng lên như một cuộc đi tìm kho báu chôn giấu.]
"Này tỳ-kheo, này tỳ-kheo, tổ kiến này ban đêm bốc khói, ban ngày bùng cháy.
[Chú thích: Việc thờ tổ kiến, và thờ những con rắn độc sống trong đó, vẫn còn phổ biến ở Ấn Độ đến nay. Tổ kiến lớn dựa vào chênh lệch nhiệt độ ngày đêm để tạo dòng đối lưu, nhờ đó điều hòa nhiệt và thải khí cacbonic.]
Vị bà-la-môn nói:
'Này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
[Chú thích: Chữ "sattha" vừa có nghĩa là thanh gươm vừa có nghĩa là bài luận thiêng. Vì thế lời thúc giục mang nghĩa kép: người khôn ngoan cầm gươm đào xuống, tức dùng cái sắc bén của mình để thấy ra.]
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một chướng ngại:
[Chú thích: "Laṅgī" chỉ xuất hiện ở đây, và chú giải Pali hiểu là "paligha", tức vật cản. Có lẽ đây là hình ảnh cho sự ràng buộc đầu tiên của người xuất gia, ấy là gia đình.]
'Một chướng ngại, thưa ngài!'
Vị bà-la-môn nói:
'Hãy dẹp bỏ chướng ngại;
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con ễnh ương:
[Chú thích: Ếch đực Ấn Độ có hai túi kêu màu xanh đen phồng lên xẹp xuống khi kêu, nên có tên "uddhumāyika", nghĩa là kẻ phồng lên. Trong thần thoại Vệ-đà, loài ếch nằm im suốt mùa khô rồi bật dậy khi mưa về, kêu vang khắp nơi, được ví với các tư tế bà-la-môn đọc tụng và truyền thừa.]
'Một con ễnh ương, thưa ngài!'
Vị bà-la-môn nói:
'Hãy dẹp bỏ con ễnh ương;
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con đường rẽ đôi:
[Chú thích: Thần thoại Vệ-đà nói đến hai con đường, một của chư thiên và một của người phàm. Về sau, đường của tổ tiên được hiểu là đường dẫn đến tái sinh, còn đường của chư thiên là đường dẫn đến giải thoát.]
'Một con đường rẽ đôi, thưa ngài!'
Vị bà-la-môn nói:
'Hãy dẹp bỏ con đường rẽ đôi;
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một cái lọc tro:
[Chú thích: "Caṅgavāra" là đồ lọc mà nước nhỏ xuống từng giọt, ví như những ngày ngắn ngủi của đời người. Chú giải Pali nói đó là chum lọc nước tro dùng trong nghề giặt, nước đổ vào bao nhiêu thì vẫn cứ rỉ ra.]
'Một cái lọc tro, thưa ngài!'
Vị bà-la-môn nói:
'Hãy dẹp bỏ cái lọc tro;
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con rùa:
[Chú thích: Trong nghi lễ Vệ-đà, rùa được đặt lên bàn thờ để tượng trưng cho sức sống, mặt trời, hơi thở và chính hành vi sáng tạo. Mai trên, mai dưới và thân mình nó ứng với ba cõi: đất, trời và khoảng giữa.]
'Một con rùa, thưa ngài!'
Vị bà-la-môn nói:
'Hãy dẹp bỏ con rùa;
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con dao và một cái thớt:
[Chú thích: Trong hình ảnh dữ dội này, "asi" là con dao và "sūnā" là chỗ giết mổ, cũng có thể hiểu là cái thớt. Cặp dao và thớt nối liền sự sống với cái chết trong cùng một hình ảnh.]
'Một con dao và một cái thớt, thưa ngài!'
Vị bà-la-môn nói:
'Hãy dẹp bỏ dao và thớt;
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một miếng thịt:
[Chú thích: "Maṁsapesi" là miếng thịt nhỏ, nhỏ đến mức con quạ có thể tha đi. Hình ảnh này nhấn vào sự nhỏ nhoi của đời sống, và vào những ham muốn bám chặt lấy tấm thân ví như miếng thịt ấy.]
'Một miếng thịt, thưa ngài!'
Vị bà-la-môn nói:
'Hãy dẹp bỏ miếng thịt;
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con rắn hổ mang chúa:
[Chú thích: "Nāga" ở đây đồng thời chỉ con rắn hổ mang sống dưới tổ kiến và con rắn huyền bí mang sức mạnh, tương ứng với bậc A-la-hán.]
'Một con rắn hổ mang chúa, thưa ngài!'
Vị bà-la-môn nói:
'Hãy để yên con rắn hổ mang chúa, chớ chạm đến nó; hãy đảnh lễ con rắn hổ mang chúa!'
Này tỳ-kheo, ông hãy đi đến Đức Thế Tôn mà hỏi những câu hỏi này; Đức Thế Tôn trả lời thế nào thì ông hãy ghi nhớ đúng như vậy.
Này tỳ-kheo, trong thế giới này, cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, giữa đám đông gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, ta không thấy một ai có thể làm hài lòng tâm bằng cách trả lời những câu hỏi này, trừ Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, hoặc người đã nghe lại từ vị ấy."
[Chú thích: Lời này chê thẳng vào giới bà-la-môn, những người tự hào rằng mình có thể giải thích cả những đoạn tối nghĩa nhất.]
Vị trời ấy đã nói như vậy.
Nói xong, vị ấy biến mất ngay tại chỗ.
Rồi khi đêm ấy đã qua, Tôn giả Kumārakassapa đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Tôn giả Kumārakassapa ngồi một bên, bạch Đức Thế Tôn như vầy:
Bạch Thế Tôn, đêm qua, một vị trời kia, khi đêm đã về khuya, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng khắp cả rừng Andhavana, đã đến chỗ con; đến rồi đứng một bên. Bạch Thế Tôn, vị trời ấy đứng một bên, nói với con như vầy:
"Này tỳ-kheo, này tỳ-kheo, tổ kiến này ban đêm bốc khói, ban ngày bùng cháy.
Vị bà-la-môn nói:
'Này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!'
Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một chướng ngại: 'Một chướng ngại, thưa ngài!' Vị bà-la-môn nói: 'Hãy dẹp bỏ chướng ngại; này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!' Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con ễnh ương: 'Một con ễnh ương, thưa ngài!' Vị bà-la-môn nói: 'Hãy dẹp bỏ con ễnh ương; này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!' Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con đường rẽ đôi: 'Một con đường rẽ đôi, thưa ngài!' Vị bà-la-môn nói: 'Hãy dẹp bỏ con đường rẽ đôi; này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!' Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một cái lọc tro: 'Một cái lọc tro, thưa ngài!' Vị bà-la-môn nói: 'Hãy dẹp bỏ cái lọc tro; này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!' Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con rùa: 'Một con rùa, thưa ngài!' Vị bà-la-môn nói: 'Hãy dẹp bỏ con rùa; này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!' Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con dao và một cái thớt: 'Một con dao và một cái thớt, thưa ngài!' Vị bà-la-môn nói: 'Hãy dẹp bỏ dao và thớt; này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!' Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một miếng thịt: 'Một miếng thịt, thưa ngài!' Vị bà-la-môn nói: 'Hãy dẹp bỏ miếng thịt; này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào!' Người khôn ngoan cầm gươm đào bới, thấy một con rắn hổ mang chúa: 'Một con rắn hổ mang chúa, thưa ngài!' Vị bà-la-môn nói: 'Hãy để yên con rắn hổ mang chúa, chớ chạm đến nó; hãy đảnh lễ con rắn hổ mang chúa!' Này tỳ-kheo, ông hãy đi đến Đức Thế Tôn mà hỏi những câu hỏi này; Đức Thế Tôn trả lời thế nào thì ông hãy ghi nhớ đúng như vậy. Này tỳ-kheo, trong thế giới này, cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, giữa đám đông gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, ta không thấy một ai có thể làm hài lòng tâm bằng cách trả lời những câu hỏi này, trừ Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, hoặc
một người đã nghe lại từ vị ấy."
Bạch Thế Tôn, vị trời ấy đã nói như vậy.
Nói xong, vị ấy biến mất ngay tại chỗ.
Bạch Thế Tôn, tổ kiến là gì? Sự bốc khói ban đêm là gì? Sự bùng cháy ban ngày là gì? Vị bà-la-môn là ai? Người khôn ngoan là ai? Thanh gươm là gì? Sự đào bới là gì? Chướng ngại là gì? Con ễnh ương là gì? Con đường rẽ đôi là gì? Cái lọc tro là gì? Con rùa là gì? Dao và thớt là gì? Miếng thịt là gì? Rắn hổ mang chúa là gì?
"Này tỳ-kheo, 'tổ kiến' là cách gọi tấm thân này, tấm thân do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sinh ra, được đắp bồi bằng cơm và cháo, có bản chất vô thường, hao mòn, chà xát, tan vỡ và hủy hoại.
[Chú thích: Như tổ kiến được tạo nên từ hoạt động ăn và thải, thân này cũng được tạo nên từ thức ăn. Thân, giống như tổ kiến, là chỗ ở của vô số sinh vật nhỏ.]
Này tỳ-kheo, ban ngày đã làm công việc gì, ban đêm lại nghĩ tới nghĩ lui, suy xét tới lui về việc ấy —
[Chú thích: Thức trắng đêm vì lo nghĩ chuyện làm ăn không phải là chuyện mới của thời nay.]
đây là sự bốc khói ban đêm.
Này tỳ-kheo, sau khi ban đêm nghĩ tới nghĩ lui, suy xét tới lui, ban ngày lại dấn thân vào công việc bằng thân, bằng lời nói, bằng ý —
đây là sự bùng cháy ban ngày.
Này tỳ-kheo, 'bà-la-môn' là cách gọi Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác.
Này tỳ-kheo, 'người khôn ngoan' là cách gọi một tỳ-kheo hữu học.
Này tỳ-kheo, 'thanh gươm' là cách gọi tuệ của bậc Thánh.
Này tỳ-kheo, 'sự đào bới' là cách gọi sự khởi lên tinh tấn.
Này tỳ-kheo, 'chướng ngại' là cách gọi vô minh.
'Hãy dẹp bỏ chướng ngại' nghĩa là 'hãy từ bỏ vô minh';
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào' — đó là ý nghĩa của câu ấy.
Này tỳ-kheo, 'con ễnh ương' là cách gọi sân hận và khổ não.
[Chú thích: Con ễnh ương gợi đến những người tu khổ hạnh phồng lên vì kiến chấp và tranh cãi.]
'Hãy dẹp bỏ con ễnh ương' nghĩa là 'hãy từ bỏ sân hận và khổ não';
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào' — đó là ý nghĩa của câu ấy.
Này tỳ-kheo, 'con đường rẽ đôi' là cách gọi hoài nghi.
'Hãy dẹp bỏ con đường rẽ đôi' nghĩa là 'hãy từ bỏ hoài nghi';
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào' — đó là ý nghĩa của câu ấy.
Này tỳ-kheo, 'cái lọc tro' là cách gọi năm triền cái, đó là:
[Chú thích: Như nước rỉ liên tục qua đồ lọc tro, tâm bị năm triền cái chi phối thì không thể dừng lại vững vàng bên trong. Tâm trong thiền định thì được ví với nước yên tĩnh, được giữ trong vật chứa.]
tham muốn dục lạc, sân hận, hôn trầm và thụy miên, trạo cử và hối hận, hoài nghi.
'Hãy dẹp bỏ cái lọc tro' nghĩa là 'hãy từ bỏ năm triền cái';
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào' — đó là ý nghĩa của câu ấy.
Này tỳ-kheo, 'con rùa' là cách gọi năm thủ uẩn, đó là:
[Chú thích: Năm uẩn là năm chi của con rùa, với thức là cái đầu. Chúng tượng trưng cho thế giới đang đổi thay của các pháp do nghiệp tạo ra, như con rùa là sức sáng tạo và sự sống của ba cõi.]
sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
'Hãy dẹp bỏ con rùa' nghĩa là 'hãy từ bỏ năm thủ uẩn';
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào' — đó là ý nghĩa của câu ấy.
Này tỳ-kheo, 'dao và thớt' là cách gọi năm dục công đức:
[Chú thích: Giác quan hoạt động khi đối tượng phá vào cơ quan, chẳng khác nào lưỡi dao trên thớt. Ta tìm cảm giác dễ chịu để che lấp bản chất vốn chao đảo của kinh nghiệm giác quan.]
những sắc do mắt nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái,
những âm thanh do tai nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái,
những mùi do mũi nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái,
những vị do lưỡi nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái,
những xúc do thân nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái.
'Hãy dẹp bỏ dao và thớt' nghĩa là 'hãy từ bỏ năm dục công đức';
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào' — đó là ý nghĩa của câu ấy.
Này tỳ-kheo, 'miếng thịt' là cách gọi niềm vui thích và tham muốn.
'Hãy dẹp bỏ miếng thịt' nghĩa là 'hãy từ bỏ niềm vui thích và tham muốn';
này người khôn ngoan, hãy cầm gươm mà đào' — đó là ý nghĩa của câu ấy.
Này tỳ-kheo, 'rắn hổ mang chúa' là cách gọi một tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc.
'Hãy để yên con rắn hổ mang chúa, chớ chạm đến nó; hãy đảnh lễ con rắn hổ mang chúa' — đó là ý nghĩa của câu ấy."
Đức Thế Tôn đã nói như vậy.
Tôn giả Kumārakassapa hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Kinh Tổ Kiến, bài thứ ba, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.